CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ - Pdf 25



CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KỸ THUẬT HẬU GIA NHẬP WTO DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CÔNG CHỨC
LÀM CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
TẠI VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Tài liệu tham khảo phục vụ tập huấn

H

S

Á

C

H

Đ



I

NG

O



I

V

À

HỘ

Tập thể tác giả:

Hoàng Hữu Anh
Phạm Thị Thuý Nga
Trịnh Thị Thu Huyền
Lê Thu Hà
Nguyễn Viết Linh


I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 9
Chương 1:KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ 15
1.1. Khái quát về chính sách đối ngoại 15
1.1.1. Khái niệm Chính sách đối ngoại 15
1.1.1.1. Định nghĩa chính sách đối ngoại 15

S

Á

C

H

Đ



I

NG

O



I

V

À

HỘ

I


2.1.2. Chủ
trương của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn 96
2.1.2.1. Chủ trương chung 96
2.1.2.2. Chủ trương trong quan hệ với một số đối tác cụ thể 98
2.1.3. Các vấn
đề đặt ra trong quan hệ với các nước lớn hiện nay 99
2.1.3.1. Các vấn đề chung 99
2.1.3.2. Các vấn đề đặt ra trong quan hệ với một số đối tác cụ thể 100
2.1.4. Tiềm năng trong quan hệ với các nước này 104 3
C



N

H

S

Á

C

H


T



2.1.4.1. Tiềm năng nói chung 104
2.1.4.2. Các tiềm năng trong quan hệ với các đối tác cụ thể 104
2.1.5. Trọng tâm thúc đẩy quan hệ 106
2.1.5.1. Trọng tâm thúc đẩy quan hệ chung 106
2.1.5.2. Trọng tâm thúc đẩy với các đối tác cụ thể 106
2.2. Quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng 109
2.2.1. Chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước láng giềng 109
2.2.2. Quan hệ Việt Nam - Lào 109
2.2.2.1. Quan hệ Việt Nam – Lào qua các thời kỳ 109
2.2.2.2. Một số khó khăn trong quan hệ hai nước 113
2.2.3. Quan hệ Việt Nam – Campuchia 113
2.2.3.1. Quan hệ Việt Nam – Campuchia qua các thời kỳ 113
2.2.3.2. Một số vấn đề còn tồn tại trong quan hệ hai nước 116
2.2.4. Quan hệ Việt Nam và các nước ASEAN 117
2.2.4.1. Quan hệ với Ma – lai – xi – a 117
2.2.4.2. Quan hệ với Phi-lip-pin 118
2.2.4.3. Quan hệ Việt Nam và Thái Lan 122
2.2.4.4. Quan hệ Việt Nam – In – do – ne –xi- a 125
2.2.4.5. Quan hệ Việt Nam – Xinh – ga –pore 130
2.2.4.6. Quan hệ Việt Nam – Mi- an- ma 133
2.2.4.7. Quan hệ Việt Nam – Brunây 135
2.3. Quan hệ Việt Nam với các nước bạn bè truyền thống 138
2.3.1. Những mặt đã làm được trong quan hệ của Việ tNam với một số đối tác
truyền thống 139
2.3.1.1. Quan hệ Việt Nam với một số nước bạn bè truyền thống ở châu Á 139

O



I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



2.3.1.2. Quan hệ của Việt Nam với các nước bạn bè truyền thống ở Châu Âu 144

2.3.1.3. Quan hệ của Việt Nam với các nước bạn bè truyền thống ở Mỹ La-tinh


4.1.1.1. Hội nhập quốc tế trên thế giới 196 6
C



N

H

S

Á

C

H

Đ



I

NG

4.2. Hội nhập quốc tế về Chính trị 206
4.2.1. Các cấp độ Hội nhập quốc tế về Chính trị 206
4.2.2. Hội nhập quốc tế về Chính trị ở nước ta 207
4.2.2.1. Hội nhập quốc tế về Chính trị ở nước ta thời gian qua 207
4.2.2.2. Hội nhập quốc tế về Chính trị ở nước ta thời gian tới 211
Chương 5:HỘI NHẬP QUỐC TẾ VỀ KINH TẾ 213
5.1. Các cấp độ Hội nhập quốc tế về kinh tế 213
5.1.1. Tham gia các thoả thuận thương mại ưu đãi (PTA) 213
5.1.2. Tham gia các FTA 213
5.1.3. Tham gia các liên minh thuế quan (CU) 214
5.1.4. Tham gia thị trường chung (hay thị trường duy nhất) 214
5.1.5. Tham gia liên minh kinh tế - tiền tệ 214
5.2. Hội nhập quốc tế về kinh tế ở nước ta 215
5.2.1. Hội nhập quốc tế về kinh tế ở nước ta thời gian qua 215
5.2.1.1. Những mặt được 215
5.2.1.2. Những hạn chế 216
5.2.2. Hội nhập quốc tế về kinh tế ở nước ta thời gian tới 218
5.2.2.1. Các thuận lợi và thách thức đối với Hội nhập quốc tế về kinh tế ở nước ta
thời gian tới 218
5.2.2.2. Nội dung hội nhâp kinh tế quốc tế tới năm 2020 220
Chương 6:HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG QUỐC PHÒNG AN NINH VÀ CÁC
LĨNH VỰC CHUYÊN NGÀNH 225 7
C


À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



6.1. Hội nhập quốc phòng, an ninh 225
6.1.1. Tham gia các diễn đàn hợp tác an ninh 225
6.1.2. Tham gia vào các hoạt động quân sự và trao đổi quân sự trên thực tế 225
6. 1.3. Tham gia các dàn xếp an ninh tập thể 226
6.1.4. Tham gia vào các liên minh quân sự 226
6.1.6. Lộ trình hội nhập của Việt Nam trong thời gian tới 227
6.2. Hội nhập quốc tê về văn hóa 230
6.2.1. Khái niệm 230
6.2.2. Lộ trình
hội nhập của Việt Nam trong tương lai 231
6.3. Hội nhập trong các lĩnh vực chuyên ngành 234
Chương 7:TỔNG KẾT QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở

Á

C

H

Đ



I

NG

O



I

V

À

HỘ

I

NHẬP


9
C



N

H

S

Á

C

H

Đ



I

NG

O


PHẦN MỞ ĐẦU

Thực hiện chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” nêu ra tại
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, với địa vị pháp lý là cơ quan hành chính
Nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm thống nhất quản lý việc thực hiện các
nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại
của Nhà nước, Chính phủ đã triển khai một loạt các hoạt động triển khai chủ
trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của Đảng, tron
g đó có việc trình
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10 tháng 4 năm 2013 về
Hội nhập quốc tế.

Để thực hiện tốt chức năng tham mưu tổng hợp giúp Thủ tướng Chính phủ
tổ chức các hoạt động chung, đặc biệt là triển khai Nghị quyết của Bộ chính trị
về Hội nhập quốc tế, Văn phòng Chính phủ cần củng cố và nâng cao kiến thức,
kỹ năng công tác đối ngoại cho đội ngũ công chức, cũng như hệ thống hóa các
tài liệu liên quan phục vụ tham mưu và điều hành hoạt động đối ngoại và hội
nhập quốc tế.

Xây dựng Đề cương tài liệu tham khảo phục vụ Tập huấn kiến thức cơ bản
về chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại là là hoạt
động thuộc nhóm nội dung số 1 của Dự án “Tăng cường năng lực công chức
làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tại văn phòng chính phủ” nhằm đào
tạo kỹ năng đối ngoại và hội nhập quốc tế từ đó từng bước chuẩn hoá đội ngũ

O



I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



công chức làm công tác hội nhập quốc tế. Trong số các bộ tài liệu được đề xuất
xây dựng trong khuôn khổ dự án, tài liệu Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về chính
sách đối ngoại và hội nhập quốc tế đóng vai trò quan trọng bởi:


hiện nay đang được thực hiện một cách phong phú, đa dạng ở cả chiều sâu lẫn 10
C



N

H

S

Á

C

H

Đ



I

NG

cơ bản về chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế không nằm ngoài xu hướng
trên song có những điểm cải tiến nhất định, cụ thể là:

(i) Bộ tài liệu tiến hành rà soát tiến trình phát triển của Chính sách đối ngoại
Việt Nam trên cả hai phương diện: thời gian và các đặc điểm đối ngoại
chính

(ii) Đối với nghiên cứu Hội nhập quốc tế, tài liệu không chỉ tập trung nhiều
vào lĩnh vực Hội nhập kinh tế quốc tế với các hoạt động triển khai cụ thể
mà còn đi sâu nghiên cứu về bản chất cũng như các vấn đề khoa học khác
liên quan tới Hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực. Từ đó, phân tích chủ
trương Hội nhập quốc tế một cách toàn diện và hệ thống.
Hình thức trình bày

Là một tài liệu tham khảo về mặt kiến thức nên nhìn chung bộ tài liệu bồi
dưỡng kiến thức cơ bản về chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế có hình
thức giống với các giáo trình đang được xây dựng hiện nay và tuân thủ đúng các
quy định của Viện Khoa học xã hội về thể thức trình bày văn bản. Tuy nhiên, để
đảm bảo tính hiệu quả và hiện đại trong quá trình các công chức Văn phòng
Chính phủ học tập và tham khảo lâu dài, kèm theo các bài học sẽ l
à các câu hỏi
nhỏ cũng như một số trường hợp minh họa sinh động bằng hình ảnh và bài viết
có liên quan tới các nội dung về chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế được
đưa ra.


O



I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



Công chức làm công tác đối ngoại của Văn phòng Chính phủ.

Tài liệu được xây dựng theo một quy trình chặt chẽ và khoa học, bao gồm

các bước sau:

(i) Dựa vào cơ sở đánh giá thực tế công việc và tham khảo nhu cầu của các
công chức Văn phòng chính phủ để về kiến thức liên quan đến chính sách
đối ngoại và hội nhập quốc tế cần thiết để xây dựng trọng tâm nội dung của
tài liệu. 12
C



N

H

S

Á

C

H


T



(ii) Nghiên cứu các tài liệu có sẵn về chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế
trong nước và trên thế giới để tìm hiểu các nội dung đã có cũng như các
điểm còn cần được tiếp tục phát triển.

(iii) Phát triển các nội dung mới dựa trên các nguyên tắc, kiến thức nền tảng
của khoa học về chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế trên thế giới
cũng như thực tiễn phát triển chính sách đối ngoại tại Việt Nam.

(iv) Tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm, các cán bộ đã tham
gia trực tiếp vào công tác hoạch định chính sách đối ngoại và hội nhập
quốc tế để thẩm định, phản biện bộ tài liệu lần cuối trước khi đưa vào sử
dụng.
Bố cục tài liệu

Đề cương tài liệu tham khảo phục vụ Tập huấn kiến thức cơ bản về Chính

sách đối ngoại và Hội nhập quốc tế gồm 8 chương chính:

Chương 1: Khái quát về chính sách đối ngoại và chính sách đối ngoại Việt Nam
qua các thời kỳ lịch sử

Chương 2: Quan hệ Việt Nam với các đối tác quan trọng


C

H

Đ



I

NG

O



I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q


S

Á

C

H

Đ



I

NG

O



I

V

À

HỘ

I


1.1.1.1. .1. Đ ịnh n gh ĩa ch ính sá ch đ ố i ng oạ i

Chính sách đối ngoại là một bộ phận của chính sách quốc gia (chính sách
công) nói chung. Nói cách khác những điều căn bản liên quan đến chính sách
cũng có thể áp dụng cho chính sách đối ngoại. Theo quan niệm chung nhất,
chính sách liên quan đến quyết định lựa chọn những hướng hành động và
phương cách hành động để giải quyết một (hoặc nhiều) vấn đề nảy sinh trong
hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

Dựa trên phân tích ở trên về các yếu tố chung trong chính sách, các đặc
trưng cụ thể liên quan đến chính sách đối ngoại sẽ được thảo luận ở phần dưới
đây. Theo cách hiểu thông thường nhất, chính sách đối ngoại là phản ứng của
một nước đối với sự thay đổi của tình hình bên ngoài. Nói một cách khác, khi có
sự thay đổi trong tình hình bên ngoài - (thể hiện ở thay đổi trong động thái
chính sách và hành động của các đối tượng liên quan từ đó sẽ h
oặc đã tạo ra một
nét mới trong hoàn cảnh bên ngoài) - thì có "vấn đề mới" nổi lên và một nước
phải có phản ứng thích hợp để xử lý vấn đề, tận dụng tình hình có lợi hoặc giảm
thiểu tình hình bất lợi. Điển hình là các báo cáo của Bộ Ngoại giao trình Chính
phủ, cũng như báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội hàng năm đều có nhan đề
"Tình hình thế giới và Chính sách đối ngoại của ta." Trong các báo cáo này, một 15
C


À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



phần quan trọng được dành cho phân tích tình hình thế giới, các xu thế, động
thái mới nổi lên, làm cơ sở để nêu các vấn đề cần giải quyết và từ đó vạch ra
những việc cần phải làm trong giai đoạn tiếp theo.

Các nước lớn - với vị thế và tiềm lực của mình - thường có khả năng hơn
so với các nước khác trong việc tạo ra chiều hướng trong phát triển của tình
hình quốc tế, cả về kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị, và an ninh. Anh đã tạo
ra một trật tự thế giới (Pax Britanica) kéo dài hơn 100 năm. Trong giai đoạn
chiến tranh lạnh, quan hệ Mỹ - Xô đã tạo ra thế hai cực chi phối tình hình quốc
tế trong hơn 40 năm. Việc các nước lớn thay đổi chi
ến lược từ căng thẳng sang
hoà dịu, từ đối đầu sang cùng tồn tại hoà bình đều mang lại những hệ quả quan

C



N

H

S

Á

C

H

Đ



I

NG

O



I


mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt nam là giành và giữ độc lập dân tộc,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu này chi phối cả chính
sách đối nội và đối ngoại. Trong suốt giai đoạn từ 1945 đến 1975, chính sách
đối ngoại của Việt nam là một bộ phận khăng khít của chính sách chung nhằm
mục tiêu giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
vì độc lập, vì tự do.

Chính sách đối ngoại "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong
cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình và phát triển" mà Đại hội Đảng lần thứ
7 (1991) tuyên bố chính là để góp phần thực hiện mục tiêu đưa nước ta ra khỏi
tình trạng bị bao vây, cấm vận, tạo môi trường và điều kiện quốc tế thuận lợi
cho công cuộc đổi mới đất nước do đại hội Đảng lần thứ 6 chính thức chủ
trương. Đại hội Đảng lần thứ 8 và 9 đề ra chính sách đ
ối ngoại "Việt Nam sẵn
sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì
hoà bình, độc lập và phát triển." Chính sách đối ngoại mới được đưa ra sau khi
nước ta đã vượt ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội trong thập kỷ 1970s và
1980s và bước vào giai đoạn đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới do đó quy
định nhiệm vụ của chính
sách đối ngoại là "tiếp tục giữ vững môi trường hoà
bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã 17
C


À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo

đảm độc lập và chủ quyền quốc gia."2 Như vậy, có thể nói chính sách đối ngoại trước hết xuất phát từ những
nhu cầu từ trong nước, do đó thể hiện sự "kéo dài" của chính sách đối nội. Nói
cách khác, "vấn đề" trong nước quy định "vấn đề" trong chính sách đối ngoại.
Cũng cần phải khẳng định thêm rằng trên thực tế không có ranh giới rõ ràng
giữa chính sách đối nội và đối ngoại, và chính sách đối nội và đối ngoại có tính
tương hỗ nhau rất lớn vì cùng là sản phẩm của một hệ thống
chính trị và các yếu

gia,Hà nội, tr. 119-120. 18
C



N

H

S

Á

C

H

Đ



I

NG
Có thể thấy ngay rằng đứng trước 3 mục tiêu này, mỗi quốc gia sẽ phải
lựa chọn ưu tiên. Sự lựa chọn này thường xuất phát từ phát triển của tình hình
thế giới. Chẳng hạn như trong hoàn cảnh thù địch và chiến tranh, rõ ràng nhiệm
vụ đảm bảo an ninh phải trở thành ưu tiên. Nhưng thực tế cho thấy dù tình hình
thế giới có tính bao trùm đối với nhiều nước, phản ứng của các nước đối với
tình hình đó lại không giống nhau. Chính vì thế cùng một môi trườn
g quốc tế
như nhau, chính sách đối ngoại của các nước lại không giống nhau. Điều này
làm nổi bật vai trò của yếu tố hệ thống chính trị một nước: Mỗi hệ thống chính
trị trong từng thời kỳ và với những thể chế và con người cụ thể có những ưu tiên
đối nội và đối ngoại của nó.

Nhiều nhà nghiên cứu chính sách đối ngoại đã nhận định rằng quyền lợi
quốc gia vừa là tâm điểm của chính sách đối ngoại vừa là điểm đoàn kết các lực
lượng trong nước. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, sự lựa chọn các mục tiêu
ưu tiên - đều là vì lợi ích quốc gia - (chưa kể đến việc lựa chọn các phương cách
để đạt mục tiêu đó) lại là điểm gây tranh cãi. Lý do đơn giản là đứng trước hai
sự lựa chọn trở lên, xu hướng thường thấy là ba
o giờ cũng xuất hiện sự khác
nhau trong sắp đặt thứ tự ưu tiên. Càng nhiều lựa chọn, càng khó xây dựng ưu
tiên, bởi vì xét từ góc độ chính trị trong nước, xuất phát từ nhiều thế giới quan
khác nhau, từ lợi ích khác nhau nên cách nhìn nhận ưu tiên không giống nhau.
Điều đó càng làm khẳng định tầm quan trọng của yếu tố hệ thống chính trị một
nước trong quá trình xây dựng chính sách đối ngoại: Hệ thống chính trị là nơi
điều hoà các quan điểm
và lợi ích từ đó xây dựng nên sự đồng thuận về ưu tiên
chính sách đối ngoại.




I

NG

O



I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T


, tôn giáo, và văn hoá lại không có tính phổ quát để tất cả
các nước trên thế giới tuân thủ một dạng luật lệ tinh thần nào.

Do đó, trong khi không có một trật tự luật pháp nào điều chỉnh quan hệ
giữa các nước, quan hệ đối ngoại chủ yếu hoạt động theo một hình thức gián
tiếp: chính phủ các nước hành động để làm sao cho chính phủ nước đối tác/đối

4
Bruce W. Jentleson, Chính sách đối ngoại Hoa kỳ: Động cơ của sự lựa chọn, tr.7
5
Bruce W. Jentleson, Chính sách đối ngoại Hoa kỳ: Động cơ của sự lựa chọn, tr.7 2
C



N

H

S

Á

C


C

T



phương ra những luật lệ có lợi cho mình. Điều đó có nghĩa rằng chính sách đối
ngoại của một nước (nước A) chỉ có thể thành công khi một nước mà nó có
quan hệ (nước B) - thông qua hệ thống luật pháp của nước B - đưa ra một hoặc
nhiều đạo luật có lợi cho việc thực hiện lợi ích của nước A. Điều đó có nghĩa là
cho đến hiện nay, mục tiêu chính sách đối ngoại của một nước được thực hiện
thông qua đàm phán, thuyết phục, thoả hiệp, thậm
chí đe dọa và cưỡng bức để
làm cho các nước khác trong quan hệ với nước đó thoả mãn quyền lợi của nước
mình.
6
Điểm khác biệt nói trên giữa chính sách đối nội và chính sách đối ngoại
làm nổi bật sự khác biệt giữa mục tiêu của chính sách đối ngoại và phương tiện
đạt được chúng. Đàm phán, thuyết phục, thoả hiệp, đe dọa, cưỡng bức thể hiện
chức năng của các công cụ chính sách cơ bản sử dụng trong chính sách đối
ngoại thông qua các kênh ngoại giao, đòn bẩy kinh tế, và sức mạnh quân sự.

- Công cụ ngoại giao: Về chức năng, ngoại giao chủ yếu liên quan đến các hoạt động như thu


H

S

Á

C

H

Đ



I

NG

O



I

V

À

HỘ

i được sử
dụng để cung cấp thông tin/thông điệp, đảm bảo liên lạc, tiếp xúc, và tổ chức
đàm phán… để qua đó gây ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách đối ngoại
của nước liên quan.

Trong quá trình sử dụng công cụ ngoại giao, các dạng hoạt động cụ thể
thường được tiến hành như: bày tỏ với đối tượng (bằng cách công khai hoặc
riêng tư) sự hài lòng hoặc sự bất mãn với lựa chọn chính sách của nước đó; gợi
ý về một mối quan hệ tốt đẹp hơn nếu đối tượng thay đổi chính sách theo một
hướng nào đó; nêu những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra nếu đối tượng tiếp tục
sự lựa chọn chính sách đó; vận dụng các cơ chế song phương
khác và đa
phương để lôi kéo thêm nhiều nước ủng hộ lập trường của mình; đáp ứng yêu
cầu của đối tượng (công nhận ngoại giao, viện trợ, ủng hộ bằng các dạng khác)
để đạt được những thay đổi chính sách mình mong muốn từ phía đối tượng;
7
Nhận định này có thể giúp khắc phục về mặt lý luận một số điểm hiện vẫn chưa rõ ràng về mặt thuật ngữ.

Chẳng hạn như vẫn có xu hướng đánh đồng chính sách đối ngoại với ngoại giao (tức là lẫn lộn giữa chính sách

và công cụ chính sách), hoặc coi làm ngoại giao và làm kinh tế là một (tức là không phân biệt các loại công cụ

chính sách khác nhau.) 22


I

V

À

HỘ

I

NHẬP

Q

UỐ

C

T



hoặc không đáp ứng yếu cầu của đối tượng (giảm viện trợ, rút đại diện…) khi

đối tượng có hành động ngược với mong muốn.
8
- Công cụ kinh tế:

8
Karen Mingst (1966), Essentials of International Relations, trang 111-112. Xem thêm Thomas

Schelling (1966), Arms and Influence (New Haven: Yale University Press. 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status