TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
================
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC
GIA VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC HÌNH
THỨC THỦ ĐOẠN CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC CÔNG TY ĐA
QUỐC GIA Ở CÁC NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ
Sinh viên thực hiện:
Hán Thu Thảo 12 1111 0594 STT: 113
Lê Thị Phương Nhung 12 1111 0507 STT: 92
Trần Thị Giang Thu 12 1111 0635 STT: 116
Lớp: Pháp 3 - K51 – KTĐN
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Lan.
PHẦN MỞ ĐẦU
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và cách mạng khoa học-
công nghệ, hoạt động của các Công ty đa quốc gia – MNCs (Multinational Coporations)
hay MNEs (Multinational enterprises) đã, đang và sẽ là lực lượng chủ đạo thúc đẩy quá
trình toàn cầu hoá, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội trên toàn thế
giới. Chúng là lực lượng chủ chốt trong truyền tải khoa học công nghệ và kĩ thuật tiên
tiến, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và cũng là hình mẫucủa các tổ chức sản xuất hàng hoá
hiện đại.Vì vậy, các công ty đa quốc gia đang càng ngày càng thâm nhập một cách mạnh
mẽ vào tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế đang và kém phát
triển.
Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự phát triển và phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh
tế giữa các quốc gia, đồng thời dẫn đến những thay đổi sâu sắc và lớn lao trong nhiều lĩnh
vực của nền kinh tế thế giới.Các Công ty đa quốc gia đã ngày càng phát huy được vai trò
to lớn của mình trong nền kinh tế thế giới.Các Công ty lớn mạnh có nguồn tài chính dồi
dào để phục vụ cho quan hệ công chúng và vận động hành lang chính trị, có các nhà
chính trị đại diện cho nêncũng có thể có ảnh hưởng lớn đến quan hệ quốc tế và nền kinh
gia mà nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự hình thành và phát triển của các luồng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Với các câu hỏi đặt ra như: Chiến lược thâm nhập của các Công ty đa quốc gia tác
động tới nền kinh tếcác nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam như thế nào? Chúng
ta cần có giải pháp gì đểhạn chếnhững tác động tiêu cực và khai thác có hiệu quả tác động
tích cực từ các Công ty đa quốc gia?Các hình thức và thủ đoạn “chuyển giá” mà các Công
ty đa quốc gia áp dụng vào các nước nhận đầu tư? Làm rõ được những nội dung này thực
sựlà vấn đề quan trọng và cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.Chính vì lí do đó,
nhóm em đã chọn đề tài: ”Chiến lược thâm nhập của các Công tyđa quốc gia vào các nước
đang phát triển và các hình thức thủ đoạn “chuyển giá” của các Công ty đa quốc gia ở
các nước nhận đầu tư” làm tiểu luận môn Tài chính tiền tệ.
Bài tiểu luận bao gồm ba chương: chương I khái quát, đưa ra những nhận định
chung nhất về Công ty đa quốc gia, để từ đó hiểu được và có cái nhìn tổng thể về các
chiến lược thâm nhập vào các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá của chúng sẽ
được giới thiệu trong chương II và III, với những tác động tích cực cũng như những hệ
lụy mà chúng mang lại cho nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế các quốc gia mà
chúng có trụ sở.
3
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
MỤC LỤC
I. Tổng quan về công ty Đa quốc gia
II.
4
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Phần I
Tổng quan về Công ty đa quốc gia
1. Khái quát về Công ty đa quốc gia:
1.1. Nguyên nhân ra đời của Công ty đa quốc gia:
Tiền thân của các Công ty đa quốc gia là Công ty quốc gia.Công ty quốc gia này
mang quốc tịch của một nước và vốn đầu tư vào Công ty này thuộc quyền sở hữu của
quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia. Các Công ty đa quốc gia đóng
một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa.
• KN2: Công ty đa quốc gia là Công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ thông tin không chỉ nằm gói gọn trong lãnh thổ của một quốc gia
mà hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ trải dài ít nhất ở hai quốc gia
và có Công ty có mặt lên đến hơn trăm quốc gia khác nhau
• KN3: Công ty đa quốc gia (MNC) là tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ và
khoa học kỹ thuật được thành lập dựa trên các hiệp định Chính phủ hoặc hợp đồng
hợp tác kinh doanh giữa các tổ chức tư nhân ở các nước khác nhau.
1.3. Các loại hình Công ty đa quốc gia (cấu trúc):
• Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc
tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).
• Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào
đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ:
Adidas).
• Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau
mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)
2. Đặc điểm của Công ty đa quốc gia:
2.1. Quy mô, doanh thu và phạm vi hoạt động lớn
Sở hữu của các Công ty đa quốc gia là sở hữu có tính chất đa chủ và đa quốc tịch
thể hiện ở sự tham gia của nhiều chủ sở hữu ở các nước khác nhau đối với tài sản của
6
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Công ty được phân bổ trên phạm vi toàn cầu. Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong
Công ty đa quốc gia nhằm mục tiêu quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về
vốn phục vụ kinh doanh. Vì vậy sau khi thành lập Công ty đa quốc gia, các Công
tythành viên phát triển nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ
đó tổng tài sản cũng tăng lên đáng kể.
Các Công ty đa quốc gia thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyết định đối
với quy trình sản xuất: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quản trị và mạng
giá trị cao hơn; từ công nghiệp thâm dụng lao động nhiều chuyển sang đầu tư vào các
ngành sử dụng nhiều kĩ thuật và công nghệ mới và sang các ngành dịch vụ điện tử,
dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, y tế, giáo dục…
Các Công ty đa quốc gia ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của
kinh tế thế giới: Hiện nay các Công ty đa quốc gia chiếm đến 2/3 trị giá thương mại
quốc tế, chiếm 4/5 tổng giá trị đầu tư FDI; 9/10 thành quả nghiên cứu khoa học và
chuyển giao kĩ thuật của thế giới; chiếm 95% hoạt động XNK lao động quốc tế… và
các Công ty đa quốc gia đóng vai trò trọng yếu trong đẩy nhanh quốc tế hóa đời sống
kinh tế toàn cầu, biến mỗi nước trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới.
Mở rộng các hình thức liên kết kinh tế để tăng cường khả năng cạnh tranh: Để mở
rộng phạm vi thế lực, tăng sức cạnh tranh phù hợp với bước phát triển mới của kinh tế
và kĩ thuật, cùng với chiến lược sáp nhập, các Công ty đa quốc gia lớn còn đẩy mạnh
hoạt động liên hợp. Đó là sự thiết lập quan hệ hợp tác giữa hai hoặc nhiều Công ty đa
quốc gia ngang sức cùng hoặc khác quốc tịch nhằm thực hiện mục tiêu nào đó.
Đa dạng hóa và chuyên môn hóa cao độ là một xu hướng chiến lược mới của mỗi
Công ty đa quốc gia: Các Công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sản phầm hoặc
thỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm kiếm cơ hội kinh
doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, nhu cầu thị trường
giảm sút. Một số khác lại “ thu hẹp chiến tuyến”, loại bỏ các hoạt động sản xuất “ngoại
vi”, dốc toàn lực phát huy thế mạnh chuyên môn của mình.
8
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
3. Vai trò của các Công ty đa quốc gia:
3.1. Vai trò tích cực của các Công ty đa quốc gia:
• Thúc đẩy Thương mại quốc tế phát triển:
Một trong những vai trò nổi bật của Công ty đa quốc gia là thúc đẩy thương mại
quốc tế phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới.Công ty
đa quốc gia chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu
thông xuyên quốc gia của mình. Một đặc điểm nữa là trao đổi giữa các chi nhánh trong
nội bộ Công ty đa quốc gia của các nước ngày càng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn
• Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm:
Các Công ty đa quốc gia đóng vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực
và tạo việc làm ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Một vai trò quan
trọng khác phải nhắc tới là Công ty đa quốc gia tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lực
lượng lao động phụ nữ ở các nước đang phát triển.Hơn nữa tiền lương và điều kiện lao
động ở các Công ty đa quốc gia thường cao hơn tiền lương và điều kiện lao động ở các
Công ty nội địa.
• Công ty đa quốc gia với hoạt động chuyển giao công nghệ:
Công nghệ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giứ
thế độc quyền. Do đó, trong quá trình thực hiện đầu tư ra nước ngoài các Công ty đa
quốc gia thường có những phương thức và những kênh riêng để thực hiện hoạt động
chuyển giao công nghệ của mình.Không chỉ nắm giữ trong tay phần lớn công nghệ tiên
tiến của thế giới các Công ty đa quốc gia còn biết cách sử dụng và khai thác các công
nghệ đó một cách có hiệu quả nhất nhằm duy trì vị trí độc quyền trên thị trường, mở
rộng phạm vi ảnh hưởng và khả năng lũng đoạn thị trường.
Thông qua hoạt động sản xuất, thương mại các Công ty đa quốc gia đã không
ngừng có những phát minh, sáng chế và phổ biến những kinh nghiệm về quản lý, các ý
tưởng mới, và các sáng tạo khác trên phạm vi toàn cầu. Có thể nói tính sáng tạo là đặc
trưng riêng của các Công ty đa quốc gia mà không tổ chức nào có được. Tuy nhiên, quá
trình chuyển giao công nghệ thường đi kèm với quá trình độc quyền hoá. Do đó, các
nước đang phát triển trong quá trình tiếp nhận công nghệ cần nhận thức rõ vai trò của
10
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
các Công ty đa quốc gia đồng thời có những đối sách thích hợp để vừa phát huy tối đa
tác dụng tích cực của Công ty này đối với nền kinh tế vừa hạn chế sự kìm hãm của
chúng.
3.2. Ảnh hưởng tiêu cực:
Tác động tiêu cực từ nguồn vốn đầu tư của các Công ty đa quốc gia đối với các nước
đang phát triển được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
Thứ nhất, các Công ty đa quốc gia gặt hái nhiều lợi nhuận ở các nước đang phát triển
Peru bị mắc bệnh về đường hô hấp và nhiều vấn đề sức khỏe khác do ô nhiễm không khí
và nguồn nước từ một nhà máy đúc đồng thuộc 3 tập đoàn lớn của Mỹ, mỗi ngày nhà máy
này thải vào không khí 2000 tấn Sunphuadioxit, gấp 10 – 15 lần so với mức cho phép ở
Mỹ. Các nhà phê bình còn cho rằng nhân công ở các nhà máy này chỉ được trả lương rất
thấp, điều kiện làm việc, quy định về y tế, an toàn lao động đều thấp hơn so với Mỹ. Các
Công ty đa quốc gia trong một số trường hợp cũng thông qua đầu tư nước ngoài để “ xuất
khẩu ô nhiễm môi trường từ các nước phát triển – nơi mà luật pháp và các biện pháp
cưỡng chế bảo vệ môi trường khác chặt chẽ - sang các nước đang phát triển – nơi mà luật
pháp và các biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi trường không hữu hiệu.
Thứ sáu, tình trạng phân phối thu nhập không đều ở các nước nhận đầu tư cũng là
một tác đông tiêu cực cần phải nhắc tới ở đây.Thường tiền lương của nhân công, lao đông
làm trong các Công ty liên doang bao giờ cũng cao hơn mức trung bình ở địa phương.
Thứ bảy, một tác động tiêu cực khác của các Công ty đa quốc gia là can thiệp vào nền
chính trị của các nước nhận đầu tư thông qua một số cách khác nhau. Tuy vậy, thường thì
các Công ty đa quốc gia đánh giá cao sự ổn định chính trị của một nước, như vậy họ có
thể yên tâm đặt lòng tin và đầu tư vào nước đó. Ngoài ra các Công ty đa quốc gia còn có
ảnh hưởng tới cơ cấu xã hội của nước nhận đầu tư. Khi các Công ty đa quốc gia đầu tư
vào một nước thì sẽ tạo ra việc làm, thu nhập cho số đông người dân nước đó, những
người đó có thu nhập và địa vị ổn định trong xã hội, còn lại một phần lớn những người
không hòa nhập vào xã hội công nghiệp và do đó tạo ra sự phân cấp trong xã hội khá rõ
rệt.
12
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Phần II
Chiến lược thâm nhập thị trường của Công ty đa quốc gia
Trong những thập kỷ vừa qua các Công ty đa quốc gia (MNCs) đã đầu tư hàng tỷ
USD ra nước ngoài theo hình thức đầu tư song phương: Hoa Kỳ đầu tư vào Cộng đồng
kinh tế Châu Âu và ngược lại; Nhật Bản đầu tư vào Hoa Kỳ và ngược lại; Canada đầu tư
trực tiếp vào Hoa Kỳ và ngược lại,….
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, MNCs đã chuyển hướng đầu tư vào các nước
việc làm tại hải ngoại thay vì tại quốc gia nó ra đời nếu như nó tìm được lợi nhuận hấp
dẫn hơn ở thị trường nước ngoài. Ví dụ IBM đã biệt phái khoảng 120 chuyên gia và 10 tỷ
USD sang EC để đầu tư cho hoạt động kinh doanh viễn thông tại đây trong vòng một năm
(Robert B. Reich, “Who is them?” Harvard Business review, March-April 1991, p.77)
thay vì đầu tư tại Hoa Kỳ.
Chiến lược này không chỉ được một mình IBM áp dụng. Nhiều Công ty khác trong
qúa trình đầu tư của mình đã tạo nên nhiều công ăn việc làm tại thị trường hải ngoại. Ví
dụ tại Nhật Bản, Xerox đã có trên 12.000 lao động, Texas Instrument có hơn 5.000 lao
động, Hewlett – Parkard có trên 3.000 lao động. Nói chung nhiều Công ty Hoa Kỳ đã thuê
một lực lượng lao động là người Nhật một cách đáng kể. Tình trạng của các Công ty
ngoại quốc kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳ cũng đã nói lên một điều tương tự. Cụ thể,
năm 1990 có khoảng 640 Công ty tại Hoa Kỳ thuộc sở hữu hoàn toàn, hoặc một phần bởi
người Nhật, và những Công ty này đã sử dụng khoảng 160.000 công nhân là người Mỹ,
và hơn 100 liên doanh Nhật – Mỹ cũng đã thiết lập trong năm 1990. Đến cuối thế kỷ thứ
20, có trên 800.000 nhân công Hoa Kỳ làm việc tại các Công ty Nhật Bản. Nếu xét tổng
quát thì các Công ty có nguồn gốc nước ngoài cho đến năm 1989 đã sử dụng khoảng 3
triệu nhân công người Mỹ. Cũng trong năm 1989, số lượng công việc được tạo ra bởi các
Công ty sản xuất có nguồn gốc nước ngoài đã cao hơn số lượng công việc được tạo ra bởi
các Công ty có nguồn gốc Hoa Kỳ.
14
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Đôi khi một số dự án kinh doanh quốc tế lại sử dụng nhân công từ hàng loạt nước
khác. Ví dụ, một loại xe hơi thể thao của Mazda, loại MX – 5 Miata, được thiết kế tại
California, nhưng chi tiết được tạo ra tại Anh, lắp ráp tại Michigan và Mehico, loại xe hơi
này lại sử dụng các bộ phận điện tử được sáng chế tại New Jersey và được chế tạo tại
Nhật Bản. Tương tự như vậy, loại xe ăn khách của Chevrolet – Geo Metro – được thiết kế
tại Nhật Bản, và chế tạo tại Canada bởi một nhà máy do Công ty Suzuki sở hữu. Hoặc
trong trường hợp của Boeing thì loại máy bay này được thiết kế tại bang Washington và
Nhật Bản, nhưng lắp ráp tại Seatle với chóp đuôi làm từ Canada, một số chi tiết phần đuôi
lại được sản xuất tại Trung Quốc và Italy, và đầu máy thì được làm từ Anh. Nói cách
Thông thường việc sở hữu 100% vốn là một điều mong đợi nhiều nhất nhưng không phải
lúc nào cũng nhất thiết như vậy. Thật ra việc sở hữu 100% vốn thật sự cần thiết khi có
một mối liên hệ rất mật thiết tồn tại giữa các đơn vị trong một MNC.
Tuy nhiên một điều mà MNCs cần lưu ý đó là hình thức 100% vốn có thể gặp một số
trở ngại xuất phát từ sự không thiện cảm của môi trường quốc tế: Nhà nước có thể giới
hạn hoạt động kinh doanh trong một số lĩnh vực, có chính sách phân biệt trong đối xử,
hạn chế việc chuyển giao lợi nhuận trở về nước….
2.2. Liên minh chiến lược:
Liên minh chiến lược là một hình thức hợp tác chính thức hay phi chính thức giữa hai
hay nhiều hơn hai Công ty có cùng một mục tiêu kinh doanh. Liên minh chiến lược có thể
thực hiện theo các mức độ từ phi chính thức cho đến cùng tham gia cổ phần.
• Cơ sở:
Lý do để thực hiện một liên minh chiến lược cũng rất đa dạng: (i) Mong muốn xâm
nhập và mở rộng thị trường: tại Nhật Bản, Motorola đã phối hợp hoạt động với Toshiba
trong việc sản xuất chip điện tử nhằm giành lấy một thị phần lớn hơn; (ii) Nhằm bảo vệ
17
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
thị trường nội địa: Ví dụ, do không có những đơn hàng xây dựng các nhà máy năng lượng
hạt nhân, Bechtel Group đã liên kết với Siemens của Đức để cung cấp các dịch vụ cho các
nhà máy hiện hữu tại Hoa Kỳ; (iii) Chia sẻ các rủi ro trong những nỗ lực sản xuất và phát
triển: Texas Instrument và Hitachi đã thành lập chung một nhóm phát triển những loại
chip bộ nhớ thế hệ mới; (iv) Thực hiện liên minh chiến lược nhằm ngăn chặn và vượt qua
đối thủ cạnh tranh: Ví dụ, Caterpillar đã thiết lập một liên doanh với Mitsubishi trong
việc sản xuất các thiết bị trong công nghiệp nặng để phản công lại đối thủ cạnh tranh chủ
yếu trên toàn cầu của mình là Công ty Komatsu ngay trên quê hương của nó.
• Hình thức:
Các hình thức của liên minh chiến lược bao gồm:
- Hợp tác phi chính thức: Theo hình thức này các đối tác sẽ làm việc với nhau
theo một thỏa thuận ràng buộc (có thể diễn ra theo hình thức trao đổi thông
tin về sản phẩm mới, công nghệ, kỹ thuật, trao đổi chuyên gia). Sự hợp tác
phải cần đến kỹ năng hoặc các tài sản hữu hình và vô hình của phía bên kia; (iii) việc thực
hiện liên doanh cho phép các đối tác có thể thực hiện được mục tiêu chiến lược của mình
thông qua việc tận dụng lợi thế lẫn nhau. Ví dụ liên doanh giữa GMC (Hoa Kỳ) và Toyota
trong việc thành lập nhà máy New United Motor đã cho phép Toyota có thể thâm nhập
vào thị trường của Hoa Kỳ, ngược lại GMC có thể tận dụng được kỹ thuật và các cách
tiếp cận trong quản trị từ phía đối tác Nhật Bản.
Một liên doanh chỉ được xem là có hiệu quả một khi sự hợp nhất nguồn lực của các
đối tác có thể tạo ra một kết quả cao hơn so với năng lực riêng lẻ của từng đối tác.Ví dụ
một Công ty có thể có những tiến bộ kỹ thuật mới nhưng lại thiếu vốn để đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài có thể dùng hình thức liên doanh để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật này nhanh
hơn hoặc xâm nhập thị trường một cách dễ dàng hơn. Hình thức liên doanh cũng cho
phép một Công ty nước ngoài có thể thiết lập một mối quan hệ tốt hơn với Nhà nước và
các tổ chức sở tại (ví dụ như công đoàn, hoặc các tổ chức tài chính); đặc biệt nếu một liên
doanh được thiết lập giữa một MNC và đối tác sở tại là một doanh nghiệp thuộc sở hữu
Nhà nước thì liên doanh này càng có những thuận lợi như được hưởng những ưu đãi về
tài chính, sự hỗ trợ của chính phủ. Mối quan hệ giữa một đối tác trong nước với các tổ
chức tài chính địa phương cũng cho phép liên doanh có thể tiếp cận với thị trường tài
19
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
chính tại chỗ.Ngoài những thuận lợi nêu trên, hình thức liên doanh còn cho phép MNCs
có thể chia sẻ rủi ro khi tiến hành kinh doanh tại một thị trường mới.
Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều liên doanh đã bị thất bại. Các nguyên nhân gây ra
thất bại thường là: sự mâu thuẩn về quyền lợi, sự bất đồng trong việc phân phối lợi nhuận,
mối quan hệ truyền thông giữa các đối tác không tốt, tầm nhìn chiến lược khác nhau, sự
mâu thuẩn về phương diện văn hóa… Để tiến hành thiết lập và quản lý một liên doanh
thành công, nhiều nhà quản lý đã đề ra một số khuyến cáo như trong quá trình thương
lượng để lập liên doanh như sau: (i) Phải tìm đúng đối tác để thiếp lập liên doanh; (ii) Xác
định rõ mục tiêu của liên doanh và thời gian kéo dài của nó; (iii) Giải quyết và xác định rõ
ràng vấn đề quyền sở hữu, kiểm soát, và quản lý; (iv) Xác định rõ cấu trúc tài chính và
các chính sách tài chính; (v) Xác định chính sách sử dụng nhân sự và đào tạo; (vi) Xây
Sau khi giành độc lập vào năm 1957, Chính phủ Malaixia được sự giúp đỡ của WB đã
xây dựng chiến lược công nghiệp hoá (CNH) nền kinh tế, nhưng thực tế đã đặt ra nhiều
vấn đề mà nền kinh tế khó giải quyết. Trong đó, nổi bật là nhu cầu về vốn, công nghệ tiên
tiến, kiến thức quản lý và quy mô thị trường.
Vì thế:
- Chính phủ Malaixia đã tích cực, chủ động đặt mục tiêu thu hút FDI và đặc
biệt coi sự thâm nhập của MNCs vào nền kinh tế là một công cụ quan trọng,
có tính quyết định đến sự thành công của quá trình thực hiện CNH,HĐH đất
nước.
- Malaixia nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, duy trì sự ổn định về kinh tế - xã
hội, và có nhiều biện pháp chuyển hướng lớn trong quá trình thu hút đầu tư,
từ ngành sản xuất sử dụng nhiều tài nguyên và lao động sang những ngành có
trình độ khoa học, kỹ thuật cao đòi hỏi có môi trường đầu tư thuận lợi, thị
trường rộng lớn (cả thị trường nước sở tại, lẫn thị trường khu vực)
- Malaixia có sự thích ứng nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của thị trường và xu
hướng thâm nhập của MNCs, được thể hiện qua 5 giai đoạn thực hiện CNH:
CNH thay thế nhập khẩu (1957-1970); CNH hướng vào xuất khẩu (suốt thập
21
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
kỷ 70); Chiến lược thay thế nhập khẩu lần II (1980-1985); đẩy mạnh hướng
vào xuất khẩu (1986-1995); đến nay là chiến lược CNH phát triển bền vững
5.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Từ khi thực hiện cải cách mở cửa đến nay (năm 1978), nền kinh tế Trung Quốc đã
phát triển nhanh chóng, liên tục với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định (GDP năm 2006:
10,5%; GDP trung bình mỗi năm trên 9,5%), đưa GDP của Trung Quốc đứng hàng thứ 4
thế giới. Trung Quốc đã trở thành “một hiện tượng kinh tế đầu thế kỷ XXI”1. Sự thành
công này có phần đóng góp rất lớn của MNCs trong nền kinh tế; trong đó có trên 400
Công ty xuyên quốc trong 500 Công ty lớn nhất thế giới. Trung Quốc coi việc hợp tác với
MNCs là hạt nhân của mục tiêu điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
- Trước hết là đổi mới trong tư duy. Trung Quốc đưa ra quan điểm: “đổi mới tư
Avon, Mercedes Benz… cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi chính quốc (Home
Country) bằng nguồn vốn FDI.
Nếu năm 2007, Việt Nam thu hút được 20,3 tỷ USD từ FDI và được coi là mức kỷ lục
từ khi mở của thu hút vốn đầu tư năm 1988 đến năm 2006. Trong năm 2008, lượng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài đã nâng lên gấp 3 lần năm 2007 và lập mốc kỷ lục mới là 64
tỷ USD. Trong đó đáng chú ý là các dự án dầu khí có tổng giá trị trên 10 tỷ USD và dự án
của Formosa với 7,8 tỷ USD.
Trong các quốc gia đầu tư vào Việt Nam trong năm 2008 thì Malaysia là quốc gia dẫn
đầu với 14,9 tỷ USD với 55 dự án . Kế tiếp là các quốc gia Đài Loan (8,64 tỷ USD) với
132 dự án, Nhật Bản (7,28 tỷUSD) với 105 dự án, Singapore (4,46 tỷ USD) với 101 dự
án, Brunei (4,4 tỷ USD) với 19 dự án.
Các địa phương thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất trong năm 2008 là
Ninh Thuận do có dự án liên doanh sản xuất thép với tập đoàn Lion Malaysia với tập
đoàn Vinashin có tổng mức đầu tư đăng ký là 9,79 tỷ USD. Đứng thứ hai là tỉnh Bà Rịa-
Vũng Tàu có 4 dự án với tổng mức vốn đăng ký lên đến 9,35 tỷ USD, TP.HCM, Hà Tĩnh
và Thanh Hóa. Như vậy chúng ta có thể thấy cơ cấu các tỉnh thành dẫn đầu trong việc thu
hút vốn đầu tư có thay đổi và các tỉnh Miền Trung đã có những bước tiến đáng chú ý.
Trong đó đáng chú ý là tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu thu hút đến 9,35 tỷ USD (gần bằng cả năm
2006 thu hút vốn đầu tư của cả nước 10,2 tỷ).
23
Tiểu luận TCTT: Công ty đa quốc gia, chiến lược thâm nhập các nước đang phát triển và thủ đoạn chuyển giá
Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI từ năm 2006 đến 2008:
Năm 2006 2007 2008
Triệu USD 10.2 20.3 64
(theo Vietpartners)
• Lợi thế và những khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn
đầu tư từ các Công ty đa quốc gia:
Lợi thế:
- Môi trường chính trị - xã hội ổn định:
Ổn định chính trị - xã hội là yêu cầu đầu tiên quyết định sức hút của Việt Nam đối với
- Cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý còn chuyển biến chậm:
Cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế thích hợp với phân công lao động quốc tế,
phù hợp với các quy tắc và thông lệ chung là điều kiện để tăng sức hấp dẫn đối với
MNCs. Nhưng ở Việt Nam, cả về cơ cấu kinh tế lẫn cơ chế quản lý kinh tế và bộ máy
quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước còn chuyển biến chậm, chưa thực sự tạo sức hút đối
với nhà đầu tư là MNCs.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật còn yếu kém:
Hạ tầng vật chất kỹ thuật của ta những năm gần đây đã được chú trọng phát triển,
nhưng đến nay vẫn còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực. Ngoài một số
tiến bộ đạt được, đặc biệt trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, nhìn chung, kết cấu hạ
tầng kinh tế kỹ thuật còn yếu kém. Đó là trở ngại lớn nhất trong việc thu hút MNCs.
6.2. Quá trình thâm nhập của các Công ty đa quốc gia vào Việt Nam:
- Các Công ty đa quốc gia ở Việt Nam có nguồn gốc từ các nước đang phát
triển Châu Á là phổ biến nhất.
- MNCs Nhật, Mỹ, châu Âu đang có xu hướng tăng.
• Quá trình thâm nhập của MNCs ở Việt Nam
Trước khi Việt Nam thực hiện chủ trương «đổi mới» (1986), MNCs đã dần xuất hiện
chủ yếu thông qua giao lưu văn hoá, hợp tác phát triển khoa học kỹ thuật. Từ sau năm
1986, tuỳ vào từng giai đoạn, cách thức thâm nhập thị trường của MNCs với mức độ khác
nhau, nhưng dù ở dạng thăm dò thị trường sơ khai hay thâm nhập bằng 100% vốn chủ sở
hữu thì MNCs cũng phải trải qua quá trình tìm hiểu, thử nghiệm bằng nhiều cách thức
25