Tiểu luận
Sở hữa trí tuệ và Tổ Chức Thương
Mại Thế Giới WTO
mại. Và đây là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong bài thuyết trình này.
I. Khái quát chung về TRIPs
1. Khái niệm
TRIPs hay Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT
của WTO (được kí năm 1994 và có hiệu lực tháng 1/1995) là hệ thống quy định điều
chỉnh những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền SHTT, trên cơ sở nêu ra các
nguyên tắc và ấn định mức độ bảo hộ tối thiểu mà mỗi quốc gia phải đảm bảo cho quyền
SHTT của các quốc gia thành viên khác. 2. Hoàn cảnh ra đời của TRIPs
Hệ thống pháp luật về quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT) được hình thành từ cuối thế kỉ 19 với
sự ra đời của 2 điều ước nên tảng là Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1883)
và Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật (1886). Sau đó là một loạt
Công ước quốc tế và các vấn đề khác liên quan đến SHTT được kí kết. Tuy nhiên, việc
thực thi các Công ước này còn nhiều hạn chế do tính cưỡng chế yếu và sự xác lập quyền
cũng như bảo vệ nó chưa được rõ ràng chặt chẽ. Chính những hạn chế này đã ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả thực thi quyền SHTT và là một yếu tố tiền đề dẫn tới sự hình
thành Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPs)
trong khuôn khổ WTO.
Từ những năm 1980, quyền SHTT bắt đầu trở thành mỗi quan tâm thường xuyên và có
ảnh hưởng trực tiếp tới các thể chế thương mại quốc tế. Hệ thống bảo hộ quyền SHTT
chất được nêu trong các công ước chính của WIPO, Công ước Paris, Công ước Berne
cũng như bổ sung thêm các nghĩa vụ khác về các vấn đề mà các công ước từ trước
chưa đề cập đến hoặc chưa đầy đủ.
b) Thực thi
Đặt ra các gói quy định về những thủ tục trong nước và các biện pháp để thực thi
quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, đưa ra một số nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả
các thủ tục thực thi quyền SHTT. Ngoài ra, còn quy định về thủ tục hành chính, dân
sự và các biện pháp khắc phục, biện pháp tạm thời, các yêu cầu đặc biệt liên quan đến
các biện pháp biên giới và thủ tục hình sự, trong đó xác định, trong một lượng nhất
định các chi tiết, các thủ tục và biện pháp khắc phục mà phải có sẵn để các chủ thể
quyền có thể thực thi quyền của họ một cách hiệu quả.
c) Giải quyết tranh chấp
Hiệp định góp phần giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO trong vấn đề tôn
trọng nghĩa vụ thực hiện các điều khoản của TRIPS trên cơ sở các biện pháp giải
quyết tranh chấp của WTO.
4. Quá trình phát triển: Dấu hiệu xuất hiện và các vòng đàm phán
Trước khi TRIPS ra đời, vấn đề SHTT đã được dấy lên từ rất lâu và từ cuối thế kỉ 19 đã
hình thành nhiều văn bản pháp lí mang tính quốc tế về quyền SHTT như Công ước Paris
về Bảo hộ sở hữu công nghiệp (1883), Công ước Berne về Bảo hộ tác phẩm văn học và
nghệ thuật (1886), thỏa ước Madrid về đăng kí quốc tế đối với nhãn hiệu (1891), Công
ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất ghi âm và các tổ chức phát sóng
(1961), WIPO (1967) Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sang chế (1970), Công ước
Brussels về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh (1974), v.v… Trong
khuôn khổ WTO, dưới sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật quốc tế, vấn đề SHTT đã
được đưa ra bàn luận chính thức trong hai vòng đàm phán chính là Uruguay và Doha.
Tuy nhiên, kết quả của vòng đàm phán Doha cho thấy tương lai sẽ còn nhiều vòng đàm
phán khác nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn đọng và cả những phát sinh trong cục
diện mới của tình hình thương mại thế giới.
d) Các vòng đàm phán
Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994): Vài trò của SHTT đối với hoạt động thương
quốc về Đa dạng sinh học, bảo hộ tri thức truyền thống và văn hóa dân gian”).
e) Lập trường các nước: Bất đồng giữa các nước phát triển và các nước đang
phát triển
i) Quan điểm của các nước đang phát triển
Các nước đang phát triển hầu như không chú trọng việc thiết lập hệ thống bảo hộ
quyền SHTT có tính thực thi cao mà tập trung khuyến khích việc cung cấp thông
tin một cách tự do. Lập luận của các nước này là:
- Tạo điều kiện cho công nghệ phát triển cũng như vì mục tiêu an sinh xã hội.
Lấy ví dụ trong lĩnh vực dược phẩm. Các nước này đang phải đối đầu với
các loại dịch bệnh hiểm nghèo như SIDA, bệnh lao, sốt rét, v.v… thường
xuyên hơn các quốc gia khác, nhưng lại không có phương tiện sản xuất và
điều kiện tài chính để cung cấp đẩy đủ thuốc chữa bệnh cho người dân do
giá bán các loại thuốc đặc trị ngày càng cao và hơn nữa, các loại dược phẩm
này đều là những sản phẩm được bảo hộ SHTT độc quyền của các hãng
dược phẩm xuyên quốc gia. Vì vậy, trong hội nghị Katar, Ấn Độ, Brazil và
Nam Phi yêu cầu cho phép họ được quyền không thực hiện bảo hộ đối với
dược phẩm, khi cần thiết.
- Các nước này cho rằng họ cần có sự tiếp cận tối đa đối với nền công nghệ
của phương Tây để thúc đẩy sự phát triển và “các thông tin về công nghệ
nên phổ biến với mức độ hạn chế nhỏ nhất bởi vì sự phát triển của thế giới
thứ ba là vì lợi ích của tất cả các nước khác”. Mặt khác, việc xác định đối
tượng có thể được đăng ký như sáng chế hoặc các quyền mà nhà sáng chế
được hưởng vẫn chưa tìm được sự thống nhất của các bên.
- Họ cũng lập luận rằng phần lớn các nước phát triển đã được tự do khai thác
các tài sản trí tuệ để phát triển nền kinh tế của họ trong suốt thế kỷ 18 và thế
kỷ 19. Trong khi đó, các nước đang phát triển phải trả tiền cho việc sử dụng
tài sản thuộc quyền sở hữu của các cá nhân hoặc các công ty của các nước
phát triển.
ii) Quan điểm của các nước phát triển
Ngược lại với quan điểm của các nước đang phát triển, các nước công nghiệp,
Áp dụng đối với các quốc gia tham gia kí kết hiệp định bao gồm cả các nước phát
triển, đang phát triển.
2. Quy định: hiệp định, điều ước về SHTT
Các quy định của Hiệp định có thể chia thành 5 nhóm cơ bản, bảo hộ quyền SHTT trong
TMQT được quy định rõ trong từng nhóm:
- Nhóm 1: Các quy định liên quan đến việc thực hiện sự bảo hộ (nguyên tắc tắc đối
xử quốc gia và tối huệ quốc)
- Nhóm 2: Các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu về nội dung bảo hộ (thời gian và
phạm vi bảo hộ) ví dụ :
o Nhãn hiệu thương mại (7 năm cho mỗi lần đăng ký hoặc đăng ký lại - Điều
18)
o Thiết kế công nghiệp (Ít nhất là 10 năm - Điều 26:3)
o Thiết kế mạch tích hợp (10 năm từ ngày đăng ký hoặc sử dụng - Điều 38:2
và 38:3)
o Thông tin mật, kể cả bí mật thương mại (được bảo hộ chống lại việc tiết lộ
không được phép và việc sử dụng không công bằng vì mục đích thương
mại - Điều 39);
o Chỉ dẫn địa lý (không cho phép đăng ký những nhãn hiệu thương mại gây
hiểu lầm về nguồn gốc địa lý của hàng hóa, ví dụ champagne được hiểu là
rượu được sản xuất tại Pháp chứ không phải nơi khác - Điều 22 và 23);
- Nhóm 3: Các quy định về quyền áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm ngăn chặn
chủ sở hữu trí tuệ lạm dụng quyền của mình hoặc có hành động hạn chế thương
mại hay chuyển giao công nghệ một cách bất hợp lý.
- Nhóm 4: Các quy định về bảo đảm việc thực thi sự bảo hộ bằng các quy định về
cơ chế tổ chức, thủ tục và đền bù có liên quan đến những việc như chủ sở hữu có
thể được hỗ trợ, trợ giúp tạm thời trong luật dân sự; không để hải quan cho qua
hàng giả, hàng ăn cướp hoặc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; trừng trị những kẻ làm
hàng giả
- Nhóm 5: Các quy định về thời hạn thực hiện việc điều chỉnh luật lệ quốc gia cho
→ Hiện nay:
o Các nước đang phát triển phê phán các nước phát triển không thực hiện
đúng hiệp đinh.
o Các nước pt có khuynh hướng thực hiện các quy định này và khuyến
khích các nước đang phát triển nộp đơn yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật.
o Thực tế vấn đề hỗ trợ kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn do nhu cầu thực tế
thường cao hơn những gì mang lại và các nước đang phát triển cũng
không muốn “sao chép” mô hình của các nước phát triển.
Theo hiệp định các nước phát triển có nhiệm vụ yêu cầu các doanh nghiệp,
tổ chức trong nước chuyển giao công nghệ cho các quốc gia LDCs, tuy
nhiên thực tế là các nước này chưa thực hiện đầy đủ.
Nhìn chung, bảo hộ quyền SHTT đặc biệt là TRIPs thường đảm bảo nhiều quyền
lợi của các nước giàu, vì thế không thu nhận được sự ủng hộ từ phía các nước nghèo.Tuy
nhiên trong dài hạn, SHTT nhất định sẽ đem lại lợi ích cho các nước nghèo vì cũng có
nhưng ưu đãi riêng cho các nước này. Vì thế mà xu hướng thực tế bây giờ các nước đang
dần chuyển sang thái độ chấp nhận bảo hộ quyền SHTT. Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay.
3. Cơ chế đảm bảo thực hiện.
Thời hạn thực hiện điều chỉnh luật lệ về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, thực thi
bảo hộ cũng như các thủ tục và chế tài trong tố tụng dân sự, hành chính, hình sự và hình
phạt để thực hiện các nghĩa vụ là :
12 tháng liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa và sáng chế
18 tháng liên quan tới quyền tác giả và thông tin bí mật
30 tháng liên quan tới Công ước Giơnevơ 1971, Công ước về phân phối tín hiệu
vệ tinh mang chương trình truyền hình đã được mã hóa, thời hạn bảo hộ tác phẩm.
24 tháng liên quan tới các quyền còn lại kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Trong các quy định của TRIPS:
- Nghĩa vụ chung (Điều41):
+ Quy định trong luật: Thủ tục thực thi, các biện pháp chế tài ;
là khác nhau theo điều kiện đặc biệt của mỗi nước
=> Tuy nhiên các nước đang phát triển chưa khai thác được những linh hoạt này
là do các nước này chưa đủ năng lực để xây dựng hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí
tuệ hoàn chỉnh cũng như việc các nước cam kết các tiêu chuẩn cao hơn các nước khác
trong các hiệp định song phương, đa phương, đặc biệt với Hoa Kỳ và EU.v.v.
4. Quy trình thực hiện:
Các bộ phận cấu thành hệ thống bảo hộ SHTT của mỗi quốc gia rất khác nhau,
nhất là giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển.
Cụ thể ở một số quốc gia như:
Paraquay:
Áp dụng và thực thi luật pháp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:
Năm 2004, Paraguay đã ban hành luật và triển khai những biện pháp cứng rắn nhằm tăng
cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ, chính phủ đã phối hợp với khu vực tư nhân và
ủng hộ hai dự thảo luật, trong đó tăng cường các mức hình phạt đối với các trường hợp vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ, một cho nạn ăn cắp bản quyền và một cho nạn làm hàng giả.
Các dự luật đã tăng mức hình phạt lên từ năm năm trở lên và không đề cập đến các
trường hợp vi phạm nhẹ được phép bảo lãnh thay cho án tù.
Nhật Bản :
Nhật Bản đã 4 chính sách lớn trong Chiến lược Quốc gia về Sở hữu trí tuệ của Nhật
Bản và đã xây dựng và phát triển 1 hệ thống toàn diện trong hệ thống bảo hộ SHTT gồm:
Chính sách 1. Xúc tiến sự sáng tạo tạo ra tài sản trí tuệ
Chính sách 2. Củng cố và tăng cường hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Chính sách 3. Sử dụng tài sản trí tuệ
Chính sách 4. Sự tiến bộ, mở rộng các yêu cầu để củng cố và nâng cao trình độ
nhân lực
Đài Loan:
Vào ngày 24/8/2004, Quốc hội Đài Loan đã thông qua một dự luật, theo đó sẽ thắt
chặt hơn nữa những điều luật đã được ban bố năm 2003. Dự luật mới này quy định bất kì
hành động nào sử dụng công nghệ hay tài liệu nhằm ngăn cản “các biện pháp chống ăn
cắp bản quyền” đều bị coi là phạm tội và có thể chịu hình phạt lên đến một năm tù hoặc
đó phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh và
chuyên nghiệp, cách tiếp cận này không được khuyến khích.
Những tồn tại:
Vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ có quan hệ chặt chẽ với thương mại và phát triển kinh
tế. Vào cuối những năm 1980, sự bùng nổ của đầu tư quốc tế và kéo theo đó là hoạt động
mua bán quyền SHTT diễn ra sôi động trên phạm vi toàn thế giới đã khiến các nhà hoạch
định chính sách ở cấp quốc tế ngày càng nhận thức được vấn đề này. Điều đó đã dẫn đến
thực tế là vấn đề quyền SHTT không dừng lại ở phạm vi lãnh thổ quốc gia mà ngày càng
mang tính toàn cầu. Các tập đoàn đa quốc gia của các nước giàu bị tổn thất nhiều do
quyền SHTT bị vi phạm nhiều ở các nước đang phát triển. Chính điều này thúc đẩy các
nước phát triển xây dựng một cơ chế mang tính kiểm soát toàn cầu đối với vấn đề bảo hộ
quyền SHTT. Tuy nhiên, đó là một tham vọng hoàn toàn không dễ thực hiện.
TRIPS là một hiệp định có tính chất “mở”, cho phép các nước xây dựng một hệ
thống bảo hộ riêng phù hợp với những tiêu chuẩn tối thiểu được quy định trong TRIPS.
Về bản chất, mục đích của TRIPs là xây dựng trong lòng các nước thành viên một hệ
thống bảo hộ SHTT nghiêm ngặt hơn, qua đó, các nước giàu có thể tăng chi phí bán các
bằng sáng chế. Như vậy, trên một khía cạnh nào đó, TRIPs chỉ là một sự ngụy tạo được
thể chế hóa, được luật lệ của WTO phê chuẩn (Người ta vẫn tưởng rằng một hiệp ước
quốc tế gắn liền với tổ chức thương mại quốc tế lớn nhất hiện nay chắc chắn sẽ đem lại
lợi ích cho cả nước giàu và nước nghèo. Song sự thật là tiếng nói của các nước giàu trong
WTO vẫn lất át các nước nghèo, tức là TRIPs mới chỉ đảm bảo quyền lợi của các nước
giàu, các nội dung của TRIPs có lợi nhiều cho các nước giàu, và vì thế, không thu nhận
được sự ủng hộ từ phía các nước nghèo).
Việc thi hành TRIPS đòi hỏi những chi phí đáng kể từ ngân sách chính phủ của
các nước đang phát triển là những quốc gia có nguồn lực hạn chế, nguồn chi phí này sẽ
dùng để xây dựng và duy trì hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
VD: TRIPS hạn chế các nước nghèo sử dụng luật pháp về sở hữu trí tuệ như công
cụ đòn bẩy cho kinh tế xã hội. Họ không thể bảo trợ các nhà sản xuất giữ giá sản phẩm ở
mức chấp nhận được để phần lớn bộ phận người tiêu dùng đều có thể tiếp cận được.
TRIPS không công nhận tri thức địa phương, điều này hạ thấp uy tín của hệ thống sở hữu
đô la/năm trên toàn thế giới và hành vi này đang ngày càng thu hút các tổ chức tội phạm
tham gia do yếu tố siêu lợi nhuận.
Vi phạm bản quyền phần mềm toàn cầu gây thiệt hại 40 tỷ USD năm 2006.
Liên minh kinh doanh phần mềm (BSA) cho biết, hơn 1/2 chương trình phần
mềm được cài đặt tại khu vực Đông Nam Á là sản phẩm sao chép bất hợp pháp, vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ, gây tổn thất khoảng 8 tỷ USD cho các nhà sản xuất. Theo một kết
quả nghiên cứu khác, năm qua, các công ty phần mềm trên toàn thế giới đã chi ra hơn 59
tỷ USD để phát minh phần mềm mới, nhưng nạn ăn cắp phần mềm đã làm tổn thất hơn
33 tỷ USD.
Một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ đủ mạnh giúp cho các quốc gia có thể khai
thác được mọi nguồn lực một cách hiệu quả nâng cao chất lượng cuộc sống của người
dân.
Xây dựng một hệ thống bảo hộ SHTT mạnh và hoàn thiện là một nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn của bất kỳ quốc gia nào. Nó cũng đồng
thời là một đòi hỏi bắt buộc trong quá trình hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, bức
tranh kinh tế toàn cầu luôn đầy màu sắc tương phản. Vấn đề đặt ra là liệu có thể có và
bao giờ có một bức tranh kinh tế toàn cầu mà trong đó mảng màu quyền SHTT là đơn
sắc. Câu trả lời là chúng ta có thể làm được điều đó nhưng không phải trong ngắn hạn.
Song trong bất cứ hoàn cảnh nào, những vấn đề mang tính nhân đạo phải được ưu tiên
hàng đầu. Hy vọng rằng trong vòng đàm phán sắp diễn ra của WTO, các nước nghèo sẽ
giành được ưu đãi trong việc sản xuất các sản phẩm y tế.