TTCP
VKHTT
THANH TRA CHÍNH PHỦ
Viện khoa học thanh tra
17 Cao Bá Quát
Báo cáo tổng kết
Đề tài độc lập cấp nhà nước: LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO VIỆC XÂY DỰNG
CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG Ở VIỆT NAM CHO ĐẾN NĂM 2020
TS. Mai Quốc Bình
Phó Tổng Thanh tra – Thanh tra Chính phủ
14. Phan An Sa – Chánh Thanh tra Bộ Văn hoá Thông tin.
15. Trần Quang Trung – Chánh Thanh tra Bộ Y tế.
16. ThS. Trần Huy Trường - Trưởng phòng Thanh tra, Bộ Tài chính.
17. Trần Đức Lượng - Vụ trưởng Vụ II, Thanh tra Chính phủ.
18. Cao Văn Thống - Phó vụ trưởng Uỷ ban kiểm tra trung ương.
19. Lê Văn Lân – Vụ trưởng, Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham
nhũng.
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
QSH : Quyền sở hữu
GTGT : Giá trị gia tăng
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
BCH : Ban Chấp hành
CAND : Công an nhân dân
VKSND : Viện Kiểm sát nhân dân
TAND : Toà án nhân dân
CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
HĐND : Hội đồng nhân dân
UBND : Uỷ ban nhân dân
UBTVQH : Uỷ ban thường vụ Quốc hội
NDT : Nhân dân tệ
TTDVMSC : Trung tâm dịch vụ mua sắm công
MSCTT : Mua sắm công tập trung
MỤC LỤC
30
6.1 Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chủ tịch về tham nhũng 30
6.2 Quan điểm của Hồ Chủ tịch về chống tham nhũng 33
Chương II
THỰC TRẠNG, HẬU QUẢ VÀ NGUYÊN NHÂN
THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
39
I. Thực trạng tham nhũng
39
1.1 Khái quát chung về thực trạng tham nhũng và những khó khăn trong việc đánh
giá thực trạng tham nhũng hiện nay
39
1.2 Đánh giá chung tình hình tham nhũng 43
1.3 Tình hình tham nhũng trong một số lĩnh vực cụ thể 52
1.4 Đối tượng tham nhũng 61
II. Các hậu quả của tham nhũng
62
2.1 Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, của tập thể và của
nhân dân.
62
2.2 Tham nhũng cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước. 62
2.3 Tham nhũng làm thay đổi, xâm phạm, thậm chí đảo lộn những chuẩn mực đạo
đức xã hội, làm vẩn đục mối quan hệ xã hội và những giá trị đạo đức tốt đẹp có tính
truyền thống của dân tộc.
63
2.4 Tình trạng tham nhũng của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước làm hoạt động
công vụ trở thành hoạt động vụ lợi, tha hoá.
63
2.5 Tham nhũng xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với sự
nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM
72
I. Về những kết quả đã đạt được trong công tác đấu tranh chống tham nhũng
73
1.1. Về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng 73
1.2. Công tác phòng ngừa phát hiện và xử lý tham nhũng của các cơ quan nhà nước 77
1.3 Sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, nhân dân và các cơ quan thông tin đại
chúng vào đấu tranh chống tham nhũng
91
II. Về những hạn chế, nhược điểm trong công tác phòng, chống tham, nhũng
93
2.1. Việc ban hành chủ trương, chính sách, giải pháp về phòng, chống tham nhũng
còn chậm và thiếu những quy định chưa chặt chẽ, tính khả thi chưa cao.
93
2.2. Hạn chế trong việc thực hiện chủ trương, giải pháp của Đảng và Nhà nước về
phòng, chống tham nhũng.
94
2.3 Thiếu cơ chế để bảo đảm an toàn và động viên nhân dân cũng như các cơ quan
thông tin đại chúng, nhà báo tích cực tham gia phát hiện và đấu tranh chống tham
nhũng.
99
2.4 Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm về tham nhũng thường gặp
nhiều khó khăn hơn so với các tội phạm khác.
101
2.5 Việc phối kết hợp kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, công chức có hành vi tham
nhũng còn chưa có hiệu quả.
102
III. Nguyên nhân của những tồn tại, thiếu sót trong tổ chức phòng, chống tham
nhũng
104
TRONG LỊCH SỬ NƯỚC TA VÀ TRÊN THẾ GIỚI
137
I. Sơ lược lịch sử về chống tham nhũng ở nước ta
137
1.1 Pháp luật chống tham nhũng thời kỳ phong kiến 137
1.2 Pháp luật chống tham nhũng từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 147
II. Quan niệm về tham nhũng và chủ trương phòng, chống tham nhũng của các
nước trên thế giới
150
2.1 Quan niệm về tham nhũng 150
2.2 Tình hình phòng, chống tham nhũng của một số nước trên thế giới 152
III. Những giải pháp phòng, chống tham nhũng chủ yếu ở các nước
157
3.1 Các giải pháp phòng ngừa tham nhũng 157
3.2 Các biện pháp phát hiện tham nhũng 165
3.3 Các biện pháp xử lý tham nhũng 168
IV. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chống tham
nhũng
170
4.1 Khái quát mô hình tổ chức của các cơ quan chống tham nhũng trên thế giới 170
4.2 Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chống tham nhũng theo các mô hình khác
nhau
170
V. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng
177
5.1 Những quy định chung 177
5.2 Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng 178
5.3 Hình sự hoá và thực thi pháp luật: 180
5.4 Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi phê chuẩn Công ước 181
VI. Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế trong đấu tranh chống tham nhũng
1.6 Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan,
tổ chức hoặc ngành lĩnh vực, địa phương mà mình phụ trách
211
1.7 Cải cách chế độ tiền lương nhằm phòng ngừa tham nhũng. 211
1.8 Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động công vụ của các cơ quan nhà
nước và các cán bộ công chức nhà nước.
214
II. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, xã hội nhằm nâng
cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng
214
2.1 Về quản lý và sử dụng đất đai 214
2.2 Công tác quản lý đầu tư xây dựng và hoạt động mua sắm công. 215
2.3 Đẩy mạnh cải cách nền tài chính công, kiểm soát tốt hơn nữa công tác thu chi,
ngân sách
218
2.4 Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; tăng cường quản lý vốn
và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp
221
2.5 Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng 221
III. Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ
quan nhà nước trong đấu tranh chống tham nhũng
227
3.1 Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan có chức năng phát hiện và xử lý
tham nhũng.
227
3.2 Sửa đổi quy định của pháp luật nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh đối tượng
tham nhũng.
229
3.3 Sửa đổi, bổ sung chính sách hình sự và các biện pháp phát hiện tham nhũng 229
3.4 Nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét
Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài: Đánh giá một cách toàn diện thực
trạng tham nhũng và cơ chế phòng, chống tham nhũng hiện nay, từ đó dự
báo về tình hình tham nhũng trong thời gian tới và đưa ra những luận cứ
khoa học cho hình thành Chiến lược chống tham nhũng ở Việt Nam đến năm
2020.
Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của Đề tài và sự
cần thiết phải nghiên cứu Đề tài: Phòng, chống tham nhũng luôn là vấn đề
được quan tâm tại nhiều nước trên thế giới và hiện nay đang trở thành vấn đề
có tính chất quốc tế. Tại nhiều nước cũng như một số tổ chức quốc tế có các
công trình nghiên cứu hoặc đánh giá về vấn đề này. Tuy nhiên
ở mỗi nước
đều có những điều kiện về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa khác nhau nên
định hướng và kết quả nghiên cứu các giải pháp đấu tranh chống tham
nhũng cũng khác nhau. Kinh nghiệm cho thấy các giải pháp đấu tranh chống
tham nhũng ở các nước là khác nhau và cần có sự nghiên cứu, vận dụng một
cách có lựa chọn.
Thanh tra Chính phủ, Ban chỉ đạo TW 6 (lần 2), Ban Nội chính TW
Đảng, Bộ Tài chính đã có những nghiên cứ
u, đánh giá bước đầu về thực
trạng, nguyên nhân tham nhũng và đưa ra một số kiến nghị về đổi mới cơ
chế, chính sách quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham
nhũng.
Ngoài ra, từ trước đến nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu
khoa học về chống tham nhũng, những thường nghiên cứu tham nhũng ở
từng phương diện cụ thể hay từng l
ĩnh vực cụ thể và chủ yếu nghiên cứu
tham nhũng với tính chất là một tội phạm hình sự. Chưa có công trình
nghiên cứu nào nghiên cứu toàn diện cơ sở khoa học vấn đề tham nhũng và
chống tham nhũng, đặc biệt là nghiên cứu tham nhũng như một hiện tượng
chính trị - văn hoá - xã hội để tìm ra các giải pháp có tính chất tổng thể nhằm
triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay cũng như dự báo trước
những nguy cơ và chiều hướng phát triển của tệ tham nhũng trong những năm
tiếp theo.
2. Phương pháp hệ thống cấu trúc:
Đặt v
ấn đề phòng, chống tham nhũng trong tổng thể quá trình đổi mới
hệ thống chính trị, đổi mới bộ máy nhà nước và cải các hành chính cũng như
quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
3. Phương pháp so sánh:
Nghiên cứu các biện pháp, giải pháp phòng chống tham nhũng trong
lịch sử Việt nam và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, tìm ra những vấn
đề có tính quy luật, những điểm chung có thể áp dụng trong đi
ều kiện Việt
Nam.
4. Phương pháp điều tra xã hội học:
Cần thiết phải đánh giá nhận thức và phản ứng của xã hội đối với tệ tham
nhũng, từ đó xem xét các khả năng và yếu tố nhằm thức đẩy sự tham gia của
xã hội vào đấu tranh phòng chống tham nhũng.
5. Phương pháp mô hình hoá:
Đề tài hướng tới việc tìm ra các giải pháp cụ thể cho đấu tranh phòng
chống tham nhũng cho nên cần mô tả sự hình thành, phát triển tệ tham nhũng
nói chung và các biện pháp tác động nhằm ngăn ngừa tham nhũng, đồng thời
mô tả một số hành vi tham nhũng điển hình và sự tham tham gia của các yếu
tố có liên quan. Trên cơ sở đó nêu ra các hướng tác động nhằm đấu tranh
ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới loại trừ tham nh
ũng. Để đạt mục tiêu nghiên cứu
đó, Đề tài đã thực hiện các công việc chính sau: thu thập thông tin tài liệu
trong nước và nước ngoài về chống tham nhũng; tiến hành điều tra xã hội
học, khảo sát thực tế trong nước và ngoài nước; phân tích tài liệu, số liệu điều
tra khảo sát; tổ chức hội thảo khoa học. Về phương pháp nghiên cứu, Đề tài
“Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân
và là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”
1
. Nghị quyết Đại hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Tích cực
phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của
xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh
đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn
đe doạ s
ự sống còn của chế độ ta”
2
. Thể chế hoá quyết tâm, chủ trương của
Đảng, ngày 29/11/2005, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 đã ban hành Luật
Phòng, chống tham nhũng nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh chống
tham nhũng. Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Luật phòng, chống
tham nhũng của Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều hoạt động thiết thực như ban
hành chương trình hành độ
ng, hoàn thiện thể chế, huy động và kiện toàn lực
lượng, tổ chức bộ máy để phục vụ cho công tác phòng, chống tham nhũng. 1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, 2002, Tr 76.
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 45,46
13
Với những nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước, công cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng tham nhũng của Việt Nam thời gian vừa qua đã đạt
được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những kết quả bước
a Bộ
trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công
nghệ). Đây là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, liên quan đến
nhiều vấn đề thuộc về thể chế chính trị và tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà
nước cũng như các yếu tố về kinh tế xã hội. Mục tiêu chính của đề tài là nhằm
nghiên cứu một cách toàn diện thự
c trạng tham nhũng ở Việt Nam, những
nguyên nhân chủ yếu của tham nhũng, những biểu hiện mới của tham nhũng
14
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường để từ đó đề ra các giải pháp có
tính chất chiến lược, lâu dài để đấu tranh với tệ nạn này; góp phần bảo đảm sự
phát triển bền vững của nhà nước và xã hội theo những nguyên tắc cơ bản của
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Qua hơn hai năm thực hiện, nhiều nội dung nghiên c
ứu của đề tài đã được
triển khai tích cực và có kết quả. Các chuyên đề nghiên cứu đã được thực hiện
với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, những người làm công tác quản
lý cũng như những cán bộ, công chức trực tiếp tham gia vào quá trình hoạch
định chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Kết quả nghiên cứu của
các chuyên đề cũng được tổng thuật và đưa ra thảo luậ
n trong các nhóm chuyên
gia để đánh giá cho ý kiến tiếp tục hoàn chỉnh. Để đề tài phản ánh đúng yêu cầu
của thực tiễn, Ban Chủ nhiệm đề tài đã tổ chức việc khảo sát tại một số địa
phương để đánh giá về nhận thức về tham nhũng của các tầng lớp nhân dân hiện
nay. Ngoài ra, Ban chủ nhiệm Đề tài cũng đã tiến hành chuyến khảo sát nghiên
cứu tạ
i Ba Lan và Cộng hoà Liên bang Đức về kinh nghiệm phòng, chống tham
nhũng và tập hợp nghiên cứu nhiều tài liệu về phòng, chống tham nhũng ở các
nước và các tổ chức quốc tế.
tổng kết và hệ thống hoá những vấn đề lý luận về tham nhũng và đấu tranh
ch
ống tham nhũng để từ đó hình thành cơ sở cho việc xây dựng chiến lược
phòng, chống tham nhũng của Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong Báo cáo Tổng thuật gồm:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về tham nhũng và công tác đấu
tranh chống tham nhũng
Chương II: Thực trạng, hậu quả và nguyên nhân tham nhũng ở Việt
Nam
Chương III: Tình hình công tác đấu tranh chố
ng tham nhũng ở Việt
Nam
Chương IV: Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
với nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng
Chương V: Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng trên thế giới
Chương VI: Các giải pháp phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh
chống tham nhũng và việc xây dựng chiến lược phòng, chống tham nhũng ở
Việt Nam 16
4
.
Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực nhà
nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân
sách, vốn, tài sản của Nhà nước). Việc giới hạn này là nhằm tập trung đấu tranh
chống những hành vi tham nhũng xảy ra phổ biến nhất, bảo đảm tính trọng tâm,
trọng điểm, góp phần nâng cao hiệ
u quả trong đấu tranh chống tham nhũng.
Mặt khác, việc giới hạn như vậy cũng thích hợp với việc áp dụng các biện pháp
phòng, chống tham nhũng như kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt
động của bộ máy nhà nước, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu…, là các
biện pháp chỉ áp dụng đối với với cán bộ, công chức thuộc khu vực nhà nước. 3
Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn Ngữ Học – NXB Đà Nẵng 2004.
4
Khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng
17
Đối với khu vực ngoài nhà nước, khi có vụ việc xảy ra thì pháp luật cũng đã có
những sự điều chỉnh nhất định… Bên cạnh đó, cũng có trường hợp người có
chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà
nước câu kết, móc nối với những người thoái hoá, biến chất trong khu vực nhà
nước hoặc lợi dụng ảnh hưởng của nhữ
ng người này để trục lợi; nhưng trong
những trường hợp đó, họ đã trở thành đồng phạm khi những người có hành vi
tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc xác định rõ ràng và có quan niệm đúng đắn về tham nhũng là một
trong những yếu tố quan trọng bảo đảm tính hiệu quả trong đấu tranh phòng và
vậy, chúng ta cần nghiên cứu đưa ra những cơ chế phù hợp với yêu cầu mới của 5
Kết quả điều tra xã hội học do Viện Khoa học Thanh tra thực hiện trong khuôn khổ đề tài "Luận cứ khoa học
cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng cho đến
năm 2020"
18
cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Có thể hiện nay, vấn đề này còn chưa gay gắt
nhưng chắc chắn trong một vài năm tới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thị trường, vấn đề chống tham nhũng trong các khu vực ngoài nhà nước sẽ trở
nên bức thiết. Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam đã
ký kết và đang trong quá trình phê chuẩn cũng nhấn mạnh v
ấn đề này.
1.2 Các dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng
Như đã trình bày, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới hiện nay vẫn
còn tồn tại nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về tham nhũng. Tương ứng
với mỗi loại khái niệm về tham nhũng là các đặc trưng khác nhau về tham
nhũng. Tuy các khái niệm có phạm vi và mức độ khác nhau, nhưng về cơ bản,
các khái niệm này đều thống nhấ
t với nhau về ba đặc trưng (yếu tố) không thể
thiếu được của tham nhũng, đó là: vị trí công tác, nhiệm vụ, quyền hạn được
giao; sự lợi dụng vị trí đó; có mục đích vụ lợi (cho mình hoặc cho người khác).
Phân tích khái niệm “tham nhũng” theo quy định của pháp luật Việt
Nam, có thể thấy tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau:
- Chủ thể tham nhũng là ngườ
i có chức vụ, quyền hạn.
Đặc điểm của tham nhũng là người có hành vi này phải là người có chức
vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên
Hành vi tham nhũng là hành vi chủ ý, có mục đích. Mục đích của hành vi
tham nhũng phải là mục đích vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý
thì hành vi đó không phải là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi
ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt
được
hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, chủ thể của hành
vi tham nhũng không nhất thiết phải đã đạt được lợi ích mà lợi ích này có thể sẽ
có trong tương lai.
Liên quan đến yếu tố vụ lợi, một trong những điểm yếu của pháp luật
Việt Nam hiện nay là trong đa số các trường hợp, việc đánh giá tính chất và
mức độ nguy hiểm c
ủa hành vi, trên cơ sở đó quyết định hình phạt chỉ nhằm
vào những lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được. Điều đó chỉ phù hợp
với nền kinh tế hiện vật trước đây. Trong cơ chế thị trường, lợi ích vật chất
chạy rất “vòng vèo”, vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào những tài sản phát hiện hoặc
thu hồi đượ
c để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được thì sẽ là không đầy
đủ (trong các tội danh quy định trong Bộ luật hình sự thì việc xác định giá trị
tài sản tham nhũng chủ yếu được tính ra tiền để xác định mức độ nguy hiểm và
quyết định hình phạt). Ngoài ra, các lợi ích vật chất và tinh thần đan xen rất khó
phân biệt (chẳng hạn việc dùng tài sản của nhà nước để phô trương thanh thế,
gây d
ựng uy tín hay các mối quan hệ để dễ bề kiếm chác sau này thì mục đích
của hành vi này vừa là lợi ích vật chất vừa là lợi ích tinh thần )
II. Nguồn gốc và nguyên nhân của tham nhũng
2.1 Nguồn gốc của tham nhũng
Nghiên cứu khái niệm và đặc trưng của tham nhũng cho thấy, vấn đề
quyền lực và lợi ích cá nhân là những dấu hiệu rất cơ bản của tham nhũng.
Tham nhũng luôn luôn gắn vớ
i quyền lực và lợi ích cá nhân. Qua nghiên cứu
thường thể hiện ở các mặt: hệ thống pháp luật lạc hậu, thiếu đồng bộ, không
hoàn thiện; bộ máy nhà nước cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoạt động kém hiệu
lực, hiệu qu
ả; đội ngũ công chức yếu kém về năng lực, đạo đức; chế độ đãi ngộ
không thỏa đáng trong khi vấn đề trách nhiệm giải trình cũng như kiểm tra, giám
sát, đánh giá không rõ ràng; cơ chế phòng ngừa và xử lý tham nhũng thiếu hoàn
thiện
- Thứ hai, nguyên nhân về kinh tế. Nền kinh tế kém phát triển, đang phát
triển hoặc trong quá trình chuyển đổi vừa là nguyên nhân những cũng là điề
u
kiện, môi trường để phát sinh tham nhũng. Các nguyên nhân cụ thể bao gồm: cơ
chế quản lý kinh tế yếu kém; nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh tế;
khu vực kinh tế do nhà nước nắm giữ chiếm tỷ trọng quá lớn và bất hợp lý về cơ
cấu trong tổng thể nền kinh tế quốc dân trong khi việc cổ phần hoá, tư nhân hoá
tiến hành chậm, có nhiều tiêu cực; hoạt động bảo hộ
, trợ cấp, cấp phép của các
cơ quan nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, thương mại được thực hiện một
cách sai trái, thiếu minh bạch; sự cấu kết giữa công chức, doanh nghiệp nhà
21
nước với doanh nghiệp tư nhân trong khi thực hiện các hoạt động kinh tế của
nhà nước; sự cạnh tranh không lành mạnh vì mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể
kinh doanh
- Thứ ba, nguyên nhân về chính trị. Bộ máy chính trị chuyên quyền, độc
đoán; các cá nhân, gia đình, tập đoàn chính trị lũng đoạn nhà nước, biến nhà
nước thành bộ máy quân sự, gia đình trị; hoạt động chính trị “tiền bạc”, thiế
u
dân chủ; hoạt động tranh cử, thăng quan, tiến chức được đảm bảo bằng quan hệ
chính trị và các lợi ích bất chính; tiền bạc và lợi ích chính trị có mối quan hệ hữu
cơ, tương hỗ là các nguyên nhân căn bản về mặt chính trị dẫn đến hành vi tham
- Tham ô tài sản.
22
- Nhận hối lộ.
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì
vụ lợi.
- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.
- Giả mạo trong công tác vì vụ l
ợi.
- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền
hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì
vụ lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì
vụ lợi.
- Nhũng nhiễu vì vụ lợ
i.
- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm
pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh
tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi
6
.
Việc quy định những hành vi tham nhũng như trên đã tạo thuận lợi cho
công tác đánh giá, xem xét và xử lý những người có hành vi tham nhũng nhưng
phần nào nó cũng gây khó khăn trong việc phát hiệnn và xử lý hành vi tham
nhũng, nhất là khi phân biệt sự khác nhau giữa các hành vi này. Điều này vừa
gây khó khăn cho chính những người “cầm cân nảy mực” khi xác định tội danh
và lượng hình và có thể tạo thành kẽ hở dẫn đến việc áp dụng pháp luật ch
Văn hoá là một khái niệm có nội hàm rộng và được tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau. Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới góc độ nào, thì văn hoá vẫn
được nhìn nhận với ý nghĩa cơ bản của nó, đó là sự giáo hoá con ngườ
i qua vẻ
đẹp của những giá trị, sự vun trồng tinh thần theo chuẩn mực thẩm mỹ chân -
thiện – mỹ. Văn hoá chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, trở thành chuẩn mực cái
đẹp và là nguồn nuôi dưỡng, phát triển, hoàn thiện con người, nâng cao chất
lượng cuộc sống của con người.
Văn hoá (với tư cách là văn hoá của mỗi cá nhân hay văn hoá của một
cộng động, dân tộc – môi trường văn hoá) có tác
động mạnh mẽ đến sự hình
thành nhân cách, tâm hồn, phẩm chất của mỗi con người và nâng cao hiệu quả
hoạt động của họ, cả trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực tinh thần. Sự
tác động đó không mang tính trực tiếp, tức thời mà là một quá trình lâu dài
nhưng rất bền vững. Sự hấp thụ những giá trị đẹp đẽ của văn hoá có thể
ví như
mảnh đất tốt để nuôi dưỡng tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm, ý thức vì
cộng đồng, là cơ sở vững chắc để con người có hành vi xử sự đúng đắn, tránh
xa mọi biểu hiện tiêu cực, trong đó có tham nhũng. Ngược lại, sự nhận thức
lệch lạc về các giá trị chuẩn mực, sự tha hoá trong lối sống… sẽ là những
nguyên nhân mang tính tất yếu của tham nhũ
ng, hối lộ và nhiều hiện tượng tiêu
cực khác. Vì vậy, việc nghiên cứu về tệ nạn tham nhũng rất cần phải được nhìn
nhận dưới góc độ văn hoá, để có thể tìm hiểu một cách sâu sắc những căn
nguyên của nó, lý giải sự tác động của yếu tố con người và những vấn đề về
môi trường, đạo đức, lối sống… với tư cách là những y
ếu tố giữ vai trò quyết 7
4.2.2 Nguồn gốc của tham nhũng
Nguồn gốc của tham nhũng nhìn từ góc độ văn hoá bao gồm nhưng nội
dung sau:
- Chủ nghĩa cá nhân, lối sống coi trọng vật chất và tệ nạn tham nhũng
Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh giao lưu văn hoá
với các quốc gia trên thế giới đã làm cho tư tưởng, văn hoá và lối sống phương
Tây được truy
ền bá vào Việt Nam một cách mạnh mẽ. Bên cạnh những mặt
tích cực thì kèm theo đó là những tác động tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân, lối
sống ích kỷ, thực dụng, coi trọng vật chất. Tâm lý hưởng thụ vật chất đã chế
ngự ý thức quan tâm đến các giá trị tinh thần như lương tâm, tinh thần trách
nhiệm, ý thức tự trọng v.v và chi phối hành vi của con người, trở thành căn
nguyên làm nảy sinh nh
ững hành vi nhũng nhiễu để thoả mãn lợi ích cho cá
nhân, biến tài sản công thành tài sản của mình mà không quan tâm đến những
tác hại do hành vi của mình gây ra đối với lợi ích chung.
25
- Sự tha hoá, biến chất và tham nhũng
Cùng với những ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng còn bắt
nguồn từ chính sự tha hoá, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công
chức, những người giữ vị trí lãnh đạo của cơ quan, doanh nghiệp…
- Sự nhận thức và tệ nạn tham nhũng
Một trong những nguyên nhân gián tiếp dẫn tới việc phát sinh tham
nhũng đó là s
ự nhận thức phiến diện, không đầy đủ về tham nhũng cũng như
tác hại của nó. Nguyên nhân này làm cho tham nhũng ngày càng bám sâu vào
các thiết chế quyền lực và càng khó khắc phục hơn.
Ngoài ra, khi nghiên cứu về văn hoá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,
đặc biệt là văn hoá trong quản lý, điều hành, các nhà nghiên cứu đã phát hiện