cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại về hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 22

1
Tiểu luận

Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại về hội
nhập kinh tế quốc tế 2
Mục lục
I. Cơ sở hoạch định chính sách đối ngoại về hội nhập kinh tế quốc tế 3
1. Cơ sở lý luận 3
2. Cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách hội nhập kinh tế 5
I. Đề xuất chính sách hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá đến 2020 9
1. Mục tiêu, bản sắc, nguyên tắc, phương châm đối ngoại 9
2. Cụ thể hóa nội dung đề xuất đường lối đối ngoại hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa 10

3


4

Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa đặt ra những vấn đề nguyên tắc trong cách tiếp cận, vừa mở ra
các khả năng vận dụng sáng tạo, thích hợp với từng hoàn cảnh phức tạp và những chuyển biến
nhanh chóng trong quan hệ quốc tế theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
b. Nền tảng cho định hướng chính sách đối ngoại về hội nhập kinh tế quốc tế
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại rộng
mở, đa dạng hoá, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Kể từ đó, chính sách đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa liên tục được bổ sung, hoàn chỉnh, được thực hiện nhất quán, linh hoạt
với tinh thần “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế
trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,
tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”.
Đại hội lần thứ VIII (1996) nêu phương châm tích cực và chủ động hội nhập và mở rộng thi
trường quốc tế, tiến hành khẩn trương và vững chắc đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ,
gia nhập APEC, WTO; có kế hoạch cụ thể chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ
AFTA.
Đại hội lần thứ IX (2001) tổng kết và nêu một cách hoàn chỉnh chủ trương, chính sách hội
nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc, bảo vệ môi trường.”
Đại hội lần thứ X (2006) đã thông qua phương hướng hội nhập kinh tế của Việt Nam giâi
đoạn 2006-2010 như sau: “Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại”, “chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế, “sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song
phương”, “lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo; đồng
thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với thông lệ quốc tế.”
Tính đến nay, trên bình diện song phương, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 179
nước, có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó,
chúng ta có quan hệ hữu nghị và hợp tác ngày càng thực chất với tất cả các nước lớn, các trung
tâm kinh tế chính trị lớn trên thế giới. Quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng khu

nhu cầu giảm lệ thuộc vào năng lượng và lương thực nhập khẩu đã tăng lên. Ngoài ra, các vấn đề
môi trường cũng đòi hỏi sự đột phá về công nghệ. Chính vì vậy, các nước lớn đang đầu tư những
6

khoản tiền lớn vào việc phát triển công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng sạch,
năng lượng thay thế và vật liệu mới.
 Toàn cầu hoá
Trong thập kỷ tới, toàn cầu hoá vẫn sẽ tiếp tục với những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, các nền kinh tế trên thế giới sẽ tiếp tục gắn kết hơn nữa. Trong điều kiện toàn cầu
hoá, lợi ích của các quốc gia đan xen với nhau và ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau. Từ đó, nhận
thức về tình hình thế giới, tư duy về đối ngoại cũng thay đổi mạnh mẽ theo hướng giảm đối đầu,
tăng hợp tác-đối thoại.
Thứ hai, sự chững lại của các vòng đàm phán quốc tế thúc đẩy các nước đẩy mạnh lien kết
khu vực và song phương thông qua các Thoả thuận tự do hoá thương mại song phương (FTA).
Thứ ba, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay làm cho các nước nhận thức rõ hơn
những rủi ro mà toàn cầu hoá mang lại cũng như tốc độ phát tán nhanh chóng những rủi ro đó.
Vì vậy, quan điểm về vai trò của nhà nước trong quản lý nền kinh tế ngày càng được ủng hộ
nhiều hơn.
 Sự thay đổi tư duy về phát triển
Phát triển bền vững - sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại nhưng không làm tổn hại tới
khả năng tiếp tục phát triển của tương lai- trở thành mục tiêu của các quốc gia trên thế giới. Việc
chuyển hướng từ phát triển không bền vững sang phát triển bền vững một mặt tác động lên chính
sách, chiến lược phát triển của các quốc gia, mặt khác tác động đến quan hệ giữa các quốc gia,
các khía cạnh hợp tác, đấu tranh của cục diện thế giới. Mục tiêu phát triển bền vững làm cho các
vấn đề bảo vệ môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên trở than chủ đề nóng bỏng trong các hội
nghị quốc tế và giải quyết các vấn đề này cũng là một cuộc đấu tranh lẫn hợp tác giữa các nước.
Phát triển kinh tế tri thức - nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển
kinh tế, xã hội- sẽ là mô hình phát triển được ngày càng nhiều quốc gia thực hiện. Trong nền
kinh tế này, nguồn lực chính cho phát triển là vốn con người (tri thức) và vốn xã hội (văn hoá,
tập quán…). Sự chuyển hướng vào nền kinh tế tri thức thúc đẩy mạnh mẽ cuộc chạy đua về

nằm trong tốp dẫn đầu thế giới, Nhật Bản đang tập trung nâng cao vai trò chính trị của mình ở
khu vực và thế giới.
8

b. Cục diện khu vực tới năm 2020
Châu Á với hai ứng cử viên Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục là khu vực phát triển năng động
nhất thế giới. Trong những thập kỉ tới, các nhà nghiên cứu đã dự báo rằng trung tâm của nền
kinh tế thế giới sẽ chuyển dần sang Châu Á-Thái Bình Dương.
Các nước trong khu vực này đẩy mạnh đầu tư, thương mại khiến cho liên kết kinh tế khu
vực gia tăng, củng cố các thể chế hợp tác khu vực. Khác với mô hình phát triển của EU, hợp tác
khu vực tại Châu Á-Thái Bình Dương linh hoạt, dựa trên cơ sở xây dựng lòng tin, không đóng
cửa, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết tranh chấp bằng hoà bình. Hợp
tác khu vực có thể trong tương lai sẽ phát huy vai trò trong việc giải quyết các điểm tranh chấp
tại khu vực.
Đặc biệt, có nhiều khả năng ASEAN sẽ có vai trò lớn hơn trong khu vực. Từ những thành
công trong phát triển kinh tế của các nước thành viên ASEAN, sự phát triển của cơ chế hợp tác
ASEAN, tổ chức này sẽ đóng vai trò đầu tàu trong việc đẩy mạnh hợp tác khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương.
Đối với khu vực này, các cường quốc có những điều chỉnh chiến lược quan trọng. Trước sự
trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ sẽ tăng cường quan hệ với các nước đồng minh trong khu vực
(Nhật Bản, Hàn Quốc); đồng thời lôi kéo các nước khác. Mỹ sẽ tiếp tục coi trọng quan hệ với
Châu Á-Thái Bình Dương, duy trì lợi ích chiến lược kinh tế-chính trị và kiềm chế các nước khác
thách thức vai trò vượt trội của mình.
Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc tại khu vực là “vững chân ở Châu Á, vươn ra thế giới”.
Trung Quốc ra sức tranh thủ các nước ASEAN nhằm giành giật ảnh hưởng với Mỹ và chủ động
tham gia các cơ chế hợp tác đa phương.
Nga coi trọng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương hơn và tích cực tham gia các tổ chức khu
vực, tích cực quan hệ với các nước trong khu vực đặc biệt là Trung Quốc, trong chiến lược xây
dựng một thế giới đa cực.
Ấn Độ đẩy mạnh thực hiện chính sách “hướng Đông”, coi trong hợp tác với các nước khu

của quan hệ quốc tế mà Việt Nam ủng hộ và bảo vệ. Ngoài ra độc lập dân tộc và chủ quyền cũng
cần được nêu đậm.
Không những tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi mà phải là “tranh thủ tối đa các nguồn
lực quốc tế để phát triển”. Mục tiêu kinh tế trong đối ngoại cần được nâng cao, không chỉ tạo
10

môi trường mà còn phải trực tiếp mang lại cho đất nước những lợi ích kinh tế cụ thể. Ta đã
hội nhập trở thành một bộ phận của thế giới kết nối, chúng ta không thể đứng bên ngoài thế giới
ấy và thế giới ấy không chỉ là khách thể với ta.
Việt Nam cần tích cực trong quá trình hợp tác quốc tế thể hiện tinh thần hội nhập, phấn đấu
cho mục tiêu chung của toàn nhân loại.
 Về bản sắc đối ngoại mà Việt Nam sẽ theo đuổi chúng ta cần xác định, Việt Nam là một
nước định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu hòa bình, hợp tác, công tác và dân chủ trong khu
vực và trên thế giới; một nước Đông Nam Á, một thành viên tích cực của ASEAN, một chủ
thể chủ động, tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng thế giới.
 Về nguyên tắc đối ngoại, bên cạnh nguyên tắc “độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội”,
“ bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính”, “độc lập, tự chủ”(NQTW 3- khóa VII, NQTW 8 IX), lợi
ích dân tộc là tối thượng, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là hai
nguyên tắc cần được bổ sung.
 Về phương châm đối ngoại: từ cương lĩnh 1991 chúng ta có đường lối đối ngoại “đa dạng
hóa, đa phương hóa quan hệ”; “đa dạng hóa theo phương châm thêm bạn bớt thù”; “sáng tạo,
năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể”; “nắm vững hai mặt hợp
tác và đấu tranh”; “phát triển quan hệ với các nước lớn và láng giềng khu vực”. Trong bối cảnh
thế giới và khu vực hiện nay cần bổ sung hai phương châm: “độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa
phương hóa quan hệ, là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước”; “chủ động, tích cực, có
trách nhiệm”
2. Cụ thể hóa nội dung đề xuất đường lối đối ngoại hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng
đa phương hóa, đa dạng hóa
a. Xây dựng uy tín, thể hiện vai trò thành viên có trách nhiệm
 Hội nhập từ bên trong

hội nhập quốc tế không thể thoát ly hoàn toàn nhân tố chính trị nếu muốn thành công đầy đủ.
 Thể hiện uy tín, trách nhiệm

Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế đồng nghĩa với việc Việt Nam phải chấp nhận luật chơi
chung, thể hiện cụ thể ở các cam kết mở cửa thị trường và hài hoà thủ tục, chính sách trong
nước. Trong những năm tới, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ tiếp tục phát
triển cả bề rộng lẫn chiều sâu. Quá trình này đặt ra nhiều cơ hội và thách thức vì Việt Nam sẽ
phải thực hiện nhiều cam kết có mức độ tự do hoá thực chất và cao hơn hiện nay trong nhiều lĩnh
vực. Chính vì vậy, Việt Nam cần có những chính sách nhằm thực hiện các cam kết, đặc biệt các
cam kết với các cơ chế, tổ chức đa phương tốt hơn; xây dựng hình ảnh về một thành viên có
trách nhiệm cho mình.
12

 Với WTO
Công cụ thuế quan nên được sử dụng mềm dẻo và phản ứng nhanh đảm bảo các lợi ích ngắn
hạn và dài hạn. Nên áp dụng mức cam kết và lộ trình thực hiện, có thể điều chỉnh tùy theo tình
hình, tuy nhiên cần có phân tích đánh giá ảnh hưởng trước khi quyết định “vượt rào” và giám sát
tình hình thực tiễn khi đang áp dụng để có điều chỉnh kịp thời.
Ngoài ra, các biện pháp phi thuế quan cần được sử dụng dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ khối
lượng hạn ngạch đảm bảo các mục tiêu như: (i) Đảm bảo cân đối cung cầu; (ii) Điều chỉnh linh
hoạt tùy theo tình hình thị trường; và (iii) Bảo hộ nhưng cần tăng cường cạnh tranh của doanh
nghiệp trong ngành để cải thiện hiệu quả và người tiêu dùng được hưởng lợi.
Tăng đầu tư dịch vụ công về thông tin giám sát thị trường (trong nước và quốc tế) cho các
doanh nghiệp. Rất cần xây dựng đội ngũ tư vấn về hội nhập để giúp cho các chiến lược hội nhập
dài hạn và cả các phản ứng chính sách trong ngắn hạn dựa trên cơ sở khoa học, tránh các rủi ro
và tổn thất không đáng có.
Phổ biến thông tin về WTO cho doanh nghiệp, không chỉ có các cam kết của Việt Nam mà
cả các dự báo tác động nhập khẩu và cơ hội về mở rộng thị trường - giảm thuế thị trường nhập
khẩu của các nước đối với hàng Việt Nam.
Cần có phân tích đánh giá về tác động của việc mở cửa mạng lưới bán lẻ với tình hình nhập

diễn đàn quốc tế, trong đó có ASEM.
Chủ động thúc đẩy hợp tác Á - Âu trên nhiều lĩnh vực, gồm đối thoại chính trị, hợp tác kinh
tế và hợp tác trong các lĩnh vực khác, góp phần tích cực vào việc đổi mới hoạt động và phát triển
thành viên của ASEM; góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, nâng cao tiếng nói của
châu Á, tăng cường sự hiểu biết, gắn kết và thống nhất giữa các nước châu Á và châu Âu.
Triển khai nhiều sáng kiến thiết thực để góp phần tiếp tục nâng cao và phát huy vị thế của
nước ta trong ASEM. Thúc đẩy quá trình hình thành các quan hệ đối tác và ký kết, triển khai các
hiệp định liên kết kinh tế và hình thành các khu vực mậu dịch tự do.
 Với Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới, tổ chức IMF
Coi tham gia tích cực hơn tại Liên Hợp Quốc là một trong các hướng chủ đạo. Tích cực ủng
hộ quan điểm cung cấp ODA khuyến khích các nước đang phát triển đã đạt được nhiều thành
14

công trên con đường phát triển nhằm duy trì một nguồn vốn lâu dài cho sự nghiệp xây dựng đất
nước. Thúc đẩy các nước khác thực hiện tốt chính sách của Liên Hợp Quốc về ODA.
b. Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá
Kể từ năm 1991 đến nay, chúng ta đã mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để tranh thủ được
nhiều nguồn lực bên ngoài cho sự phát triển đất nước, góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu,
thu hút đầu tư (FDI, ODA, khoa học công nghệ…). Những bước tiến lớn về hội nhập đã góp
phần mở rộng thị trường và đối tác kinh tế - thương mại - đầu tư. Kể từ năm 1991 đến nay, kim
ngạch thương mại đã tăng hơn 20 lần, từ trên 5 tỷ USD năm 1991 lên hơn 100 tỷ USD như hiện
nay. Từ chỗ không có mặt hàng xuất khẩu chủ lực tạo giá trị thật sự lớn năm 1991, nay ta đã có
hơn 10 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD/năm như thủy sản, dệt may, giảy dép, dầu
thô…Tính đến hết tháng 8/2008, ta đã thu hút được hơn 10.000 dự án FDI đang có hiệu lực, với
tổng số vốn đăng ký trên 130 tỷ USD, vốn thực hiện trên 51 tỷ USD; góp phần tích cực vào việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển lực lượng sản
xuất và tạo việc làm
1
. Chính vì thế, trong tương lai, chúng ta nên tiếp tục chính sách tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hoa, đa dạng hoá. Bên cạnh việc tăng cường mối

sáng kiến có hiệu quả sẽ góp phần tăng thêm uy tín cho Việt Nam, vì thế trước khi tham gia các
cuộc họp ta cần huy động các cấp, các ngành liên quan nghiên cứu để đưa ra những sáng kiến có
tính khả thi với toàn khu vực và có lợi cho ta. Nhưng đồng thời ta cũng không được lơ là trong
việc điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế trong nước, có những chính sách kinh tế vĩ mô, vi mô phù hợp
để đáp ứng kịp đòi hỏi hội nhập khu vực.
 Đề xuất chính sách của Việt Nam về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Hiệp định Thương mại Tự do Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership - TPP)
với 7 nước đối tác trong đó có Hoa Kỳ. Với tính chất là cam kết mở cửa thị trường mạnh và sâu
của các bên tham gia (ví dụ loại bỏ hoàn toàn nhiều dòng thuế nhập khẩu, mở cửa dịch vụ, các
yêu cầu cao về môi trường và lao động…)
Việt Nam cần chủ động thúc đẩy đàm phán để tham gia vào TPP vì mặc dù Việt Nam sẽ
phải đối mặt với một vài thách thức như khó khăn về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực hay các cam
kết về môi trường…, chúng ta cũng không thể phủ nhận những lợi ích mà Việt Nam sẽ có được
khi tham gia vào Hiệp định này:
 Lợi ích từ giảm/miễn thuế là rất lớn vì chiến lược của Việt Nam là hướng về xuất
khẩu, các lĩnh vực đầu tư, tài chính cũng sẽ có cơ hội mở rộng. Khi tham gia TPP chúng ta có cơ
16

hội tăng tốc xuất khẩu, đẩy nhanh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, mở cửa thị trường mua
sắm…
 Bên cạnh đó cũng có thể có những lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư thì thị
trường của Việt Nam và nước ngoài đều mở để chúng ta có thể khai thác thêm.
 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể mang lại lợi ích cho Việt
Nam trong việc phát triển quan hệ đầu tư, thương mại. Đây là một hiệp ước thương mại mang
tính khu vực, với 8 nước tham gia đầu tiên là Hoa Kỳ, Việt Nam, Australia, New Zealand, Chile,
Singapore, Brunei và Peru. TPP giúp Hoa Kỳ và Việt Nam có cơ hội làm việc với nhau ngay từ
buổi ban đầu để xây dựng các nguyên tắc của Hiệp định. Khác hẳn việc Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO) cách đây 3 năm, khi các luật lệ đã được đặt ra từ rất nhiều năm
trước đó và Việt Nam không có cơ hội nào để tham gia hình thành các nguyên tắc đó. Ngoài ra,
TPP cũng giúp tăng cường tính cạnh tranh của hai nước. Việt Nam đã làm rất tốt việc thực thi

quanh ta đến 2020 có rất nhiều biến động khó lường, ASEAN là một đảm bảo, một công cụ đối
ngoại chiến lược của ta vì ASEAN là vành đai an ninh trực tiếp. Ta có thể tranh thủ được sự giúp
đỡ, sự ủng hộ của ASEAN để nhân sức mạnh dân tộc lên, đối phó với các đe dọa từ bên ngoài.
Ngo ài ra, vị trí vai trò trong ASEAN tạo cho ta thế quan hệ với các nước, đặc biệt là các nước
lớn. Và, ASEAN là chỗ dựa cuối cùng khi vấp phải các vấn đề rắc rối với các đối tượng khác.
Ưu tiên phát triển kinh tế với đối tác là ASEAN cũng như các nước láng giềng, thu hút đầu tư
của các nước phát triển trong cộng đồng ASEAN giúp cho Việt Nam khẳng định hơn triển vọng
phát triển của mình và là nền tảng để các nước khác và liên minh châu Âu tin tưởng hơn để tiếp
tục đầu tư hơn nữa vào Việt Nam. Hơn nữa, củng cố sức mạnh kinh tế của các nước trong cộng
đồng ASEAN dẫn tới nâng cao sức mạnh chung của ASEAN cũng là mục tiêu của cộng đồng.
Cùng với mục tiêu của cộng đồng ASEAN và lợi ích của đất nước, mục tiêu phát triển kinh tế
của Việt Nam dễ đạt được.
Mục tiêu của ta trong hoạt động tại ASEAN là tạo dựng môi trường khu vực hòa bình, ổn
định và hợp tác cao hơn nữa để hộ trợ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây
dựng một ASEAN ngày càng liên kết chặt chẽ và vững mạnh, góp phần nâng cao vai trò và vị
thế quốc tế của Việt Nam, tạo thế chiến lược tốt hơn cho ta trong quan hệ với các đối tác bên
ngoài, nhất là với các nước lớn.
Trên cơ sở đó, Việt Nam xác định một số định hướng cho hoạt động của Việt Nam tại
ASEAN là:
18

- Tích cực tham gia vào các chương trình liên kết kinh tế, tạo thế chủ động hội nhập của
nước ta vào nền kinh tế khu vực, phù hợp với các ưu tiên phát triển trong nước.
- Thúc đẩy tiến trình xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN – một trụ cột quan trọng của
Cộng đồng ASEAN mà Việt Nam đang tích cực ủng hộ hình thành, đưa quan hệ hữu nghị và hợp
tác toàn diện với các nước ASEAN cả đa phương và song phương phát triển lên giai đoạn mới.
- Tích cực tham gia, chủ động thúc đẩy liên kết kinh tế nội khối ASEAN và giữa ASEAN
với các đối tác bên ngoài trên cơ sở cam kết của WTO, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và
mức độ hội nhập, chấp nhận mở cửa nhanh hơn so với các cam kết của WTO trên những lĩnh vực
kinh tế mà ta có thế mạnh.

 Trung Quốc
Mục tiêu của ta là tiếp tục đưa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển lên những tầm cao
mới, nâng cao hiệu quả hợp tác theo phương châm 16 chữ “láng giêng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”.
Ta cần tích cực, chủ động xúc tiến thương mại với Trung Quốc, phấn đấu giảm dần nhập
siêu từ Trung Quốc. Ngoài ra cần có các biện pháp thu hút đầu tư từ Trung Quốc. Đồng thời cân
nhắc và gắn kết chặt chẽ giữa hợp tác song phương với hợp tác đa phương; dùng hợp tác song
phương Việt-Trung để thúc đẩy các dự án trong khuôn khổ đa phương và ngược lại.
 Nhật Bản
Mục tiêu trong quan hệ với Nhật là đưa quan hệ “Đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn
vinh ở Châu Á” với Nhật Bản đi vào chiều sâu, thực chất, bền vững và hiệu quả trên cơ sở hai
bên cùng có lợi; góp phần nâng cao vị thế của ta trong chiến lược của Nhật ở Châu Á.
Về ODA, phấn đấu duy trì ODA ở mức cao trong những năm tới, tập trung vào các công
trình trong điểm về cơ sở hạ tầng và công nghệ cao.
Về FDI, thực hiện tốt Thoả thuận giai đoạn 2 Sáng kiến chung Việt-Nhật về cải thiện môi
trường đầu tư ở Việt Nam; khẩn trương xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ và đào tạo đội ngũ
thợ lành nghề.
Về thương mại, tích cực triển khai các nội dung trong Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật
(EPA); tích cực vận động Nhật sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường đầy đủ.
20

Về khoa học-công nghê, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu mới, điện tử và tự động hoá, khuyến khích và tranh thủ Nhật chuyển
giao công nghệ góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá của ta.
 Nga
Mục tiêu của ta là đưa quan hệ đối tác chiến lược Việt-Nga vào thực chất, hiệu quả và cùng
có lợi; đưa Nga thành một trong những đối tác quan trọng về kinh tế, thương mại, đầu tư, năng
lượng, dầu khí; góp phần tăng thêm vị trí và tầm quan trọng của Việt Nam trong chính sách của
Nga.
Về dầu khí và năng lượng điện, đẩy mạnh hợp tác với Nga xây dựng các công trình như nhà

trong tương lai ta cần tiếp tục vận động các nước EU hỗ trợ ODA cho Việt Nam.
Ngoài ra, cần tích cực vận động EU sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường; khai
thác các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của EU như Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP),
Chương trình hỗ trợ liên quan đến thương mại (TRA) để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ,
lao động của ta vào thị trường này. Đồng thời, chủ động phòng ngừa các vụ kiện thương mại, áp
thuế chống bán phá giá từ phía EU; xây dựng các phương án, giải pháp để chủ động ứng phó khi
xảy ra các vụ kiện thương mại.
Một vấn đề quan trọng khác trong quan hệ với EU là FTA song phương với EU. Hiện nay,
Việt Nam và EU đã đồng ý tiến hành đàm phán FTA. Trong tương lai, Việt Nam cần thúc đẩy
quá trình đàm phán để sớm đạt được thoả thuận vì FTA là một thỏa thuận có nhiều tham vọng,
nó đòi hỏi phải có những thay đổi lớn và mạnh mẽ trong cách mà nền kinh tế được vận hành.
Thỏa thuận sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng được EU công nhận là nước có nền kinh tế thị trường
hoàn toàn, cơ chế mà cho đến giờ Việt Nam chỉ được EU công nhận một cách tạm thời. Vì vậy,
nếu Việt Nam có thể đạt được FTA với EU, thì cũng sẵn sàng cải phải tổ nền kinh tế đến mức đạt
được cơ chế nền kinh tế thị trường hoặc gần mức đó.
 Các đối tác quan trọng khác
 Lào
Mục tiêu kinh tế của ta là tăng cường hiệu quả hợp tác kinh tế, góp phần củng cố, phát triển
và làm sâu sắc hơn mối quan hệ láng giềng, hữu nghị, truyền thống.
Ta cần thuận lợi hoá trao đổi thương mại và đầu tư giữa hai nước, xây dựng kế hoạch và tiếp
tục có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp của ta đầu tư và làm ăn tại Lào. Tiếp tục phối hợp, hỗ
22

trợ Lào đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu vực biên giới hai nước nhăm tạo thuận lợi cho các
hoạt động giao thông, buôn bán. Tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống các chính sách ưu tiên, ưu
đãi thể hiện tính chất đặc biệt của quan hệ, kết hợp hài hoà với thông lệ quốc tế. Nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn viện trợ cho Lào, phù hợp với khả năng, điều kiện của Việt Nam.
 Campuchia
Mục tiêu của ta là nâng cao hiệu quả hợp tác, củng cố và phát triển mối quan hệ Việt Nam-
Campuchia theo phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status