Bộ y tế
Trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai
Báo cáo tổng kết Đề tài nhánh kc.10-13.05
Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ thống
phòng chống độc ở việt nam và biện pháp
xử trí nhiễm độc cấp đối với chất độc
có khả năng gây nhiễm độc hàng loạt
trong công, nông nghiệp và đời sống Chủ nhiệm ĐTN: PGS.TS. Nguyễn Thị Dụ thuộc đề tài cấp nhà nớc. M số kc 10.13
xác định nguyên nhân, xây dựng biện pháp dự phòng
và xử trí nhiễm độc hàng loạt
2. Xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán, phác đồ cấp cứu và điều trị nhiễm độc cấp với
chất độc có khả năng gây ngộ độc hàng loạt trong Công, Nông nghiệp và đời sống.
Phơng pháp nghiên cứu là:
- Nghiên cứu lịch sử các vụ ngộ độc hàng loạt trên thế giới, các chất gây ngộ độc
hàng loạt.
- Nghiên cứu mạng lới phòng Chống độc các nớc trên thế giới đặc biệt mô hình
hoạt động của các TTCĐ quốc gia và vùng.
- Mô hình cấp cứu thảm hoạ, ngộ độc hàng loạt trên thế giới.
- Tình hình ngộ độc và mạng lới phòng chống độc hiện có ở nớc ta.
Kết quả đa ra:
- Xây dựng một mô hình mạng lới phòng chống ở nớc ta một mô hình phù hợp với
hoàn cảnh nớc ta trong tơng lai và hoà nhập.
- Xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán và xử trí ngộ độc một số chất có khả năng gây ngộ
độc hàng loạt trong công nghiệp, nông nghiệp và đời sống. Bao gồm 12 chất là: ngộ
độc khí CO, khí Chlor, NH
3
, hợp chất khí Nitơ, As, Hg, Phospho hữu cơ, Carbamate,
Pyrethroid, Nấm độc, cá Nóc.
Kết luận:
Mô hình mạng lới phòng chống độc đợc áp dụng trong toàn quốc sẽ đóng góp
một phần rất quan trọng nhằm quản lý ngộ độc, có những kế hoạch dự phòng tốt khi
2
cã ngé ®éc hµng lo¹t x¶y ra, gi¶m nhÑ th−¬ng vong, gi¶m tö vong vµ gi¶m ®−îc
nh÷ng chi phÝ khã l−êng tr−íc nÕu cã mét khñng bè ngé ®éc mµ kh«ng ®−îc b¸o
tr−íc.3
những kết quả nổi bật phục vụ đề tài Kc 10-13-05.
CK định hớng.
4
1.9. Lớp tập huấn Quản lý y tế công cộng và các tình huống khẩn cấp tại châu á và
Thái Bình Dơng, Hà Nội 15 26/3/2003 do WHO tài trợ
1.10. Dự án Thành lập TTCĐ Bệnh viện Bạch Mai, 1-2003
2. Các chơng trình giáo dục lồng ghép đã thực hiện
a. Tập huấn về chống thảm họa nằm trong chơng trình giáo dục lấy chứng chỉ DIU
(Diplôme inter universitaire) do các bác sĩ Pháp thực hiện hàng năm từ 2004.
b. Bài giảng về chống thảm họa nói chung và nhiễm độc nói riêng cho các lớp CK1,
CK2, cao học, nội trú, lồng ghép vào chơng trình CK định hớng.
c. Chơng trình giảng về xử trí thảm họa có thực hành thực hiện trong chơng trình
đào tạo y tá điều dỡng phần CC ở trờng Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai
và Đại học Điều dỡng Nam Định, do Gs Vũ Văn Đính đợc phân công chuẩn bị.
d. Với sự tham gia tích cực của nhóm nghiên cứu KC 10 13, các sở y tế Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập đợc một mạng lới CC thảm họa nói chung và
thảm họa ngộ độc nói riêng có sự tham gia của tất cả các bệnh viện Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh dới sự lãnh đạo trực tiếp của các Sở Y tế và sự chỉ đạo của
Vụ Điều trị và GS. Lê Ngọc Trọng Thứ trởng Bộ Y tế.3. Các mẫu thống kê đã làm và các thống kê đã thực hiện
a. Bảng thống kê về Độ nặng của nhiễm độc Poison Severity Score (PSS) đã đợc
dịch ra Tiếng Việt và đa vào nghiên cứu trong luận văn cao học của Bác sĩ CKII
Nguyễn Hữu Hà: Nghiên cứu tình hình ngộ độc cấp các thuốc thờng gặp tại TTCĐ
BV Bạch Mai trong 2 năm 2002-2003
b. Bảng điều tra thống kê tình hình nhiễm độc tại các bệnh viện tỉnh.
Bảng thống kê này đã đợc thực hiện tại 33 tỉnh cho phép kiểm soát đợc khả năng
gây độc nhiều nhất ở mỗi địa phơng.
i. Lời mở đầu
Ngày nay, nhờ sự phát triển tột bực của KHKT, loài ngời ngày càng mở
rộng khả năng sử dụng các hóa chất, khoáng chất và cả dợc chất để phục vụ cho
đời sống. Và cũng trong vài thập kỷ vừa qua, không chỉ những ngời làm công tác y
tế mà cả những quan chức chính quyền các cấp đều nâng cao nhận thức về những
nguy cơ và tác hại của ngộ độc hóa chất, độc chất đã và đang đe dọa tính mạng, sức
khỏe của toàn nhân loại.
Mỗi quốc gia trên thế giới lại có những loại độc chất khác nhau trong tự
nhiên từ thực vật, động vật, hay thậm chí ngay cả những thói quen sinh hoạt cũng có
thể làm cho ngời dân của nớc đó có thể bị ngộ độc; các quốc gia, các bệnh viện
địa phơng thờng đa ra những thông báo về nguy cơ ngộ độc và số lợng nạn
nhân bị ngộ độc ngày một tăng lên trong các KCC.
Trên phạm vi toàn thế giới, có 10.000 hóa chất cơ bản do con ngời tạo ra
đợc sử dụng thờng xuyên, và mỗi năm trên thị trờng lại xuất hiện thêm từ một
đến hai ngàn hóa chất mới, ở các quốc gia công nghiệp phát triển, có hàng triệu sản
phẩm thơng mại làm từ các hóa chất hỗn hợp, và một phần ba trong số này đợc
thay đổi hình thái hàng năm. Điều này cũng giống nh ở các nớc đang phát triển
nhng có tốc độ phát triển công nghiệp nhanh. Và ngay cả ở những nớc phát triển
nhất, việc sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp nh thuốc trừ sâu, phân bón, các
hóa chất công nghiệp cơ bản, đặc biệt công nghiệp có tỉ trọng nhỏ dùng trong đời
sống gia đình và các sản phẩm công nghiệp khác nh dợc phẩm cũng gia tăng.
Mỗi cá thể dễ bị nhiễm hóa chất độc, thờng trong vài phút cấp tính hay ít
một dần dần trở thành mãn tính thông qua môi trờng khí, nớc, hay thực phẩm, có
thể gây tử vong ngay hoặc một thời gian sau. Đặc biệt nếu một số lợng lớn ng
ời bị
7
nhiễm độc, nhiều ngời tử vong và thơng vong trở thành một thảm họa hóa chất.
Thảm họa này dẫn đến hậu quả của các ngộ độc cấp tính và ngộ độc mãn tính.
Cũng nh vậy, tinh vi hơn, ngộ độc một bệnh nhiễm trùng có thể thông qua
8
TTCĐ; Bộ Quốc phòng cũng thành lập một TTCĐ viện 103 nhằm đáp ứng những
yêu cầu mới của lĩnh vực dự phòng và điều trị ngộ độc trong quân đội.
Vì thế, đề tài này đợc nghiên cứu xây dựng nhằm mục tiêu sau:
1.Nghiên cứu xây dựng mô hình hệ thống phòng chống độc ở Việt Nam.
2.Xây dựng các tiêu chuẩn chẩn đoán và phác đồ điều trị ngộ độc cấp đối với chất
độc có khả năng gây độc hàng loạt trong công nghiệp, nông nghiệp và đời sống.
9
ii. Nội dung chính
A.Tổng quan tình hình ngộ độc trên thế giới
1. Lịch sử:
Từ chất độc (poison) xuất hiện đầu tiên trong văn học Anh những năm
1930 đợc mô tả nh một loại nớc uống có thành phần độc chết ngời. Tuy nhiên,
lịch sử về chất độc (poison) và ngộ độc (poisoning) đã có từ hàng ngàn năm trớc
đó. Chất độc đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử loài ngời, và nó đợc xem là
kẻ ám sát ngời đứng đầu đế chế La mã.
Song song với sự hiểu biết về môi trờng, nhân loại cũng biết đến độc chất và
các chất độc đợc phát hiện sớm nhất trong thời cổ đại là đợc chiết tách từ cây cỏ,
nọc độc và khoáng chất.
- Cây độc: aconite (củ ấu tàu), cyanide (vỏ sắn, măng tơi, prunus specise),
opium (cây thuốc phiện), strychnine (mã tiền).
- Độc vật và cá độc: cantharides (sâu ban miêu), cá nóc, bọ cạp, rắn độc, cá
độc đuôi gai, ong đốt
- Chất khoáng độc: antimony, arsenic, đồng, chì, thủy ngân
Với những chất độc trên, ngời cổ xa thờng dùng để săn bắn, đánh nhau
trở thành những sự kiện thờng gặp, đặc trng về môi trờng nhiễm độc của chúng
ta. Các thảm họa ngộ độc trên thế giới trong vòng 10 năm gần đây lại càng trở nên
nguy hiểm hơn, tàn khốc hơn vì đó là những vụ khủng bố chất độc (Toxic
Terrorism) nh dùng khí Sarin trong vụ Matsumoto, Tokyo (Japan) năm 1994 và
1995.
2.1.Thảm họa khí độc (xem thêm phụ lục)
Khí độc vào cơ thể qua đờng hít thở, đôi khi vào bằng đờng tiêu hóa, vì thế
sẽ có một khối lợng ngời bị ngộ độc khí độc, có thể từ tự nhiên: vỡ núi lửa, hay
một sai lầm về cháy xí nghiệp, sập hầm, nổ thùng chứa khí CO
2
Các khí độc gây
ra thảm họa chết ngời hàng loạt thờng là Chlorine, Phosgene, Mustand, NO
2
, CO,
NO, CO
2
, SO
2
, Methyisocianate, Sarin, Hydrofluoric acid đặc biệt trong những
cuộc chiến tranh gần đây, chẳng hạn nh cuộc chiến tranh ở Việt Nam, đế quốc Mỹ
đã sử dụng rộng rãi tác nhân màu da cam (Agent Orange) hủy diệt. Các chất diệt
cây cỏ này bao gồm hợp chất 2,4,5-Trichlorophenoxyacetic acid (gọi là 2,4,5-T) và
2,4-dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D), cũng nh một số lợn nhỏ chứa Dioxin
(2,3,7,8 Tetrachlorodibenzo-p-Dioxin). Các chất này chẳng những hủy diệt cây cỏ,
động vật và con ngời Việt Nam mà đến nay vẫn còn để lại nhiều độc hại cho những
11
ngời dân và ngời lính trong nhiều năm nh: ung th da, tật bẩm sinh, dị dạng, ung
th máu.
12
2.5.Thảm họa thuốc nhập lậu và rợu
Trong lịch sử, có nói đến các loại rợu chiết xuất từ một giống cử gừng
Jamaican, gọi là Jake thực chất là ngộ độc Triorthocresylphosphate (TOCP) một
chất ngộ độc thần kinh nặng gây liệt tứ chi. Ngộ độc Methanol trong Whiskey, rồi
một số thuốc gây nghiện nh Fentanyl, Heroin, Meperidin.
3. Xu thế mới của thế giới về độc học trong những năm gần đây
Do yêu cầu bức thiết về t vấn, chẩn đoán và xử trí ngộ độc, đã có nhiều nớc
tiên phong trong việc thiết lập chơng trình phòng chống ngộ độc cho quốc gia của
mình. Chơng trình này chú trọng vào mục tiêu dự phòng và hớng dẫn xử trí ngộ
độc. Trong mỗi quốc gia, hình thành 1 hay nhiều TTCĐ. Năm 1980 tổ chức WHO
xây dựng chơng trình an toàn hóa chất (IPCS). Chơng trình này là một sự hợp tác
của chơng trình lao động thế giới (ILO), chơng trình môi trờng các quốc gia
(MNEF) và tổ chức y tế thế giới (WHO). IPCS đã và đang làm việc hợp tác với hàng
loạt các tổ chức nghề nghiệp trên thế giới trong phạm vi dự phòng và điều trị ngộ
độc. IPCS giúp đỡ t vấn cho các quốc gia trong xây dựng hệ thống mạng lới
chống độc, khuyến khích các quốc gia trong xây dựng TTCĐ. Tại các hội nghị quốc
tế lớn về chống độc đợc tổ chức ở nhiều quốc gia khác nhau, IPCS đa ra khuyến
cáo hớng dẫn dự phòng ngộ độc, đặc biệt là vai trò quan trọng của các TTCĐ với
các phơng tiện lâm sàng và phân tích độc chất và một hệ thống thống kê số liệu
ngộ độc ở mỗi nớc.
3.1. Sự hình thành các TTCĐ
Những khó khăn, phức tạp trong lĩnh vực chất độc và ngộ độc đã đợc loài
ngời thừa nhận dẫn đến những yêu cầu bức bách phải có những phơng tiện chuyên
ngành nhằm dự phòng, chẩn đoán và xử trí ngộ độc phục vụ cho sức khỏe con ngời.
Tr
ớc hết là sự ra đời đầu tiên của một Trung tâm thông tin về ngộ độc (Poison
Information Center) đợc hình thành ở Bắc Mỹ và Châu Âu trong những năm 1950.
phơng tiện và trang bị phục vụ cho chuyên ngành độc học trong toàn quốc gia, có
thể đáp ứng phát triển trong tơng lai gần theo tiêu chuẩn của IPCS.
Nhóm C: Có đủ phơng tiện nh TTCĐ nhng đòi hỏi phải đợc sự hỗ trợ, giúp đỡ
nhiều mới đáp ứng đợc với tiêu chuẩn của IPCS, cha mở rộng địa bàn phục vụ
trong toàn quốc.
Nhóm D: Các quốc gia này cha có 1 TTCĐ rõ ràng, nhng b
ớc đầu đã có những
chuẩn bị cho thiết lập 1 TTCĐ
14
Nhóm E: Cha có một hoạt động nào nhằm thiết lập TTCĐ ở mức độ, nhng họ đã
có thể sử dụng các TTCĐ của các nớc láng giềng theo sự thỏa thuận 2 bên (ví dụ
Andorra, Luxembourg, Monaco, San Marino)
ở thời điểm này,Việt Nam đợc IPCS xếp trong nhóm D (có Khoa Chống độc
và xây dựng đơn vị thông tin Chống độc) cùng với một số nớc ở Châu á nh Lào,
Campuchia, Myanmar, Guinea, Bangladesh, Jordan, Kuwait
3.2. Mô hình của một TTCĐ ở các nớc phát triển
Một TTCĐ là một tổ chức, tổ chức này phục vụ trong một vùng dân c từ 1-10
triệu dân về các vấn đề sau:
3.2.1. Thông tin về ngộ độc: hớng dẫn xử trí ngộ độc và t vấn về phơi nhiễm chất
độc
3.2.2. Giám sát chặt chẽ để đạt đợc sự loại bỏ tối đa những thứ độc hại cho cộng
đồng
3.2.3. Giáo dục cộng đồng và đồng nghiệp trong dự phòng chẩn đoán và xử trí ngộ
độc
Hệ thống TTCĐ gồm 2 hay nhiều hơn các TTCĐ đợc kết nối cùng chức năng và
nối mạng nhằm phục vụ về ngộ độc.
Hệ thống TTCĐ tiêu chuẩn quốc gia gồm các TTCĐ cá thể đợc công nhận đạt tiêu
chuẩn
Chức năng, nhiệm vụ của một TTCĐ tiêu chuẩn quốc tế trong dự phòng và xử trí
Số điện thoại quốc gia
-
Có thể làm việc giữa 2-3 TTCĐ để đáp ứng với cộng đồng
-
Đội ngũ nhân viên 24giờ/ngày, 7ngày/tuần
o Y tá chuyên môn
o
Dợc sĩ
o Bác sĩ
Tất cả cả TTCĐ đều sử dụng các phác đồ hớng dẫn và xử trí ngộ độc từ TTCĐ
quốc gia có các chuyên gia về chống độc
Tất cả các TTCĐ đều có chung cách thu thập số liệu qua gọi điện thoại và sử dụng
chức năng của mình.
+ Chức năng, nhiệm vụ của một TTCĐ
Một TTCĐ tiêu chuẩn có những chức năng sau:
Điều trị ngộ độc (đơn vị hay Khoa lâm sàng ngộ độc):
Có một vị thế tối u trong một bệnh viện đa khoa hiện đại
Luôn luôn ở trong hay gần một bệnh viện
-
Nhận điều trị tối u các BN ngộ độc cấp và mãn: các BN này có thể nằm điều
trị ở nhiều nơi: tại chỗ, khi vận chuyển, trong KCC, Khoa Bệnh nghề nghiệp,
Khoa Điều trị tích cực, KHoa Nhi, KHoa Nội hay một Khoa lâm sàng chuyên
T vấn qua điện thoại (Telephone Advice)
TTCĐ quốc gia
TTCĐ vùng TTCĐ vùng
Gia đình, cộn
g
đồn
g
nghiệm) trong điều tị
+ Phát triển các biện pháp điều trị đặc hiệu (thuốc giải độc)
+ Giám sát các trờng hợp ngộ độc gây di chứng
+ Nghiên cứu hoàn cảnh dẫn đến ngộ độc và yếu tố đe dọa (từ số liệu thống kê)
+ Xây dựng các phác đồ điều trị các ngộ độc cấp thờng gặp
+ Cung cấp hoàn chỉnh các phơng tiện, trang bị cho việc chẩn đoán và điều trị ngộ
độc
+ Hoàn chỉnh dần các thuốc giải độc và các thuốc khác
+ Huấn luyện độc học lâm sàng cho đồng nghiệp
Thông tin chống độc (Poison Information Center)
Đơn vị hay Trung tâm Thông tin Chống độc là một đơn vị đặc biệt đóng vai trò quan
trọng đa ra những thông tin về ngộ độc nói chung cho toàn cộng đồng. Chức năng
chính là chuẩn bị đầy đủ thông tin ngộ độc, t vấn, hớng dẫn các trờng hợp ngộ
độc, các xét nghiệm phân tích độc chất, các hoạt động cảnh báo ngộ độc, nghiên
cứu, giáo dục và đào tạo trong dự phòng và điều trị ngộ độc
Chống độc còn có vai trò quan trọng chuẩn bị kế hoạch cho những tình huống bất
ngờ về ngộ độc xảy ra nh thảm họa khủng bố ngộ độc; theo dõi các phản ứng tác
dụng phụ của thuốc và những vấn đề lạm dụng thuốc. Để làm đầy đủ chức năng của
Trung tâm Thông tin Chống độc, nó còn hợp tác làm việc không chỉ với các Trung
tâm liên quan mà còn với các ngành khác liên quan tới dự phòng và đáp ứng khi có
ngộ độc xảy ra.
17
Chức năng chính của đơn vị thông tin Chống độc
Cung cấp thông tin, cảnh báo ngộ độc cho cộng đồng.
- Qua Telephone, email, trang web.
- Các phơng tiện thông tin đại chúng: báo, sách, tờ rơi, truyền hình, đài phát thanh.
T vấn, hớng dẫn phòng và xử trí ngộ độc cho đồng nghiệp và cộng đồng:
Tại
cộng đồng, các vùng xa xôi, các phơng tiện chẩn đoán, cách vận chuyển và xử trí
- Nghiên cứu về dợc độc học và cơ chế gây độc kết hợp với lâm sàng và thông tin
về ngộ độc.
Các trang bị phơng tiện máy móc cho một phòng xét nghiệm độc chất hiện đại là
rất quan trọng, tuy nhiên nó đòi hỏi vào khả năng, đội ngũ đào tạo và kinh phí cần
thiết.
Chơng trình thuốc giải độc (Antidote)
Thuốc giải độc có thể đóng một vai trò quan trọng trong điều trị ngộ độc,
trong khi các biện pháp điều trị hồi sức khác nhằm hỗ trợ cho cơ thể ổn định các
chức năng. Sử dụng một thuốc giải độc thích hợp có thể làm tăng đào thải chất độc
hay làm mất tác dụng gây độc của chất đó và kết quả là làm giảm ngày nằm viện,
giảm độ nặng và giảm tử vong cho ngời ngộ độc, và nhất là ở các nớc thiếu các
phơng tiện cho điều trị hồi sức tích cực, thuốc giải độc sẽ cần thiết hơn trong điều
trị ngộ độc. Ví dụ một BN bị rắn cạp nia cắn phải điều trị tích cực với thở máy kéo
dài 1 tháng nếu không có huyết thanh kháng nọc, chi phí nằm viện tốn kém hàng
trăm triệu đồng (Việt Nam) nhng nếu có huyết thanh kháng nọc rắn, BN chỉ nằm
viện trong 2,3 ngày, tốn kém chỉ khoảng 5 10 triệu đồng.
Một số các thuốc giải độc thông thờng dễ sử dụng cần đợc đa vào sản xuất hay
nhập nh: than hoạt, Atropin, Pralidoxine, Calcium chloride, Sodium nitrite, Xanh
Methylene, Naloxone, Acetyl cysteine
Tuy nhiên các thuốc giải độc cho những tác nhân độc nguy hiểm cũng cần đợc
nghiên cứu và dự trữ, dự phòng nh các thuốc giải độc kim loại nặng, khí độc có độc
lực mạnh (Phụ lục các thuốc giải độc).
4. Ngộ độc hàng loạt và nguyên tắc tổ chức CC ngộ độc hàng loạt trên thế giới
4.1. Đại cơng về ngộ độc hàng loạt
Các vụ ngộ độc hàng loạt (Mas Incidents) đợc gây ra bởi các nguyên liệu
độc hại (Hazardus materials incidentss), các nguyên liệu độc hại này gây tổn thất tới
tính mạng con ngời, của vật chất và môi trờng sống, các nguyên liệu độc hại bao
gồm một độc tố (a. toxin) hay một chất độc (a toxicant). Tùy thuộc vào cấu trúc hóa
acide, hydrochlocide acide
Đờng vào của chất độc gây ngộ độc hàng loạt thờng gặp nhất là
-
Đờng hít thở: 70%
-
Đờng thở + da: 13%
-
Đờng da và miên mạc: 3%
- Đờng tiêu hóa: 14%
Các đờng vào cơ thể gây ngộ độc
Ngời cứu nạn nhân cần phải biết chất độc vào cơ thể nạn nhân bằng đờng nào,
hoàn cảnh nào trong 4 đờng sau đây.
20
-
Đờng hít thở qua hệ thống hô hấp.
-
Đờng qua da và niêm mạc do tiếp xúc
-
Đờng tiêu hóa qua hệ thống tiêu hóa.
-
Đờng dới da, trong cơ, tĩnh mạch.
Có những hóa chất vào cơ thể chi qua một con đờng, có những hóa chất vào cơ thể
2, 3 đờng cùng một lúc, sự tổn thơng cơ quan có thể tại chỗ, nhng có thể toàn
thân ví dụ: ammonia là một chất ăn mòn, hòa tan trong nớc dễ hình thành dạng
ammonium hydroxide 1 kiềm mạnh và chỉ có tác dụng tại chỗ nh niêm mạc đờng
hô hấp, còn hydrogensulfide là một hóa chất nguy hiểm tác dụng không chỉ bào
mòn tại chỗ màng niêm mạc, mà còn hấp thụ, khuyếch tán tác dụng toàn hệ thống,
gắn vào cytochsome oxidase chặn quá rình chuyển hoá hiếu khí giống nh cyamide.
Gây độc qua đờng hít thở là một đờng hay gặp trong ngộ độc nghề nghiệp
hoả, 82% ôtô trên mặt đất, 4% trên không và dới nớc)
Gây độc với:
-
Một hoá chất: 96,5% trong các vụ ngộ độc
-
Hai loại hoá chất: 2,1% trong các vụ ngộ độc
-
Trên hai loại hoá chất: 1,4% trong các vụ ngộ độc
4. 3. Các biểu hiện lâm sàng trong các vụ ngộ độc hàng loạt
Các tổn thơng gây ra cho các nạn nhân ngộ độc hoá chất theo báo cáo của HEES
năm 1988 nh sau:
Loại tổn thơng Số ngời %
Hệ hô hấp 901 32,4
Thở nhanh nông 153 5,5
Kích thích mắt 354 12,7
Kích thích da 298 10,7
Dạ dày ruột 267 9,6
Đau đầu 239 8,6
Chóng mặt 200 7,2
Chấn thơng 123 4,4
Bỏng hoá chất 95 3,4
Bỏng nhiệt 44 1,6
Khác 56 2
Tổng cộng 2783 100
Một thống kê của bang Washington đánh giá trên 202 nạn nhân của 87 vụ ngộ độc
hàng loạt trong ngày đầu tiên triệu chứng bao gồm:
Đau đầu: 40%, ho 30%, ngứa - chảy nớc mắt 32%, sng đau họng 32%, chóng mặt
32%, đau tức ngực 26%, nôn và buồn nôn 20%, tăng huyết háp thoáng qua 27%.
- 8 ngày sau triệu chứng bao gồm: Mệt 8%, ho 8%, chảy mũi và đau họng 8%,
Bao gồm các trang bị phòng hộ cá nhân
-
Hệ thống phát hiện theo dõi (cả cho ngời cứu và nạn nhân)
-
Trang bị tẩy khử độc (nớc, xà phòng vv )
- Thuốc, dịch truyền và phơng tiện y tế khác
5.4. Đào tạo, huấn luyện:
-
Đào tạo kiến thức chung về ngộ độc hàng loạt
-
Đào tạo chuyên biệt cho những ngời cứu hở, VCCC, cho cảnh sát và cho y
tế
5.5. Tổ chức và điều phối trớc bệnh viện khi có ngộ độc hàng loạt:
- Chỉ huy: UBPC thảm hoạ quốc gia, vùng bao gồm: cảnh sát, cứu hoả, vận chuyển y
tế.
23
- Bộ Y tế, phòng cháy chữa cháy, TTCĐ, vệ sinh phòng dịch quân đội
Xác định và đánh giá chất độc
Cần phải xác định sớm loại hoá chất gây độc ấy là gì, diện tích ô nhiễm, độ độc hại.
Định vị vùng: vùng đỏ, vàng, xanh
Nguyên tắc chung:
-
Bảo vệ an toàn cho tất cả ngời cứu và nạn nhân.
-
Chăm sóc y tế cho nạn nhân kịp thời
-
Tẩy độc quần áo, trang bị và phơng tiện giao thông
Vùng nguy hiểm ( đỏ = nóng)
Phiếu phân loại BN (patient tagging)
Hớng dẫn nạn nhân
- Sắp xếp di rời nhanh ra khỏi vùng đỏ
- Tự làm sạch và bảo vệ cá nhân (nớc+xà phòng)
Cung cấp nớc sạch, thực phẩm sạch, quần áo sạch ở vùng vàng và xanh.
- Trang bị CC và Ambulance
- Trang bị y tế và chuyên môn
- Thuốc và thuốc giải độc
Thuốc
- Atropin ống
- Seduxen viên, ống
- Morphin ống
- Amynophylin Theophylin ống
- Salbutamol viên, ống, xịt
- Glucoza 5%
- NaCl 0,9%
- Bicarbonat 14%
- Thuốc rửa mắt, nhỏ mắt
- KS: Biseptol viên/Perflacin viên
Thuốc giải độc
- Than hoạt gói
- Sorbitol gói
- Than hoạt + Sorbitol lọ
- Atropin, 2 PAM
- Xanh methylene ống
- Glucoza