lịch sử hình thành khối nato (2) - Pdf 22



Tiểu luận

Lịch sử hình thành khối NATO LỜI NÓI ĐẦU

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) thành lập ngày 4-4-1949
là một tổ chức tập đoàn quân sự liên hợp các quốc gia phương Tây , ra đời
sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm mục đích giúp Mỹ ngăn chặn Liên Xô
,bảo vệ địa vị chủ đạo của mình ở các nước Châu Âu.Cùng với những biến
động đột ngột ở Châu Âu ,sự biến mất của khối Vacsava, sự giải thể của
Liên Xô và sự kết thúc của chiến tranh lạnh ,khối NATO không những
không bị giải thể như khối Vacsava mà ngược lại, nó càng phát triển mạnh
mẽ,số lượng các nước thành viên được tăng thêm,phạm vi thế lực được bành
trướng một cách rõ rệt.Đúng như một học giả nổi tiếng người Đức về các
vấn đề quốc tế Các Caixơ đã chỉ ra:”Trong tất cả,những sắp xếp quốc tế chủ

gia. Mục tiêu của hợp tác là: lợi ích an ninh. Đặc điểm của hợp tác mang
tính bất bình đẳng và mang tính tạm thời
Chủ nghĩa hiện thực giải thích những sự việc trong quan hệ quốc tế dưới
hai khái niệm chính là các mối đe dọa và lợi ích.
 Về mối đe dọa: Đây là đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện thực.
Chủ nghĩa hiện thực coi tình trạng vô chính phủ, tình thế “ lưỡng nan về an
ninh” là không tránh khỏi. Trong quan hệ quốc tế thiếu vắng một chính
quyền tối cao có độc quyền về cưỡng chế hợp pháp nên “ tự cứu lấy mình”
là nguyên tắc hành xử căn bản của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ hai, sức mạnh( chủ yếu là quân sự) và cân bằng sức mạnh là phương
tiện quyết định thực hiện mục tiêu
 Về lợi ích: Mục tiêu của quốc gia trong chính trị quốc tế là bảo vệ lợi
ích quốc gia được xác định bằng thuật ngữ quyền lực, trong đó đảm bảo an
ninh tối đa là mục tiêu hàng đầu
 Trên cơ sở đó, nhóm báo cáo sẽ chỉ tập trung giải thích sự ra đời
của NATO trên lí thuyết hiện thực dưới hai góc độ chính là mối đe dọa và
lợi ích 2. Sự ra đời của NATO:

 Xuất phát từ các mối đe dọa
a. Mối đe dọa từ chủ nghĩa cộng sản :

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tương quan lực lượng trên thế giới thay
đổi. Trong số các nước tư bản hùng mạnh trước chiến tranh thì Đức , Ý ,
Nhật đã bị đáng bại , Pháp kiệt quệ và Anh bị tàn phá nặng nề. Nhìn chung
do hậu quả của chiến tranh , các nước đế quốc châu Âu bị suy yếu nghiêm
trọng, trong khi đó qua cuộc chiến tranh này Mỹ đã giàu mạnh lên một cách
nhanh chóng, chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế giới tư bản về mọi mặt kinh

tín của các Đảng cộng sản ngày một tăng lên.

 Nhận thức được mối đe dọa lớn từ Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản,
việc thành lập NATO thực chất là âm mưu của Mỹ, nhằm đối phó lại với
ảnh hưởng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản đang lớn mạnh, tạo thế đối
trọng về quyền lực
b. Mối đe dạo từ bản thân các nước NATO :
Ngày 17/3/ 1948 theo đề nghị của Anh các nước Anh, Bỉ, Hà Lan và
Lucxambua và Pháp đã kí hiệp ước Brucxen về hợp tác kinh tế, xã hội, văn
hóa và phòng thủ tập thể, sẵn sàng thi hành những biện pháp tập thể nếu như
Đức lại tiến hành xâm lược.
Tuy nhiên, một mặt Mỹ rất hoan nghênh việc thành lập liên minh quân sự
ở Tâu Âu nhưng lại không muốn Anh sử dụng nó để làm suy yếu ảnh hưởng
và Mỹ muốn biến nó thành công cụ phục vụ cho chính sách mưu đồ làm bá
chủ thế giới của họ. Nước Anh đòi quyền tự trị mới, trong khi Mỹ phản đối,
cố vận động và gây sức ép để tất cả các nước nhận viện trợ theo kế hoạch
Marsall đều tham gia để dễ bề thao túng .
Một câu hỏi đặt ra là, tại sao các nước lại cho Tây Đức vào hợp tác. Phải
chăng là lo ngại một đế quốc hung hãn sừng sỏ, hiếu chiến ? Việc chấp nhận
để Đức tham gia vào tổ chức là hình thức ràng buộc Đức trong những hiệp
ước quân sự
Rõ ràng ở đây yếu tố cân bằng quyền lực đóng vai trò rất quan trọng. Mỹ
muốn thành lập ra một liên minh mới nhằm tăng cường ảnh hưởng của
mình, ko chiu để Anh thao túng toàn quyền
 Ở đây, bản thân các nước NATO đã nhận thức mối đe dọa từ
nhau, chính vì vậy mà đưa ra những chính sách riêng để kìm chân nhau.


THÀN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NATO TRONG CHIẾN
TRANH LẠNH

Nguyên tắc hoạt động của NATO được nêu trong Hiến chương NATO
ngày 4/4/1949 tại Washington, Mỹ.
Những nguyên tắc hoạt động chính của NATO là:
 Các quốc gia thành viên giải quyết các xung đột quốc tế mà một trong
số các nước có thể liên quan bằng các biện pháp hòa bình nhằm duy trì hòa
bình, an ninh quốc tế. Các quốc gia tránh sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng
vũ lực.
 Các quốc gia sẽ tham vấn lẫn nhau bất kể khi nào sự toàn vẹn lãnh
thổ, độc lập chính trị hoặc an ninh của bất cứ thành viên nào bị đe dọa.
 Các quốc gia đồng ý cho rằng bất kì một cuộc tấn công nào chống lại
một quốc gia thành viên đều được coi là chống lại toàn bộ khối NATO. Do
đó, các quốc gia thành viên sẽ hỗ trợ quốc gia hoặc các quốc gia thành viên
bị tấn công một cách độc lập hoặc hợp tác với các quốc gia khác bằng các
biện pháp bao gồm cả quân sự nếu cần thiết để tái lập và duy trì an ninh của
khu vực Bắc Đại Tây Dương.
 Các quốc gia thành viên sẽ không tham gia lực lượng hoặc tổ chức
quốc tế nào mà có quy định mâu thuẫn với bản Hiệp ước này.
 Các quốc gia thành viên sẽ tìm cách loại bỏ xung đột trong các chính
sách kinh tế quốc tế của nhau và khuyến khích sự hợp tác kinh tế trong khối.
 Để đạt được các mục tiêu nêu ra trong bản Hiệp ước này, các quốc gia
thành viên sẽ độc lập hoặc hợp tác với nhau trong việc tự nỗ lực hoặc hỗ trợ
lẫn nhau nhằm duy trì và phát triển khả năng của từng nước và của khối
nhằm chống lại tấn công quân sự. III. VAI TRÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NATO VỚI AN NINH
CHÂU ÂU TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH LẠNH


3.660.200

Xe tăng 59.470 30.690
Pháo các loại 71.876 57.660
Máy bay chiến đấu 7.876 7.130
Tàu ngầm 228 200
Tàu chiến 102 499
2. Vũ khí chiến lược

Vacxava

NATO

Tên lửa chiến lược ICBM (đặt trên bệ phóng dưới
đất)
1.398 1.018
Tên lửa chiến lược SLBM (đặt trên tàu ngầm) 922 672
Máy bay chiến lược 160 518
Tàu ngầm chiến lược 62 36

Nato đóng vai trò rất quan trọng với tình hình an ninh của Châu Âu cũng
như toàn thế giới, sự ra đời của khối liên minh đã mang lại rất nhiều thành
công song cũng có không ít mặt hạn chế

1.Thành công:
Nếu như NATO trong chiến tranh lạnh là một tổ chức có mục tiêu và
nhiệm vụ rõ ràng thì khi Chiến tranh lạnh kết thúc, NATO đi vào cải tổ gần
như toàn diện. Một NATO mới không hoàn toàn mất đi những tiêu chí sống
còn trong hoạt động của mình, song có thêm những nhiệm vụ mới, vai trò

dù, mục đích của Mỹ và các nước Tây Âu tuyên bố cho việc mở rộng liên
minh là không nhằm vào Nga, tuy nhiên, nước Nga thì nhìn nhận đây như
một mối đe dọa tới an ninh của nước này và phản đối mạnh mẽ mọi quyết
định của NATO mở rộng về phía Đông, thu hẹp vùng đệm an ninh của Nga.
Ở châu Âu, hai phe Đông-Tây, NATO-Vácxava mặc dù đối đầu hết sức
căng thẳng nhưng vẫn cố gắng tránh khỏi mối nguy cơ xảy ra xung đột trực
tiếp.
Ngoài ra, các nguy cơ từ mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, thù hằn lịch sử đều
chìm đi vì tất cả các nước đều bị nỗi lo của cuộc xung đột ám ảnh. Châu Âu
không xảy ra xung đột vũ trang, chiến tranh dường như không còn là
phương tiện để giải quyết mâu thuẫn. Trong khối NATO, các nước Tây Âu
đã có điều kiện để tập trung phục hồi và phát triển kinh tế. Mâu thuẫn giữa
các cường quốc, nhất là Pháp-Đức đã hòa dịu đáng kể.
Tuy mục tiêu chủ yếu của NATO là phục vụ những tính toán chiến lược
của các nước TBCN, nhìn từ góc độ nào đó thì sự xuất hiện của NATO đã
đóng góp một phần không nhỏ vào việc đưa tới sự hình thành thế chiến lược,
cân bằng về sức mạnh quân sự giữa các nước XHCN và TBCN, tạo ra sự ổn
định tương đối của châu Âu
Trong thập niên 90, NATO đóng vai trò mới bằng cách đem lại sự ổn
định cho khu vực Ban-Căng bất ổn và khắc nghiệt.Những năm đầu của thập
niên tiếp đó tình hình ngày càng cho thấy rõ cần có một hình thức nào đó
của một hiệp ước ổn đinh cho khu vực Cap-ca-đơ theo hình mẫu của hiệp
ước ổn định cho khu vực Ban- Căng cùng với khả năng có sự đồng tinh của
Nga ,do Nga có lợi ích nhiều hơn trong việc thích ứng với liên minh do Mỹ
lãnh đạo và cũng do sự tăng cường quan hệ kinh tế và chính trị giữa Nga và
Thổ Nhĩ Kì nên việc ổn định hóa khu vực Cáp-ca-dơ cũng có thể ngày càng
trở thành một trách nhiệm của Nato vì nó cần phải như thế.
Do sự kết thúc chiến tranh lạnh , NATO bắt đầu thay đổi cơ cấu lực
lượng của mình.Thay vào các sư đoàn trang bị xe bọc sắt và cơ giới hóa
nặng nề các nước thành viên NATO đang thành lập lực lượng can thiệp với

của toàn châu Âu. Trong thế giới 2 cực, NATO là một nhân tố của quá trình
tập hợp lực lượng giữa Xô-Mỹ. Sự ra đời của NATO 4/1949 dẫn tới sự
thành lập của khối Vácxava 5/1955 để lập lại cân bằng ở châu Âu. NATO
cũng chính là nhân tố của quá trình căng thẳng, chạy đua vũ trang gay gắt
giữa 2 phe, làm cho bầu không khí của quan hệ quốc tế ở châu Âu luôn trong
tình trạng “chiến tranh lạnh”, chứ không phải hòa bình thực sự. Các chính
sách ngăn chặn CNXH, tăng cường chạy đua vũ trang của Mỹ và đồng minh
trong NATO đã đặt cả châu Âu vào thế luôn phải đối mặt với hiểm họa
chiến tranh có thể xảy ra như trong các sự kiện tái vũ trang Tây Đức, khủng
hoảng tên lửa tầm trung ở châu Âu.
 NATO cũng tạo ra một khuôn khổ thể chế duy nhất cho châu Âu để
tác động vào chính sách của Mỹ .Các nền dân chủ tự do có ảnh hưởng với
nhau trong khuôn khổ các thiểt chế quốc tế bằng cách sử dụng những quy
chuẩn trong thủ tục ra quy định chung, cũng như nền chính trị xuyên quốc
gia.Thông qua hành xử theo các quy tắc của các thiết chế đó họ không chỉ tự
kiềm chế quyền tự do hành động của bản thân mình họ cũng được tham gia
vào tiến trình ra quy định của các đối tác của mình.Việc một đối tác cắt giảm
các mối quan hệ về thể chế có thể tạo ra ảo tưởng về sự độc lập nhưng thực
tế nó làm giảm ảnh hưởng của đối tác đó.
KẾT LUẬN

Liên minh Bắc Đại Tây Dương là một cộng động an ninh đa nguyên
được thể chế hóa, gồm các nền dân chủ tự do, các nền dân chủ không chỉ
không gây chiến với nhau họ còn có khả năng phát triển một bản sắc chung
tạo ra thuận lợi cho sự hình thành các thiết chế hợp tác nhằm những mục
đích nhất định.Những thiết chế đó bao gồm các quy chuẩn dân chủ và quy
tắc ra quy định mà các quốc gia tự do có xu hướng thể hiện khi quan hệ với

PHỤ LỤC
NGUYÊN VĂN HIỆP ƯỚC NATO 4/4/1949 TẠI WASHINGTON, MỸ
(Bản Tiếng Anh)
Washington DC, 4th April 1949
The Parties to this Treaty reaffirm their faith in the purposes and principles of the Charter
of the United Nations and their desire to live in peace with all peoples and all
governments.
They are determined to safeguard the freedom, common heritage and civilisation of their
peoples, founded on the principles of democracy, individual liberty and the rule of law.
They seek to promote stability and well-being in the North Atlantic area.
They are resolved to unite their efforts for collective defence and for the preservation of
peace and security.
They therefore agree to this North Atlantic Treaty:
ARTICLE 1
The Parties undertake, as set forth in the Charter of the United Nations, to settle any
international dispute in which they may be involved by peaceful means in such a manner
that international peace and security and justice are not endangered, and to refrain in their
international relations from the threat or use of force in any manner inconsistent with the
purposes of the United Nations.
ARTICLE 2
The Parties will contribute toward the further development of peaceful and friendly

- on the forces, vessels, or aircraft of any of the Parties, when in or over these territories
or any area in Europe in which occupation forces of any of the Parties were stationed on
the date when the Treaty entered into force or the Mediterranean Sea or the North
Atlantic area north of the Tropic of Cancer.
ARTICLE 7
The Treaty does not effect, and shall not be interpreted as affecting, in any way the rights
and obligations under the Charter of the Parties which are members of the United
Nations, or the primary responsibility of the Security Council for the maintenance of
international peace and security.
ARTICLE 8
Each Party declares that none of the international engagements now in force between it
and any other of the Parties or any third State is in conflict with the provisions of this
Treaty, and undertakes not to enter into any international engagement in conflict with this
Treaty.
ARTICLE 9
The Parties hereby establish a Council, on which each of them shall be represented to
consider matters concerning the implementation of this Treaty. The Council shall be so
organised as to be able to meet promptly at any time. The Council shall set up such
subsidiary bodies as may be necessary; in particular it shall establish immediately a
defence committee which shall recommend measures for the implementation of Articles
3 and 5.
ARTICLE 10
The Parties may, by unanimous agreement, invite any other European State in a position
to further the principles of this Treaty and to contribute to the security of the North
Atlantic area to accede to this Treaty. Any State so invited may become a party to the
Treaty by depositing its instrument of accession with the Government of the United
States of America. The Government of the United States of America will inform each of
the Parties of the deposit of each such instrument of accession.
ARTICLE 11
This Treaty shall be ratified and its provisions carried out by the Parties in accordance


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. John Mearsheimer, “Lời hứa hão của thể chế quốc tế,” trong Học viện QHQT, Lý
luận Quan hệ Quốc tế, Quyển 1, Hà nội, 2007, trang 339-58.
2. Vương Dật Châu (chủ biên), An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá, Sách
tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004, trang 681-733.
3. http://en.wikipedia.org/wiki/NATO
4. http://www.nato.int/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status