Phân tích và đánh giá mức độ kiềm chế tài chính tại Việt Nam hiện nay - Pdf 22

Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 1
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN
TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI 1:
“Phân tích và đánh giá mức độ kiềm chế tài chính tại Việt Nam hiện nay.”
Giảng viên : TS. Đặng Anh Tuấn
Lớp : CH 19A
Hệ : CAO HỌC
Học viên thực hiện: Phùng Thị Minh Phúc
Bùi Thị Thu Hường
Vũ Quỳnh Trang
Vũ Hải Linh
Hà Nội - 2011
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 2
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
MỤC LỤC
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo sự thay đổi của nền kinh tế
Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy
sôi nổi và cạnh tranh gay gắt, các vấn đề về lãi suất và lạm phát là những vấn đề nổi
cộm, luôn được nhắc đến đòi hỏi Chính phủ phải hành động, tham gia vào các cuộc
chiến chống lạm phát, chạy đua lãi suất. Với mục tiêu giữ vững tăng trưởng kinh tế,
kiểm soát lãi suất, giảm lạm phát, … thời gian qua Việt Nam đã thực hiện nhiều biện
pháp kiềm chế tài chính. Tuy nhiên, hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về

thống tài chính chính thức.
Lý do chính để chính phủ thi hành chính sách kiềm chế tài chính là nhằm kiểm
soát nguồn lực tài chính. Bằng cách kiểm soát trực tiếp lên toàn bộ hệ thống tài chính,
chính phủ sẽ chủ động rót vốn mà không cần thông qua những thủ tục pháp lý đồng
thời có thể tiết kiệm hơn so với việc tìm nguồn cung cấp từ thị trường. Việc theo đuổi
kiềm chế tài chính xuất phát từ những đòi hỏi và mong muốn của Nhà nước về nguồn
tài chính để đảm bảo một tỷ lệ tăng trưởng cao,tỷ lệ thất nghiệp thấp cũng như mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội khác. Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc cao là để đảm bảo khả năng
tài trợ của các ngân hàng đối với nhu cầu tài chính của Nhà nước hơn là một cơ cấu
quản lý lưu thông tiền tệ và các hoạt động cung cấp tín dụng. Bằng cách giới hạn hành
vi của những người gia nhập thị trường hiện tại và tiềm năng, chính phủ có thể tạo ra
sự độc quyền hoặc những hoạt động tín dụng cho vay cho các ngân hàng và đồng thời
đánh thuế lên một số khoản cho vay này để hỗ trợ cho ngân sách của mình. Những
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 4
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
ngân hàng đang sẽ cố gắng hợp tác với nhau để phá vỡ những chính sách tự do hóa
đang tồn tại chừng nào mà họ còn được bảo đảm về vị trí độc quyền trong thị trường
nội địa.
2. Các công cụ kiềm chế tài chính
Nhìn chung công cụ kiềm chế tài chính chủ yếu là những biện pháp kiểm soát
lãi suất nói chung và đặc biệt là những kiểm soát đưa đến kết quả lãi suất tiền thực tiền
gửi âm. Kết quả là các mức lãi suất thực tế bị bóp méo khác với mức lãi suất cân bằng
trong một thị trường tiền tệ cạnh tranh. Sự kiềm chế có thể được mở rộng liên quan
đến những hạn định của chính phủ nhằm kìm hãm sự phát triển của các tổ chức và
công cụ tài chính, dẫn đến một thị trường tài chính không đầy đủ và phân tán.
Có thể xác định ba hình thức kiểm soát lãi suất chủ yếu theo quy định là: trần
lãi suất tiền gửi danh nghĩa; trần lãi suất cho vay danh nghĩa; trần cho cả lãi suất tiền
gửi và lãi suất cho vay danh nghĩa. Về tổng quát, kiểm soát lãi suất dường như được
áp đặt với mục đích khuyến khích đầu tư. Nếu lãi suất cho vay được giữ ở mức thấp,

). Do đầu tư là một yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng,
nên tác động của lãi suất bị kiểm soát là hạn chế tốc độ tăng trưởng. Chênh lệch giữa
lãi suất cho vay và lãi suất đi vay (r
i
– r
c
) sẽ mang lại cho các trung gian tài chính lợi
nhuận cao hơn, mặc dù khối lượng hoạt động của họ sẽ thấp hơn ở trạng thái cân bằng.
Nếu lãi suất cho vay kiểm soát ở mức r
l
thấp hơn r
i,
khi đó các trung gian tài
chính sẽ không đủ tiền gửi để đáp ứng cầu đi vay ở mức lãi suất r
l
. Cầu đi vay để đầu
tư là I
l
, mức cầu không được thỏa mãn sẽ là (I
l
–I
c
). Với lãi suất cho vay bị kiểm soát,
các trung gian tài chính phải định mức tín dụng bằng những phương tiện khác ngoài lãi
suất. Do đó, họ có khuynh hướng ưu ái những người đi vay có độ an toàn cao hay uy
tín đã được thiết lập. Thứ hai, các tổ chức này thiên về những dự án có độ rủi ro thấp,
với suất sinh lợi tương đối thấp, vì họ không phải tính một khoản phí rủi ro nhằm bù
lại rủi ro của dự án. Kết quả là các dự án có độ rủi ro cao, suất sinh lợi cao và các dự
án của các doanh nghiệp trẻ đề ra sẽ khát vốn. Tác động này có thể làm hạn chế tốc độ
tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra chính phủ có thể kiềm chế bằng sở hữu nhà nước hoặc kiểm soát đối
với hoạt động ngân hàng; hạn chế gia nhập của các tổ chức tài chính mới, đặc biệt các
tổ chức tài chính từ nước ngoài.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 7
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
3. Tác động của kiềm chế tài chính
Lý thuyết cho rằng nền kinh tế với hệ thống tài chính hiệu quả sẽ phát triển và
gặt hái nhiều thành công nhờ vào phân phối nguồn vốn hiệu quả. Tuy nhiên, có người
đã phản bác lại điều này vì theo họ trong lịch sử từ trước đến nay, những quốc gia phát
triển và đặc biệt những quốc gia đang phát triển đã ngăn chặn sự cạnh tranh trong các
lĩnh vực tài chính với sự can thiệp và chính sách của chính phủ. Theo lí giải của các
nhà khoa học, một lĩnh vực tài chính bị kiềm chế sẽ gây cản trở với cả việc tiết kiệm
và đầu tư vì tỷ lệ lãi suất sẽ thấp hơn với những gì có thể đạt được trong một thị trường
cạnh tranh. Điều này có nghĩa là sự phát triển của các tài sản và nợ tài chính bị hạn
chế, và cũng có nghĩa là sự phát triển của các tổ chức và công cụ tài chính bị cấm
đoán. Tình trạng này được mô tả như là tài chính nông cạn, được đo lường bằng tỷ
trọng của giá trị tài sản tài chính với những biến số kinh tế vĩ mô như GDP thấp; tỷ
trọng tín dụng đối với khu vực tư nhân so với tài chính đối với các doanh nghiệp nhà
nước cũng thấp. Kiềm chế tài chính dẫn đến việc phân phối kém hiệu quả nguồn vốn,
làm tăng chi phí tài chính trung gian và tỷ lệ lãi từ tiết kiệm thấp, rõ ràng trên lý thuyết
điều đó làm cản trở sự phát triển. Điều này làm cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Kiềm chế tài chính còn liên quan mật thiết đến cung tiền vì tổng lượng tiền tiết
kiệm có thể tương đương tiền gửi ngân hàng hay các tổ chức tương tự ngân hàng,
lượng tiền giấy và tiền kim loại đang lưu hành. Một sự gia tăng trong tỷ lệ lạm phát,
dù có phải do tăng cung tiền hay không, cũng sẽ có tác động làm giảm lãi suất thực
nếu lãi suất vẫn duy trì ở mức danh nghĩa được kiểm soát. Đứng trước một mức lãi
suất thấp hoặc thậm chí âm, những người tiết kiệm sẽ không còn muốn giữ tiền mà có
khuynh hướng đầu tư vào những tài sản bảo hiểm rủi ro lạm phát như vàng, bất động
sản, hàng hóa, và những tài sản khác. Điều này khiến tiền tiết kiệm giảm theo giá trị

Thứ nhất, Dòng ngân quỹ cho vay của cả hệ thống ngân hàng có tổ chức bị
giảm sút, buộc những người vay tiềm năng phải dựa nhiều hơn vào các nguồn tài trợ từ
ngoài ngân hàng.
Thứ hai, Lãi suất cho vay của ngân hàng khác nhau giữa các đối tượng vay,
giữa nhóm người vay không được ưa chuộng và nhóm người vay được ưa chuộng.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 9
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
Thứ ba, Quá trình tự tài trợ của các doanh nghiệp và hộ gia đình bị tàn lụi dần.
Nếu lãi suất thực của khoản tiền gửi cũng như tiền mặt âm, các doanh nghiệp sẽ không
dễ tích lũy các tài sản động( tức là các tài sản dễ chuyển sang thành phương tiện thanh
toán) trong khi chuẩn bị thực hiện các dự án đầu tư khác nhau. Các hàng rào chống
lạm phát tốn kém về mặt xã hội có vẻ như hấp dẫn hơn với tư cách là các công cụ tài
chính trong nước.
Thứ tư, Không thể mở rộng đáng kể tài chính bên ngoài hệ thống ngân hàng
đang bị kìm hãm trong điều kiện các doanh nghiệp rất khó đổi tài sản thành tiền mặt
hoặc khi lạm phát cao không ổn định. Việc khuyến khích các tập đoàn và các công ty
bảo hiểm mở thị trường cổ phiếu và chứng khoán cần có sự ổn định tiền tệ.
Thứ năm, Dòng vốn tài chính nước ngoài đổ vào có thể sẽ không sinh lợi khi thị
trường vốn nội địa lộn xộn và không thể lường trước tỷ giá hối đoái.
Qua những hạn chế trên đây thì việc xóa bỏ kiềm chế tài chính tiến tới tự do
hóa tài chính là con đường phải qua, là việc nên làm để thúc đẩy việc huy động những
nguồn vốn nhàn rỗi kích thích đầu tư, tăng trưởng kinh tế tham gia vào quá trình hội
nhập, toàn cầu hóa. Tuy nhiên vẫn cần có sự tham gia điều tiết của chính phủ nhằm đạt
được những mục tiêu xã hội.
5. Kiềm chế tài chính trên thế giới
Trong một nghiên cứu của Gupta (1984) thực hiện một loạt các kiểm định
thống kê với số liệu của 25 nước châu Á và Mỹ Latinh. Ông đã đi đến một kết luận
chung như sau:
Một là, Sự tăng trưởng của khu vực tài chính và sự gia tăng lãi suất thực đều

nước ngoài có tác động lên tỉ suất tiết kiệm nội địa lớn hơn nhiều so với bất kỳ các
biến số khác; SRf tăng một điểm phần trăm làm cho tỉ suất tiết kiệm nội địa giảm
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 11
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
0,556 điểm phần trăm.Fischer (1981) trong một nghiên cứu về 40 nước đang phát triển
giai đoạn 1960-72, nhận thấy rằng:
Tiết kiệm nội địa được chuyển giao trong nội bộ một nước có một tác động to
lớn lên sự hình thành vốn ở nước có tỉ lệ lạm phát thấp và ổn định hơn các nước có tỉ
lệ lạm phát cao và ổn định.Fischer tiếp tục ước lượng hàm đầu tư cho khu vực tư nhân
của 40 nước là:
IRp = 10,759 + 0,320d – 0,140p* – 0,596IRg + 0,125IRf + 0,007y
(2,640) (2,900) (3,829) (1,398) (4,329)
với SRf = tỉ suất đầu tư trực tiếp nước ngoài tư nhân
IRg = tỉ suất đầu tư khu vực nhà nước
Dấu dương của hệ số lãi suất danh nghĩa và dấu âm đối với tỉ lệ lạm phát kỳ vọng
khẳng định các lý thuyết về áp chế. Fischer ước lượng rằng lãi suất và tỉ lệ lạm phát
mỗi biến số chiếm khoảng 20% sự thay đổi trong tỉ suất đầu tư nội địa tư nhân, nhưng
tác động lớn nhất lại là mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư khu vực nhà nước và đầu
tư khu vực tư nhân. Kết quả của ông ủng hộ quan điểm cho rằng đầu tư khu vực nhà
nước lấn át đầu tư khu vực tư nhân.
Về thực tế theo logic thông thường, lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư do đó
mà thúc đẩy sự tăng trưởng. Diễn biến kinh tế ở Nhật Bản, các nước Đông Âu và một
số nước khác đã chứng tỏ điều đó vào những năm 60 đến đầu những năm 80, kinh tế
các nước rất phát triển. Song việc duy trì kiềm chế tài chính ở các nước này trong giai
đoạn sau đã thấy mức lãi suất quá thấp, công chúng không muốn để khoản tiết kiệm
của mình dưới dạng tài sản tài chính, trái lại họ hiện vật hóa dưới dạng vàng, đá quý,
ngoại tệ mạnh, thậm chí tất cả các loại hàng hóa tiêu dùng mà họ có thể mua và dự trữ
được. Tiềm năng tài chính trong dân cư không được huy động và sử dụng đầu tư vào
sản xuất. Điều này không những chỉ gây ra tình trạng thiếu vốn đầu tư cho tăng trưởng

+ Đối với USD:Thông tư 14/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động
vốn tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng. Quy định :
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 13
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
- Lãi suất huy động vốn tối đa bằng đô la Mỹ áp dụng đối với tổ chức là người cư
trú, tổ chức là người không cư trú trừ tổ chức tín dụng là 0,5%/năm.
- Lãi suất huy động vốn tối đa bằng đô la Mỹ áp dụng đối với các nhân là người
cư trú, cá nhân là người không cư trú là 2,0%.
- Mức lãi suất huy động vốn tối đa quy định tại Điều này bao gồm cả khoản chi
khuyến mại dưới mọi hình thức và áp dụng đói với phương thức trả lãi cuối kỳ;
đối với các phương thức trả lãi khác, phải được quy đổi theo phương thức trả lãi
cuối kỳ tương ứng với mức lãi suất huy động vốn tối đa.
Trong điều kiện lạm phát tăng cao, chính phủ áp dụng trần lãi suất huy động. Điều này
cho thấy Chính phủ đang cố gắng áp đặt mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất thị trường.
Đây chính là biểu hiện của kiềm chế tài chính.
1.2 Trần lãi suất cho vay danh nghĩa
Quy định mới nhất của Ngân hàng Nhà nước số 2868/QĐ-NHNN quy định mức
lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.
Tuy nhiên trong Luật Dân sự, Điều 476 có quy định lãi suất vay do các bên thoả
thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước
công bố đối với loại cho vay tương ứng. Như vậy đây có thể coi là mức trần lãi suất
danh nghĩa.
Tuy nhiên thực tế lãi suất cho vay theo thỏa thuận Ngân hàng và Khách hàng.
Vì vậy trần lãi suất quy định trong Luật dân sự chỉ là trần lãi suất danh nghĩa.
1.3 Trần lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm
Quyết định 379/QĐ –NHNN quy định mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết
khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù
đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với vác
ngân hàng là 12%/năm.

Tuấn
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng đồng Việt Nam
áp dụng như sau:
Các ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, Ngân hàng thương mại cổ
phần nông thôn, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng
100% vốn nước ngoài, ngân hàng hợp tác, công ty tài chính, công ty cho thuê tài
chính, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt
buộc.
2.2 Đối với ngoại tệ: Quyết định số 1209/QĐ-NHNN quy định:
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng
bằng ngoại tệ áp dụng như sau:
a) Các ngân hàng thương mại Nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng
100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 7%
trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.
b) Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Quỹ tín dụng
nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 6% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt
buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ áp dụng
như sau:
a) Các ngân hàng thương mại Nhà nước không bao gồm Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng
100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công
ty tài chính, công ty cho thuê tài chính là 5% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt
buộc.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 16
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
b) Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Quỹ tín dụng

Thương mại cổ phần (NH TMCP) cho thấy khối NH TMNN vẫn là những Ngân hàng
có tổng tài sản lớn kéo theo thị phần huy động cũng như cho vay lớn.Hơn nữa các NH
TMNN được hưởng nhiều nguồn vốn ưu đãi từ Chính phủ hơn các NH TMCP cho
thấy sự kiềm chế tài chính đối với hoạt động ngân hàng ở Việt Nam.
Thống kê Tổng tài sản và Vốn điều lệ các NH tại Việt Nam (T5 -2011)
Nguồn: Tổng hợp, Đơn vị: Tỷ đồng
Tỷ lệ tài sản của Ngân hàng Thương mại trên Tổng tài sản của Ngân hàng
Thương mại và Ngân hàng Nhà nước: Theo số liệu thống kê NHNN đến T5/2011
Việt Nam có 5 NH Thương mại Nhà nước, 1 NH Chính sách, 39 NH TMCP với Tổng
tài sản toàn hệ thống là 3.790.210 tỷ đồng. Trong đó Tổng tài sản của Ngân hàng
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 18
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
thương mại là 2.604.086 tỷ đồng, còn của Khối Ngân hàng Nhà nước là 1.186.124.
Như vậy tỷ lệ tài sản của khối Ngân hàng thương mại trên Tổng tài sản của NHTM và
NHNN chiếm 68,71% cho thấy mức độ kiềm chế tài chính ở Việt Nam thấp. Chính
phủ đang có chủ trương cổ phần hóa các Ngân hàng thuộc khối Nhà nước như cổ phần
hóa BIDV và MHB thời gian tới để tiếp tục giảm mức độ kiềm chế tài chính.
5. Hạn chế gia nhập thị trường thị trường tài chính, đặc biệt từ nước ngoài
Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP, các Ngân hàng phải thực hiện tăng vốn điều
lệ lên mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng chậm nhất vào ngày 31/12/2010. Tuy nhiên, đến
cuối năm 2010 còn khoảng 15 ngân hàng chưa đủ số vốn điều lệ tối thiểu này. Do vậy,
Nghị định 10/2011/NĐ-CP đã cho phép các ngân hàng được dời thời hạn hoàn thành
tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng chậm nhất vào ngày 31/12/2011. Tuy nhiên, với
việc NHNN vừa ban hành Chỉ thị 01/CT-NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng
toàn ngành ngân hàng trong năm 2011 không quá 20%, sẽ là một thách thức không
nhỏ đối với những ngân hàng chưa đạt vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng.`
Từ khi ban hành quy chế cấp giấy phép và hoạt động NHTMCP (07/06/2007)
cũng như quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động TCTD phi ngân hàng cổ phần
(02/11/2007). NHNN chỉ cấp phép thành lập một số ít Ngân hàng như: TienPhong

chính. Điển hình để đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tăng
trưởng tín dụng phi sản xuất dưới 16% chính phủ đã thắt chặt hoạt động của các thị
trường sau:
7.1 Thị trường vàng
Đóng cửa sàn vàng: Thông tư 11/2011/TT-NHNN quy định chấm dứt huy động
và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng không được thực
hiện huy động và cho vay vốn bằng vàng đối với khách hàng và các tổ chức tín dụng
khác.
Thủ tướng Chính phủ dự kiến quản lý hoạt động kinh doanh vàng tiến tới xóa
bỏ kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 20
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
7.2 Thị trường ngoại hối
Việc cấm kinh doanh ngoại tệ tự do đã có tác dụng làm giảm tỷ giá hối đoái
thời gian qua. Ngoài ra chính phủ ban hành Thông tư 13/2011/TT-NHNN quy định các
Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước thực hiện nghĩa vu bán ngoại tệ cho Tổ chức
tín dụng và được quyền mua lại ngoại tệ trong phạm vi số ngoại tệ đã án cho Tổ chức
tín dụng phục vụ vào nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp pháp.
7.3 Thị trường chứng khoán
Tỷ lệ vốn hóa thị trường cổ phiếu/GDP: Trong suốt thời kỳ từ 2002 -2005,
mức vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP. Quy mô thị trường đã nhảy vọt
mạnh mẽ lên 22,7% vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% năm 2007. Giá
trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến thời điểm cuối năm 2009 đã đạt 37,71% GDP,
đến 2010 đạt 50% GDP.
Dòng vốn ngoại rút khỏi thị trường: Với việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động
của thị trường chứng khoán, thời gian qua thị trường chứng khoán thanh khoản thấp,
liên tục giảm điểm va hơn nữa các nhà đầu tư ngoại rút mạnh khỏi thị trường chứng
khoán.
Mặc dù có sự tăng trưởng nhanh nhưng so với các nước phát triển với tỷ lệ vốn

với các ngân hàng trong việc phân phối tín dụng tại các mức lãi suất được hỗ trợ đối
với một số công ty và ngành công nghiệp cụ thể, nhằm thực hiện chính sách công
nghiệp. Việc bắt buộc các ngân hàng phân phối tín dụng đến các ngành kinh doanh
được đánh giá là chính sách chiến lược quan trọng của chính phủ đảm bảo quá trình
cung cấp nguồn vốn ổn định hơn so với phó mặc nó cho các quyết định của những
những ngân hàng nửa vời hoặc thị trường chứng khoán hiệu quả. Ngoài ra, việc này
cũng đem lại hiệu quả chi phí tốt hơn so với việc phải trải qua quy trình ngân sách
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 22
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
công cộng. Những chỉ thị và chỉ dẫn của chính phủ thỉnh thoảng bao gồm những mệnh
lệnh và hướng dẫn chi tiết, cặn kẽ về các vấn đề thuộc về quản trị của các tổ chức tài
chính nhằm đảm bảo rằng hoạt động của doanh nghiệp đi đúng theo chính sách của
ngành công nghiệp hoặc các chính sách khác của chính phủ. Bộ Tài chính Nhật Bản là
một ví dụ trong việc quản lý vi mô của ngành tài chính chính phủ. Ví dụ điển hình việc
kiểm soát trực tiếp trên quy mô toàn quốc đối với các ngân hàng là quá trình quốc hữu
hóa của các ngân hàng đã được tiến hành ở Mexico trong những năm 80 nhằm bảo
đảm lượng tiền gửi của dân chúng.
Thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Chính phủ Trung Quốc cũng đưa ra
những kế hoạch thoát khỏi khủng hoảng toàn cầu (tháng 7, tháng 11 năm 2008), áp
dụng những chính sách kiềm chế tài chính. Trong 15 năm qua, bối cảnh chính phủ
Trung Quốc liên tục đạt thặng dự các tài khoản vãng lãi, để duy trì không thay đổi tỷ
giá, nước này luôn thu mua dự trữ ngoại tệ với số lượng lớn. Và thời kỳ này, Ngân
hàng trung ương Trung Quốc cũng đã gánh vác hai mục tiêu đối lập nhau: Một là trách
nhiệm cơ bản của mỗi một ngân hàng trung ương chính là duy trì ổn định vật giá; Một
nhiệm vụ khác lại là tiếp tục định giá thấp tỷ giá nhân dân tệ.
Trong tình huống thông thường, chính phủ mua ngoại tệ, lượng cung ứng tiền tệ
sẽ tăng và dẫn tới lạm phát; Nhưng chính phủ Trung Quốc đã áp dụng biện pháp
phòng ngừa đối với việc cung ứng tiền tệ trong nước, đã tránh được lạm phát. Sự
phòng ngừa với quy mô lớn dài hạn này thường sẽ hình thành áp lực cho ngân hàng

sẽ hiện vật hóa dưới dạng vàng, đá quý, ngoại tệ mạnh, hàng hóa tiêu dùng. Vì vậy,
gây ra tình trạng hiếu vốn đầu tư, khan hiếm hàng hóa giả tạo, mất cân đối nghiêm
trọng trên thị trường hàng hóa.
- Cầu về vốn vượt xa khả năng của các nguồn cung cấp nên các danh mục đầu
tư có tỷ suất lợi nhuận cao phải hủy bỏ hoặc sử dụng vốn từ các thị trường ngầm.
- Ngân sách nhà nước luôn phải bao cấp và thiếu hụt vì các doanh nghiệp nhà
nước luôn được ưu tiên vay vốn với lãi suất bao cấp dẫn tới luôn ỷ lại, không sản xuất
và kinh doanh có hiệu quả.
Nhóm học viên thực hiện: Nhóm 5 24
Tài chính Ngân hàng và Sự phát triển GVHD: TS. Đặng Anh
Tuấn
- Hệ thống tài chính không được phát triển và không thể thực hiện được những
chức năng trong việc điều tiết và tạo vốn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
- Thị trường tài chính có thể không có hoặc manh mún, phân tán và đầy rủi ro,
lạm phát và tỷ giá biến động không thể kiểm soát được.
1.3. Xu hướng giảm dần kiềm chế tài chính, tiến tới tự do hóa tài chính ở Việt Nam
hiện nay
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề tự do hóa tài chính từng bước hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới không còn là sự lựa chọn của bất kỳ một quốc gia nào, mà nó đang
là xu thế tất yếu bắt buộc các quốc gia phải thực hiện để đưa nền kinh tế của quốc gia
mình đi vào quỹ đạo chung của kinh tế thế giới. Do đó, để đưa nền kinh tế Việt Nam
phát triển kịp với các quốc gia trong khu vực thì một trong những vấn đề quan trọng là
từng bước cải cách hệ thống tài chính, hoàn thiện hệ thống ngân hàng theo hướng hội
nhập.
Với cái nhìn chiến lược và phương chăm đúng đắn, các nhà quản lý và
điều hành kinh tế đã tiến hành cải cách hệ thống tài chính, cơ cấu lại hệ thống ngân
hàng Việt Nam để từng bước hội nhập với kinh tế toàn cầu. Nhìn chung trong thời
gian vừa qua, Việt Nam đã có những việc làm thiết thực đánh dấu cho tiến trình hội
nhập trong giai đoạn đầu:
- Thiết lập được các mối quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status