Tổng quan về chất lượng môi trường và tài nguyên sinh vật các đầm phá miền Trung - Pdf 22

Bộ KHOA HọC Và CÔNG NGHệ
Dự án 14 EE5
Hợp tác Việt Nam - Italia giai đoạn 2004 - 2006

nghiên cứu động thái môi trờng
đầm phá ven bờ miền trung việt nam
làm cơ sở lựa chọn phơng án quản lý
Cơ quan chủ trì:
Viện Tài nguyên và Môi trờng biển
(Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Chuyên đề

tổng quan về chất lợng môi trờng và
tài nguyên sinh vật các đầm phá miền Trung


CN. Đặng Hoài Nhơn Chuyên đề

tổng quan về chất lợng môi trờng và
tài nguyên sinh vật các đầm phá miền Trung
Chủ trì thực hiện
CN. Phạm Văn Thơm
CN. Nguyễn Xuân Hòa

Hải Phòng, 2006

1
Tổng quan về chất lượng môi trường và tài nguyên sinh vật
của các đầm phá miền Trung

về các vấn đề trên. I. Đầm Đề Gi:

Đầm Đề Gi còn có tên là đầm Nước Ngọt nhưng thực tế là đầm nước lợ, hình thành
từ lâu đời và có nguồn gốc hỗn hợp sông - biển. Đầm nằm trong khoảng tọa độ từ
109
o
07’42”E đến 109
o
10’30” E và 14
o
09’21” N đến 14
o
10’32” N, cách thị trấn Phù
Mỹ hơn 10 km về phía Đông, thuộc huyện Phù Cát và Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (hình
1).

Đầm chịu ảnh hưởng của thủy triều hổn hợp thiên về nhật triều, trong một tháng có
từ 18 đến 20 ngày nhật triều. Trong thời kỳ triều kém, mực nước triều lên xuống
không lớn, thường nằm trong khoảng 40-50 cm. Mực nước giữa thời kỳ triều cường
và nướ
c ròng có sự chênh lệch đáng kể.

Nhìn chung, mực nước trung bình trong các tháng mùa đông lớn hơn mùa hè một
phần là do ảnh hưởng của nước lục địa vào cuối thời kỳ mùa mưa lũ, một phần là do
ảnh hưởng của hiện tượng nước dâng do gió mùa Đông Bắc.
Theo Bùi Hồng Long, 2005, Đầm Đề Gi có hệ sinh thái nước lợ, các tính chất thủy lý,
thủy hóa, thủy sinh của đầm Đề Gi rất thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của
các giống loài thủy sản. Cụ thể một số chỉ tiêu môi trường như sau:

3
- Độ trong bình quân 0,5 – 1,5 m, vùng giữa đầm 2 – 2,5 m.
- Nhiệt độ nước của các tháng chênh lệch 5 – 7
0
C. Mùa nóng nnhiệt độ trung bình
của nước 28 – 31
0
C, các tháng VII và VIII nhiệt độ nước 31 – 32
0
C, các tháng I và II
nhiệt độ nước 25 – 27
0
C.
- Nồng độ muối biến đổi theo mùa và theo khu vực. Vùng giữa đầm đến cửa Đề Gi
mùa mưa dao động trong khoảng 15 – 25‰, mùa khô trong khoảng 25 – 32‰. Vùng
giáp cửa sông mùa khô độ mặn 15 – 20‰, mùa mưa 5 – 10‰.
- Độ pH trong toàn vùng dao động trong khoảng 6,2 – 7,8.
- Lượng oxy hòa tan từ 3,52 – 7,09 mg/l, trung bình 5,2 mg/l.
- giá trị BOD dao động trong khoảng 0,5 – 2,7 mg/l.
- Hàm lượng phosphat nằm trong khoảng 0,072 – 0,1 mg/l.
- Hàm lượng ammonia dao động trong khoảng 0,043 – 0,05 mg/l.
- Hàm lượng silic thay đổi trong khoảng 2,05 – 3,97mg/l.
Lượng thuốc bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp ở vùng quanh đầm hòa tan
trong nước vào đầm không đáng kể. Lượng dầu mở thải ra từ các tàu thuyền, trạm
bơm, máy móc… chưa gây tác hại nghiêm trọng cho môi trường nước trong đầm
.

Các loài Cymodocea serrulata và Thalassia hemprichii thường phân bố ưu thế ở
vùng hạ đầm vùng g
ần cửa, nơi có độ mặn cao từ 25- 34‰.

Độ phủ của thảm cỏ Zostera japonica dao động từ 76 - 100%, mật độ cây từ 4500 –
6.00 cây/m
2
.

4
Độ phủ của thảm cỏ Halodule uninervis từ 51- 75%, mật độ từ 1.425- 4.700 cây/m
2
.
Độ phủ của thảm cỏ Cymodocea serrulata từ 30- 50%, mật độ dao động từ 280- 360
cây/m
2
.
Độ phủ của thảm cỏ Thalassia hemprichii trong đầm từ 30- 50%, mật độ từ 285- 380
cây/m
2
(Nguyen Xuan Hoa, 2001, 2003, Viện kinh tế và quy hoạch(Bộ Thủy sản) và
Sở Thủy sản tỉnh Bình Định, 1995, Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân
Hòa, 2004).

- Vùng đáy mềm: Vùng đáy mềm có diện tích lớn nhất trong đầm, là nơi phân bố
quan trọng của nhiều loài Thân mềm, Giáp xác.

2. Tính đa dạng loài:

Các tài liệu điều tra từ 1994- 2003 cho thấy:

Nguồn lợi hải sản các loại đánh bắt được trong đầm Đề Gi vào khoảng 300 - 500
tấn/năm. Trong đó Tôm, Cua, Ghẹ chiếm khoảng 30 - 50 tấn/năm, cá Cơm khoảng 40
- 70 tấn/năm, cá Mai 30 - 40 tấn/năm, cá Măng 40 - 50 tấn/ năm, cá Đối 40 - 60 tấn/
năm, cá Dìa 10- 30 tấn/năm, cá tạp khác khoảng 80 - 150 tấn/năm. Đầm Đề Gi còn là
nơi có nguồn giống cá Măng rất phong phú.

Nguồn lợi Thân mềm (chủ yếu là Hai mảnh vỏ) trong đầm khai thác được khoảng 30 -
40 tấn/năm, đáng chú ý là sự phong phú của Sò huyết và Hàu.

5
Nguồn lợi hải sản trong đầm Đề Gi đang suy giảm do khai thác quá mức, các phương
tiện khai thác hủy diệt vẫn còn lén lút hoạt động (Nguyễn Trọng Nho, 1994, Nguyễn
Văn Lục, Nguyễn Tác An, Nguyễn Phi Uy Vũ, Lê Thị Thu Thảo, Trần Văn Lang,
Nguyễn Thị Liên, 2004).

II. Đầm Thị Nại

Đầm Thị Nại (109
o
08’53”E-109
o
22’15” E và 13
o
35’37”N-13
o
53’39”N) thuộc khu vực
quản lý của thành phố Quy Nhơn, huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát tỉnh Bình
Định. Đầm tương đối kín và trãi dài theo phương Bắc - Nam, chiều dài khoảng 12
km, chiều rộng khoảng 4 km, cửa Quy Nhơn thông ra biển có chiều dài 500 mét, lạch
sâu từ 3 đến 9 mét. Mạng lưới sông suối đổ ra đầm khá dày đặc trong đó hai con

C; vào tháng
6/2001 ở tầng mặt là 28 – 29,5
0
C và tầng đáy là 26 – 28
0
C. Các tháng chênh lệch
nhau từ 5 – 7
o
C, mùa nóng nhiệt độ dao động từ 28 – 31
oc
, vùng nước sâu từ 27 –
29
o
C.
- Độ mặn vào tháng 12/2000 là 0 – 12,5‰ ở tầng mặt, và 0,5 - 28‰ ở tầng đáy; vào
tháng 6/2001 đạt giá trị 6 - 32‰ ở tầng mặt và 5,7 – 32,8‰ ở tầng đáy. Theo kết quả
theo dõi nhiều năm tại đầm thì độ mặn trung bình toàn đầm là 21,8‰ , dao động từ
4,5‰ tới 32,2‰.
Nhìn chung, độ mặn đều có xu thế giảm dần từ cửa đầm đến đỉnh đầm. Tầng nước
mặt có độ mặn thấp và biên độ dao
động lớn hơn lớp nước gần đáy. Vùng đỉnh đầm,
mùa khô thường có độ mặn từ 5-20‰, mùa mưa chỉ 3-10‰, nhưng trong những
ngày mưa lũ lớn, tầng mặt hầu như ngọt hoàn toàn. Vùng giữa đầm và cửa đầm
thông với biển, mùa khô có độ mặn 25-32‰, còn mùa mưa độ mặn giảm xuống 10-
25‰, những ngày lũ lớn độ mặn có thể xuống dưới 10‰, nhưng chỉ trong thờ
i gian
ngắn, độ mặn lại tăng cao trở lại.
- Độ pH của nước trong đầm Thị Nại dao động 7,2 – 8,2. Các tháng mùa mưa
thường thấp hơn mùa khô là do nước mưa lũ rửa trôi nước từ nội đồng ra đầm. Độ
pH ở tầng nước đáy thường ổn định hơn tầng nước mặt.

bình 19 µg/l; trong nước tầng đáy chúng dao động từ 10 – 120 µg/l; trung bình 23
µg/l. Vào mùa mưa hàm lượng ammonia trong nước tầng mặt dao động trong
khoảng 40 – 70 µg/l; trung bình 52 µg/l; trong nước tầng đáy khoảng dao động là 44
– 80 µg/l; giá trị trung bình 56 µg/l.
- Hàm lượng silic hòa tan trong cả 2 chuyến khảo sát đều cao ở đỉnh đầm và giảm
dần khi ra cửa đầm.
- Mật độ coliform trong nước tầng m
ặt dao động từ 3 đến 13 tế bào/ml; trung bình 7
tế bào/ml vào mùa khô. Vào mùa mưa thông số này dao động trong khoảng 7 – 35
bào/ml; trung bình 9 bào/ml. Nhìn chung, mật độ coliform trong nước thường cao ở
các cửa sông và vào mùa mưa.

Gần đây tỉnh Bình Định có ý định qui hoạch Cồn Chim thành một khu bảo tồn và do
đó một số chuyến khảo sát chất lượng môi trường nước và trầm tích đã được tổ
chức trong vùng nước lân cận cồn này vào tháng 4 năm 2003 (thu 12 mẫu nước
tầ
ng mặt) và tháng 1 năm 2004 (thu 3 mẫu nước và 3 mẫu trầm tích).
Từ kết quả phân tích các mẫu nói trên một đánh giá sơ bộ về chất lượng môi trường
nước và trầm tích đã được đưa ra (Phạm Văn Thơm, 2004).

Môi trường nước: a. Trong khu vực nghiên cứu hàm lượng ammonia và nitrite chỉ đáng kể vào mùa
mưa, hàm lượng muối nitrate tương đối cao (nhiều giá trị ghi nhận được cao hơn
mức cho phép (100µg/l) nhưng hàm lượng muối phosphate thấp (không có hàm
lượng nào lớn hơn giá trị tới hạn 15µg/l, bảng 2). Do đó tỉ số mol nitrat/phosphat
(14.73 – 53.78, trung bình 38.47 vào tháng 4; 34.05 – 44.20, trung bình 37.53)
thường lớn hơn chỉ số Redfield (17). Như vậy trong vực nước này P đóng vai trò yếu
tố dinh dưởng giới hạn (limiting nutrient) rất rõ ràng,


Bảng 1: So sánh chất lượng môi trường nước ở Cồn Chim
với toàn đầm Thị Nại (COD và muối dinh dưởng) Khu Thông
COD NO
2
-N NH
3
-N NO
3
-N PO
4
-P SiO
3
-Si
vực số (mg/l) (µg/l) (µg/l) (µg/l) (µg/l) (µg/l)
Cồn Chim Khoảng DĐ 11.80-22.70 0.5-2.8 vết 78-150 4.5-12.0 399-1582
(4-2003) TB 17.55 1.4 117 7.3 784
n 11
11
11 11 11 11
Cồn Chim Khoảng DĐ 12.50-14.00 9-11 10-24 129-160 8.0-9.8 4470-4850
(11-2003) TB 13.33 9.6 15.3 147 8.7 4683
n 3 3 3 3 3 3
Thị Nại Khoảng DĐ 3.90-13.30 8.6-12.8 40-76 158-220 9.5-23.3 3425-5030
(12/2000) TB 6.88 10.5 55 179.8 16.08 4096
n 5 5 5 5 5 5


trị Coliform Vibrio Coliform Vibrio
Trung bình 21467 1433 220000 2400
Cực tiểu 16800 1000 274000 9600
Cực đại 25900 1800 238333 6967 Môi trường trầm tích:

Môi trường trầm tích không có sự tập trung quá cao của vật chất hữu cơ. Vào mùa
khô mức độ tích lũy của phosphat trong trầm tích thấp hơn mùa mưa (tỉ số mol N/P
trong trầm thay đổi từ 2.67 đến 5.74, trung bình 4.46 vào mùa khô đến 2.76-3.89,
trung bình 3.44 vào mùa mưa. Các tỉ số này lớn hơn một chút so với các vùng biển
ven bờ khác

Mức độ nhiểm kim loại nặng trong trầm tích không cao. Các số liệu phân tích cho
thấy Zn và Pb là hai kim loại n
ặng có hàm lượng cao nhất. Mức độ tích lũy của Pb
trong trầm tích (theo số liệu tháng 4 năm 2003) không cao.

Các kết quả vừa nêu trên cho thấy:

- Ảnh hưởng của sông phù hợp cho việc phục hồi rừng ngập mặn ở Cồn Chim;

- Chất lượng nước trong ao nuôi hiện có tương đối tốt (trừ hiện tượng nhiểm vi sinh
vật nhóm vibrio), khu vực nuôi dự kiến có sự cấp nước ngọt tốt;

- Nguồn cung cấp thức ăn cho vật nuôi (thân mềm) tại 2 khu vực phía tây và nam có
thể kém hơn khu vực phía đông; tuy nhiên tình hình có thể thay đổi theo mức phục
hồi rừng ngập mặn và qui hoạch cụ thể cũng như hoạt động của khu thực nghiệm;
chất lượng nguồn nước cấp từ hai bờ đông và tây của khu thực nghiệm và phục hồi

phố Quy Nhơn trước khi đổ ra đầm Thị Nại, giá trị BOD
5
lên đến 280 mgO
2
/l cao hơn
tiêu chuẩn cho phép tới 6 lần. Ước tính, hàng năm đầm Thị Nại phải gánh nhận
khoảng 4950 tấn BOD, 495 tấn N và 74 tấn P. Đây là một trong những nguồn chính
gây ô nhiễm vùng ven bờ, phì hóa vực nước. Đặc biệt đầm Thị Nại là một thủy vực
trao đổi nước yếu, sức tải thấp nên khả năng tự làm sạch không cao tác động ô
nhiễm do sinh hoạt sẽ càng lớn hơn. Theo kế
hoạch phát triển kinh tế của Tỉnh, khu
công nghiệp và đô thị mới Nhơn Hội sẽ hình thành và đi vào hoạt động và tạo một áp
lực rất lớn lên môi trường không những ở khu vực phía Đông (như hiện nay) mà cả
ở phía Tây (trong tương lai gần).

* Ô nhiễm do công nghiệp : Đa số các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đều
tập trung tại TP. Quy Nhơn. Chất thải và nước th
ải từ các cơ sở này (chưa được xử
lý triệt để, thậm trí không qua xử lý) là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường nước mặt,
nước ngầm và cả môi trường đất. Ngành chế biến thủy sản là một trong những
ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh, nhưng cũng là nơi có nguồn nước thải
rất lớn, trên 500 m
3
/ngày. Các cơ sở chế biến thủy hải sản trong tỉnh đều đã có hệ
thống bể thu gom và xử lý nước thải, tuy nhiên hiệu quả chưa thật cao. Theo thống
kê của tỉnh, mỗi ngày có khoảng 100.000m
3
nước thải từ các cơ sở

công nghiệp, tiểu

11
vực ngày càng phát triển (như sự hình thành và phát triển khu kinh tế mở Nhơn Hội)
và tai biến môi trường thường xảy ra ở bờ tây của đầm.

Hình : Sơ đồ phân vùng khả năng tổn thương và nhạy cảm môi trường đới ven bờ đầm
Thị Nại (Tống Phước Hoàng Sơn, 2005) 12
B. Tính đa dạng sinh học

Đầm Thị Nại là nơi có tính đa dạng sinh học cao. Các hệ sinh thái như rừng
ngập mặn, thảm cỏ biển và vùng đáy mềm đã tạo điều kiện thuận lợi cho nơi cư
trú, kiếm ăn, sinh sản của các loài thủy sản, trong đó có nhiều loài thủy sản có
giá trị. Nguồn lợi thủy sản trong đầm khá phong phú được đánh bắt quanh năm
và là sinh kế quan trọng củ
a bộ phận cư dân sống ven đầm.

1. Tính đa dạng hệ sinh thái

- Rừng ngập mặn: Trước năm 1975 có khoảng 1.000 ha rừng ngập mặn phân bố ven
đầm. Do bị chặt phá lấy đất xây dựng khu dân cư, làm nông nghiệp, đường xá, và
nhất là xây dựng các ao đầm nuôi trồng thủy sản nên diện tích rừng ngập mặn
trong đầm đã giảm nhanh, hiện nay chỉ còn khoảng 50 ha cây ngập mặn phân bố rãi
rác ở dọc theo bờ sông, lạch và ven bờ ao đìa nuôi Tôm
ở vùng đỉnh đầm, vùng Cồn
Chim và vùng phía tây đầm Thị Nại. Gần đây một số nơi trong đầm đang tiến hành

lanata (Mắm quăn), Nypa fruticans (Dừa nước), Bruguiera gymnorhiza (Vẹt dù),
Lumnitzera racemosa (Cóc vàng), Thespesia populnea (Tra biển) cũng thường gặp
(Nguyen Xuan Hoa, 2003; Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Hòa, 2004).
.

C
ỏ biển trong đầm Thị Nại gồm 5 loài: Zostera japonica, Halodule uninervis, Halophila
beccarii, Halophila ovalis và Thalassia hemprichii. Loài Zostera japonica chiếm ưu
thế nhất và làm thành những thảm cỏ có diện tích lớn.
Đã giám định 185 loài thực vật nổi, trong đó tảo khuê có 156 loài chiếm 83,8%. Các
chi Tảo thường gặp nhất là Chaetoceros 29 loài, Rhizosolenia 23 loài, Bacteriastrum

13
8 loài (Nguyen Xuan Hoa, 2003; Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Hòa,
2004).
Rong biển có khoảng 128 loài, trong đó rong đỏ chiếm 50 loài, rong nâu: 34 loài, rong
lục: 31 loài, rong lam: 13 loài. Các chi rong thường gặp có sinh lượng lớn là:
Gracillaria, Hypnea, Gelidium, Padina, Enteromorpha (Nguyễn Trọng Nho, 1994).

- Động vật:

Động vật nổi có 58 loài, trong đó Copepoda ưu thế nhất, 46 loài chiếm 79,3%. Các
nhóm Cladocera, Amphipoda, Rotatoria bắt gặp ít.

Động vật đáy có 191 loài, gồm động vật thân mềm: 100 loài, động vật chân khớp: 71
loài, giun: 10 loài và động vật ruộ
t khoang: 11 loài.

Đã giám định được 116 loài Cá thuộc 15 bộ, trong đó bộ cá Vượt (Perciformes) có số
loài nhiều nhất: 64 loài, tiếp đến là bộ cá Trích (Clupcfiformes): 11 loài, cá Đối: 8 loài,

năm khoảng 400- 500 tấn. Sản lượng khai thác Tôm trong đầm từ 200- 250 tấn/nă
m.
Động vật thân mềm có giá trị kinh tế như Phi (Sanguinolaria minor), Ngao dầu
(Meretrix meretrix), Sút (Anomalocardia spp.), khá phong phú được khai thác quanh
năm (Nguyễn Trọng Nho, 1994). Chỉ riêng khu vực Cồn Chim (đầm Thị Nại) sản
lượng Cá khai thác hằng năm vào khỏang 36 tấn. Những loài Cá có giá trị kinh tế
cao, sản lượng lớn là: cá Đối (10 tấn/năm), Cá Bống (7 tấn/năm), Cá Liệt (4 tấn/năm),
cá Móm (3 tấn/năm), cá Giò (3 tấn/năm), Cá Chua (1 tấn/năm), Cá Mòi (1 tấn/n
ăm).
Ngoài ra ở Cồn Chim còn khai thác được Cá Mú, cá Chẽm, cá Hồng nhưng sản
lượng ít. Nguồn lợi Giáp Xác thường tập trung vào những lòai có kích thứơc lớn như

14
Tôm với 3 loài chủ yếu là tôm sú, tôm bạcthẻ và tôm rảo đất; Cua chủ yếu thuộc 2
loài cua xanh và cua bùn; Ghẹ hoa và ghẹ cát.

Tổng sản lượng khai thác hàng năm riêng ở ở khu vực Cồn Chim vào khoảng 75 tấn.
Trong đó Tôm các lọai (15 tấn/năm), Cua (40 tấn/năm), Ghẹ (18 tấn/năm). Sản lượng
các loài Thân Mềm khai thác hàng năm ở vùng Cồn Chim cũng đóng vai trò quan
trọng. Đáng chú ý là các loài Hầu (Crasoostrea spp), Ngao (Meretrix meretrix, M.
lusoria), Riêng ở Cồ
n Chim và vùng nước lân cận cho sản lượng khai thác hàng
trăm tấn/năm. Một số đối tượng khai thác chính như Sút (120 tấn/năm), Phểnh (25
tấn/năm), Don (450 tấn/năm.

Đầm Thị Nại còn là nơi tập trung nguồn giống thủy sản quan trọng của các loài Giáp
xác và Thân Mềm. Kết quả nghiên cứu ở Cồn Chim (đầm Thị Nại) cho thấy nguồn
giống Giáp xác trung bình là 440 cá thể/m
3
. Thành phần nguồn giống ở đây chủ yếu

Đầm Châu Trúc thông ra biển qua cửa Hà Ra. Trước khi đổ ra biển nước đầm phải di
chuyển trên một lòng dẫn hẹp và uốn khúc gọi là sông Châu Trúc với chiều dài
khoảng 5 km. Cửa Hà Ra chỉ mở tạm thời 2- 3 tháng trong mùa lũ và bị lấp kín trong
các tháng mùa khô. Do vậy, đầm hoạt động như một hồ chứa, điều tiết n
ước cho toàn
lưu vực của đầm. Đầm Châu Trúc là loại hình đất ngập nước Đầm tự nhiên ven biển
(J) với tiêu chuẩn Ramsar: 1a, 2b, 3b, 4b.
Đầm Châu Trúc có vai trò hết sức quan trọng trong việc cân bằng nước trong vùng,
là nguồn cấp nước cho sản xuất nông nghiệp địa phương - nhất là trong những
tháng hè. Vai trò nổi bật của đầm là nguồn lợi thuỷ sản đảm bảo thực phẩm cho
nhân dân sống quanh đầm.

A. Chất l
ượng môi trường

Hiện có rất ít các nghiên cứu về chất lượng môi trường được triển khai trong khu vực
này. Các kết quả khảo sát vào tháng 2 và tháng 8 năm 1996 (Đặng Trung Thuận,
Nguyễn Cao Huấn, Trương Quang Hải, Vũ Trung Tạng, 2000) có lẽ là những dẫn liệu
duy nhất liên quan đến vực nước này.
Các kết quả này cho thấy: 15
- nước đầm ngọt ở phần thân đầm chính nằm ở phía Nam, chuyển tiếp từ từ sang
nước lợ từ đoạn phía Bắc đầm cho tới đập ngăn mặn, từ đập ngăn mặn ra cửa Hà
Ra độ muối tăng lên. Nhìn chung, trong phần chính của đầm nước hầu như ngọt
quanh năm;
- độ đục của đầm phụ thuộc vào độ xáo trộn do
ảnh hưởng của gió và dòng chảy và
có giá trị khá cao (khoảng 100 NTU).

Hình 4: Đầm Châu Trúc (Trà Ổ)

16
B. Đa dạng sinh học

1. Tính đa dạng sinh học
- Thực vật:
Đã xác định được 73 loài thực vật nổi thuộc 4 ngành: Khuẩn lam
(Cyanobacteriophyta), Tảo Mắt (Euglenophyta), Tảo Lục (Chlorophyta) và Tảo Silic
(Bacillariophyta). Tảo Silic phong phú nhất chiếm 41% tổng số loài, tiếp theo là Tảo
Lục, Khuẩn Lam và Tảo Mắt.
Bước đầu xác định được 31 loài thực vật kích thước lớn sống trong đầm bao gồm
Rong đa bào ( Enteromorpa, Chara), các loài thuộc dương xỉ (chua me, bèo ong, bèo
tấm…), th
ực vật một lá mầm (nghể, súng) và 2 lá mầm (rong nhám, cỏ hẹ, lục bình,
sậy, cói…). Các loài rong lá hẹ, rong lá tre, rong đuôi chồn chiếm ưu thế, phát triển
dày đặc, phủ kín hết diện tích đầm với sinh khối 5- 8 kg/m
2
(Đặng Trung Thuận,
Nguyễn Cao Huấn, Trương Quang Hải, Vũ Trung Tạng, 2000, Vũ Trung Tạng, 1999).

- Động vật:

Bước đầu đã ghi nhận được 33 loài Động vật nổi và 19 loài Động vật đáy sống trong
đầm. Tổng số loài Cá trong đầm là 67 loài thuộc 28 Họ và 12 Bộ Cá. Trong thành phần
các loài Cá, Bộ Perciformes có số loài đông nhất, thứ 2 là Bộ Cypriniformes (1). Hiện
tại số loài Cá trong Đầm còn 38 loài thuộc 20 Họ của 10 Bộ với sự ưu thế của Bộ Cá
Chép (39,5% tổng số loài) và mang tính chất điển hình của khu hệ Cá nước ngọ
t (Vũ
Trung Tạng, 1999).

17
Chình Mun như một đặc sản, ít vùng trong nước có được. Nguồn lợi Cá Chình đang bị
giảm sút nghiêm trọng do bị khai thác quá mức, việc xây dựng đập ngăn mặn Hòa Tân
đã gây ảnh hưởng mạnh đến đường di cư của cá Chình từ cả 2 phía sông- biển và
biển – sông (Đặng Trung Thuận, Nguyễn Cao Huấn, Trương Quang Hải, Vũ Trung
Tạng, 2000, Vũ Trung Tạng, 1999).

IV. Đầm Cù Mông

Đầm Cù Mông nằm ở phía bắc Huy
ện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, trong khoảng tọa độ
13
0
31’- 13
0
34’ vĩ độ bắc, 109
0
16’- 109
0
18’ kinh độ đông. Đầm có diện tích khoảng
2.655 ha, chạy dọc theo ven biển từ bắc xuống nam, kéo dài trên 17 km và thông với
biển thông qua một cửa hẹp (hình 5). Đáy đầm Cù Mông tương đối bằng phẳng, khu
vực đỉnh và cửa đầm có độ dốc thoai thoải từ bờ ra tạo thế lòng chảo. Đáy đầm Cù
Mông được phủ bởi cát, cát bùn và bùn cát, trong đó bùn cát là chất đáy chủ yếu. Độ
sâu trung bình của đầm khoả
ng 2m, sâu nhất là khu vực cửa đầm thông với biển đạt
trên 5m. Đây là đầm ven biển bị cồn cát ngăn lấn ở phía đông, vẫn chịu ảnh hưởng
của thủy triều. Phần lớn diện tích đầm chịu ảnh hưởng của nội đồng, đất nước lợ
nhiều hơn nước mặn. Đầm có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nuôi trồng và
đánh bắt hả


- Hàm lượng của Mn và Cu rất thấp so với mức cho phép,

Trị giá thố
ng kê của các thông số chất lượng nước tại các khu vực nói trên được
trình bày trong bảng 1.

Tóm lại, có thể nói là hiện trạng môi trường của Đầm Cù Mông còn khá tốt. Chỉ có
hiện tượng nhiểm bẩn nhẹ chất hữu cơ và Zn, hàm lượng ammonia cũng thường đạt
giá trị cao.
Ngoài ra, kết quả phân tích 2 mẫu nước cho thấy mức độ nhiểm bẩn hydrocarbon
không cao.
Các đặc điểm dinh dưỡng của môi trường nướ
c (hàm lượng nitrate và phosphate
thấp hơn mức cho phép, tỉ số N/Si < 1) cho thấy khó có khả năng xảy ra các tai biến
môi trường liên quan đến tảo silic cũng như tảo gây hại. Đây là một tiền đề rất thuận
lợi cho việc qui hoạch và khai thác bền vững hai vực nước này.

Bảng 1: Các thông số chất lượng nước đầm Cù Mông
Mùa mưa
Yếu tố
Tầng
Giá
trị
pH COD NH
3
-N
NO
2
-N

Nước CĐ
7.75 8.50 15 2.30 67 6.5 188 11.7 2.1 53 1.0
CT
8.05 19.70 85 6.50 113 14.5 821 28.5 3.7 315 20.0
n
13 13 11 12 13 13 13 13 13 13 13 Mùa khô

Yếu tố
Tầng
Giá
trị
pH COD NH
3
-N
NO
2
-N
NO
3
-N
PO
4
-P
SiO
3
-Si
Zn Cu Fe Mn

90
12345678910
Trạm
COD-ammonia-Zn-
phosphat
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
silicat-Fe-nitrat
COD (mg/l) NH3-N (mg/l) Zn (mg/l) PO4-P (mg/l)
SiO3-Si (mg/l) Fe (mg/l) NO3-N (mg/l)20Mùa khô (tháng 5-2000)
0.00
10.00
20.00
30.00
40.00
50.00

phủ của thảm cỏ Enhalus acoroides trong đầm dao động từ 30- 60%, mật độ từ 40-
100 cây/m
2
.
- Vùng đáy mềm: Chiếm diện tích lớn nhất trong đầm.

2. Đa dạng loài

Đã xác định có 28 loài rong phân bố trong đầm, phổ biến là Rong bún
(Enteromorpha), Rong mềm (Chaetomorpha), Rong Quạt (Padina), Rong
Acanthopora, Lorencia, Rong câu (Gracilaria)

Thành phần loài cây ngập mặn chưa được khảo sát kỹ. Tuy nhiên những loài cây
ngập mặn mọc phổ biến ven đầm là: Rhizophora apiculata (Đước), Avicennia
officinalis (Mắm đen), Avicennia alba (Mắm trắng), Excoecaria agallocha (Giá)
21
Có 7 loài cỏ biển phân bố trong đầm là: Cymodocea rotundata, Enhalus acoroides,
Halodule uninervis, Halophila minor, Halophila ovalis, Halophila sp., Thalassia
hemprichii.

Thân mềm có 21 loài, Giáp xác có 35 loài, Da gai có 7 loài và Cá có 45 loài (Nguyễn
Trọng Nho, 1994).

C. Nguồn lợi:

Rong Câu mọc tự nhiên trong đầm nhưng sản lượng không lớn. Tôm là nguồn lợi
quan trọng nhất trong đầm với sản lượng khai thác hàng năm khoảng 20- 30 tấn.


Đầm Ô Loan là loại hình đất ngập nước Đầm tự nhiên ven biển (J) với tiêu chuẩn
Ramsar: 1a, 2b, 3b, 4b.

A. Chất lượng môi trường

Theo Bùi Hồng Long, 2005:
- Nhiệt độ nước trong đầm tương đối cao và ổn định, theo số liệu thống kê nhiệt độ
nước vào tháng 6 là 30,99
0
C và vào tháng 4 là 30,07
0
C, nhiệt độ nước thấp nhất vào
tháng 1 là 23,73
0
C.
- Nồng độ muối ở đầm Ô Loan biến đổi theo mùa khá rõ rệt. Độ muối trung bình
trong năm là 26,8‰. Mùa khô, độ mặn trung bình dao động từ 29,91 - 38,98‰, cao

22
nhất vào tháng 7 là 38,98‰, xu thế phân bố độ mặn trong mùa này là hai đầu phía
Nam và phía bắc đầm có độ mặn cao, còn vùng giữa đầm có độ muối thấp hơn. Mùa
mưa độ mặn trung bình dao động từ 1,07 - 2,78 ‰, thấp nhất vào tháng 1 độ mặn
chỉ 1,07‰. Biên độ dao động độ mặn giữa các tháng trong năm rất lớn từ 1,07 -
38,98‰. Sự dao động độ mặn lớn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ sinh
vật trong đầm.
- Hàm lượng oxy hòa tan của các tháng dao động từ 3,4 - 6,8 ml/l, trung bình khoảng
5ml/l. Độ bão hòa không khí thường dao động khoảng 100%.
- Độ pH của nước dao động trong khoảng 7,91 - 8,25. Nhìn chung, trong các tháng
trong mùa khô độ pH cao hơn và tương đối ổn định, cao nhất vào tháng 4 là 8,23.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status