ứng phó biến đổi khí hậu - Pdf 22

1
Tiểu luận

Ứng phó biến đổi khí hậu

2
I. MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà môi trường có nhiều biến đổi. Trong đó, biến
đổi khí hậu (BĐKH) là một vấn đề hiện đang được các nước trên thế giới quan tâm sâu sắc
do những ảnh hưởng hiện nay và hiểm họa trong tương lai đối với xã hội loài người là vô
cùng to lớn.
1

Theo Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu
là “những ảnh hưởng có hại của khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý
hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng

Vấn đề biến đổi khí hậu ở Việt Nam biểu hiện qua một số vấn đề chính sau:
1.Vấn đề nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm
(TBN) ở Việt Nam đã tăng lên 0,7oC. Nhiệt độ TBN của thập kỷ 1991 – 2000 ở Hà Nội,
Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình (TB) của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt
là 0,8; 0,4 và 0,6oC. Năm 2007, nhiệt độ TBN ở cả 3 nơi trên đều cao hơn TB của thập kỷ
1931 – 1940 là 0,8 – 1,3oC và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0,4 – 0,5oC.
Như vậy có thể thấy là nhiệt độ qua mỗi thời k ỳ ở nước ta đều tăng lên. Và dự báo sẽ
tiếp tục tăng cao hơn vào những năm tiếp theo.
2.Vấn đề nước biển dâng: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các trạm
Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm. Điều
này dẫn đến sự xâm nhập mặn ngày càng lớn. Năm 2005, tình trạng xâm nhập mặn sớm,
xâm nhập sâu, độ mặn cao và thời gian duy trì dài xảy ra phổ biến ở làm các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long. Trên sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên mức độ nhập mặn
đã tiến sâu vào phạm vi 60–80 km. Còn trên tuyến sông Hậu, nhập mặn cũng vào sâu 60–
70 km. Riêng các dòng sông chính như Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông độ mặn đã xâm nhập
sâu tới mức kỷ lục 120-140km. Tại Long An, thiệt hại lên tới 16 tỷ đồng, 14.693 ha mía
của tỉnh giảm năng suất từ 5–10%; 1.093 hecta lúa ở huyện Đức Hòa đã chết trắng, do bị
nhiễm mặn. Tỉnh Sóc Trăng thiệt hại 46 tỷ đồng do 16.500 ha bị hạn, mặn Hậu Giang có
diện tích nhập mặn là 9.000 ha, thiệt hại 11,4 tỷ đồng. Tại các huyện Cần Đước, Cần Giuộc
4
thiếu nước ngọt đang ở mức trầm trọng, hàng nghìn hộ dân thiếu nước sinh hoạt ở các các
tỉnh Tiền Giang, Cà Mau.
3.Vấn đề mưa bão:
Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa TBN trong 9 thập kỷ vừa qua (1911
– 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên và
có giai đoạn giảm xuống. Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất
khác nhau giữa các khu vực.
Số đợt không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ
gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt KKL,
bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trường hợp có số đợt KKL trong mỗi tháng mùa đông

ao hồ.
Ngoài ra, “nhiệt độ cao làm tảo tăng trưởng nhanh hơn. Điều đáng nói là tảo - sinh vật
tiêu thụ nhiều ôxy. Khi tảo phát triển mạnh sẽ dẫn đến hiện tượng đầm lầy hóa các thủy
vực, thiếu ôxy còn phát sinh các loại khí độc như mêtan (CH4), hydro sunfit (H2S)” ( Theo
TS. Trần Hồng Thái, Giám đốc Trung tâm Tư vấn Khí tượng Thủy văn và Môi trường).
2. Nông- Lâm nghiệp.
*Nông nghiệp:
Khô hạn và sự thiếu hụt nguồn nước sẽ làm năng suất nông nghiệp giảm sút. Nhiều loại
dịch bệnh cây trồng của vùng khí hậu nóng sẽ có khả năng xâm lấn (rầy trắng, vàng lùn
xoắn lá…); các giống cây trồng ưa nước sẽ không cho năng suất và bị các loài ưa khô hạn
thay thế, dẫn đến khủng hoảng các hệ sinh thái nông nghiệp. Xu thế này tất yếu dẫn đến
việc nông dân lạm dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật, làm cho đất bị suy
thoái và chất lượng nông sản không cao.
6
Theo đánh giá của ADB, nếu nhiệt độ tăng thêm 1 độ C, năng suất lúa sẽ giảm 10%,
thực trạng trên đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến
người dân trong phạm vi cả nước.
Biến đổi khí hậu tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ
thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh
học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm
nguy cơ tiệt chủng của động, thực vật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm.
* L âm nghiệp.
Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn ven biển tác động xấu đến hệ
sinh thái rừng tràm, khoảng 20% diện tích rừng ngập mặn sẽ bị suy giảm và thu hẹp lại.Hệ
sinh thái nước mặn và nước lợ thay đổi và có thể bị suy giảm. Một số loại thực vật không
thích nghi được với khí hậu có nguy cơ bị tuyệt chủng, thay vào đó là sự phát triển của
những loài có khả năng thích nghi cao hơn.
Biến đổi khí hậu cũng làm thay đổi số lượng và chất lượng hệ sinh thái rừng, đa dạng
sinh học, tăng nguy cơ cháy rừng. Chức năng và dịch vụ môi trường (điều tiết nguồn nước,
điều hòa khí hậu) và kinh tế của rừng bị suy giảm. Điều này lại dẫn đến lũ lụt xảy ra ở

cơn sóng giữ dội có thể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên
biển, vì vậy tổn thất là điều khó tránh khỏi. Sự tàn phá của bão và áp thấp nhiệt đới còn
ảnh hưởng đến hệ sinh thái của vùng nuôi – cần thời gian dài mới có thể phục hồi.
Số lượng các cơn bão ảnh hưởng đến Việt nam không chỉ có xu hướng tăng lên mà mức
độ ảnh hưởng ngày càng nhiều. Năm 2006, 10 cơn bão với cường độ mạnh, các đợt gió
mùa Đông Bắc kéo dài và các hiện tượng thời tiết bất thường khác đã tác động đáng kể đến
hoạt động thuỷ sản và gây ra thiệt hại cho người và tàu cá hoạt động trên biển, đặc biệt cơn
bão số 1 (Chanchu) gây thiệt hại rất lớn cho ngư dân khai thác vùng biển xa bờ.
8
4. Năng lượng.
Biến đổi khí hậu gây các tác động đối với năng lượng như sau:
Thứ nhất ảnh hưởng tới hoạt động của các giàn khoan được xây dựng trên biển, hệ thống
dẫn khí và các nhà máy điện chạy khí được xây dựng ven biển, làm tăng chi phí bảo
dưỡng, duy tu, vận hành máy móc, phương tiện…
Thứ hai các trạm phân phối điện trên các vùng ven biển phải tăng thêm năng lượng tiêu
hao cho bơm tiêu nước ở các vùng thấp ven biển. Mặt khác, dòng chảy các sông lớn có
công trình thuỷ điện cũng chịu ảnh hưởng đáng kể.
Nhiệt độ tăng cũng gây tác động đến ngành năng lượng:
Thứ 3 tăng chi phí thông gió, làm mát hầm lò khai thác và làm giảm hiệu suất, sản lượng
của các nhà máy điện.
Thứ 4 tiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng và chi phí làm mát trong các ngành công nghiệp,
giao thông, thương mại và các lĩnh vực khác cũng gia tăng đáng kể.
Thứ 5 Nhiệt độ tăng kèm theo lượng bốc hơi tăng kết hợp với sự thất thường trong chế độ
mưa dẫn đến thay đổi lượng nước dự trữ và lưu lượng vào các hồ thuỷ điện.
Thứ 6 BĐKH theo hướng gia tăng cường độ mưa và lượng mưa bão cũng ảnh hưởng, trước
hết đến hệ thống giàn khoan ngoài khơi, hệ thống vận chuyển dầu và khí vào bờ, hệ thống
truyền tải và phân phối điện,…
5. Tác động đối với giao thông vận tải.
BĐKH có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến giao thông vận tải, một ngành tiêu thụ nhiều
năng lượng và phát thải khí nhà kính không ngừng tăng lên trong tương lai nhằm đáp ứng

vực ven biển từ Quảng Bình đến Đà Nẵng, đặc biệt là ở khu vực ven biển Thừa Thiên Huế.
Tại Thừa Thiên-Huế (khu vực Vĩnh Tu) mức nước dâng cao tới 2,18m, tại Quảng Bình-
Quảng Trị (Lệ Thuỷ-Triệu Phong) là 1,78m.
Triều cường ở thành phố HCM: Theo Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, lúc
17h ngày 13/11, triều cường đã đạt đỉnh triều cao nhất tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn
10

lên đến 1,52 m, vượt mức báo động III, cao nhất kể từ năm 1960.Đến 19h, nhiều tuyến
đường quận 6, 8, Bình Thạnh bị ngập sâu gần 0,5 m làm nhiều xe chết máy, lưu thông ùn
tắc. Triều cường dâng cao đã phá vỡ và tràn bờ bao nhiều nơi ở ngoại thành, gây ngập trên
diện rộng.
2.7 Tác động đến văn hoá, thể thao, du lịch, thương mại và dịch vụ.
BĐKH có tác động trực tiếp đến các hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch, thương mại và
dịch vụ, có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các tác động tiêu cực đến các lĩnh vực khác như
GTVT, xây dựng, nông nghiệp, sức khoẻ cộng đồng…
Nước biển dâng ảnh hưởng đến các bãi tắm ven biển, một số bãi có thể mất đi, một số
khác bị đẩy sâu vào đất liền, ảnh hưởng đến việc khai thác, làm tổn hại đến các công trình
di sản văn hoá, lịch sử, các khu bảo tồn, các khu du lịch sinh thái, các sân golf ở vùng thấp
ven biển và các công trình hạ tầng liên quan khác có thể bị ngập, di chuyển hay ngừng trệ
làm gia tăng chi phí cho việc cải tạo, di chuyển và bảo dưỡng.
Nhiệt độ tăng và sự rút ngắn mùa lạnh làm giảm tính hấp dẫn của các khu du lịch, nghỉ
dưỡng nổi tiếng trên núi cao, trong khi mùa du lịch mùa hè có thể kéo dài thêm.
Viện nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành đã chỉ ra rằng, biến đổi khí hậu tác động
trực tiếp tới phát triển du lịch ở 2 hình thức. Đó là tác động đến tài nguyên du lịch, điểm
hấp dẫn du lịch trong đó có cả những tài nguyên du lịch tự nhiên đã hình thành, tồn tại
hàng triệu năm qua như Vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
Tiếp theo là các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động lữ hành bị ảnh hưởng, đình trệ
thậm chí hủy do điều kiện thời tiết xấu liên tiếp, bão lụt, lũ quét do biến đổi khí hậu gây ra.
Nhiều chương trình du lịch đến với khu vực miền Trung, vùng núi phía Bắc đã phải hủy,
hoãn, chấm dứt giữa chừng do mưa bão hay gần đây nhất là cơn bão số 9, số 11 đổ bộ vào


m
Tây
Bắc
Đôn
g Bắc
Đồn
g bằng
Bắc
Trung
Na
m
Tây
nguyên

Na
m Bộ

3
Nguyễn Khắc Hiếu. Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả Hội nghị Liên Hợp
Quốc về BĐKH ở Bali.Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng phó của Việt Nam. Hà Nội 26-
29/2/2008.

12

BB Bộ Trung
Bộ
205
0
1,41

Tiền Giang 2.397 783 32,7
Kiên Giang 6.224 1.757 28,2
Cần Thơ 3.062 758 24,7
Tổng cộng 29.827 11.474 38,6
Bảng 3: 10 tỉnh bị ngập nước nặng nhất theo kịch bản nước biển dâng 1m
54
Nguyễn Khắc Hiếu. Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả Hội nghị Liên Hợp
Quốc về BĐKH ở Bali.Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng phó của Việt Nam. Hà Nội 26-
29/2/2008.
13

3. Những nỗ lực của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu.
3.1 Trên bình diện quốc tế
- Việt Nam tích cực tham gia các chương trình quốc tế về biến đổi khí hậu. Cụ thể là ký
và ph ê chuẩn công ước khung của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu UNFCCC, Nghị
Định Thư Kyoto (KP). Tham gia Hội nghị Thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu( COP13)
tại Inđônêxia. Đặc biệt là việc làm cụ thể là tham gia “Giờ Trái đất” của Quỹ quốc tế
bảo vệ thiên nhiên(WWF),ngày 28/3/2009 tiến hành tắt điện từ 20h30 đến 21h30 theo
giờ Việt Nam.
- Việt Nam cũng tích cực đưa ra các bản báo cáo về biến đổi khí hậu ra thế giới, đồng
thời hợp tác với các quốc gia trên thế giới nhằm úng phó với biến đổi khí hậu. Việt
Nam cũng kêu gọi giúp đỡ từ cộng động quốc tế trong việc đầu tư các dự án để thích
ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, nhất là sự đầu tư từ các nước đang phát triển. 3.2 Trên bình diện quốc gia.
Để thích ứng thành công trước biến đổi khí hậu, Việt Nam đã tiến hành các biện pháp IV.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tiêu Phong, Hai chủ nghĩa một trăm năm. Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội- 2004.
2. Nguyễn Trọng Chuẩn, Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI.
Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội- 2006.
15

3. Vương Dật Châu, An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá. Nxb Chính trị quốc
gia. Hà nội- 2004.
4.Báo cáo đánh giá Biến đổi khí hậu ở Việt Nam- Copyright 2009, Institute oi Strategy
and Policy on natural resources and environment, Vietnam (ISPONRE).
5. Nguyễn Đình Hoè, Nguyễn Ngọc Sinh. Biến đổi khí hậu và an ninh quốcgia. Báo cáo
tại hội thảo “Biến đổi khí hậu toàn cầu và ứng phó của Việt Nam”. Hà Nội 26-29/2/2008.
6. Nguyễn Đức Ngữ. Biến đổi khí hậu và khô hạn, hoang mạc hóa. Báo cáo tại Hội thảo
BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam, Hà Nội, 26-29/2/2008.
7. Nguyễn Khắc Hiếu. Tổng quan về các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và kết quả
Hội nghị Liên Hợp Quốc về BĐKH ở Bali.Báo cáo tại Hội thảo BĐKH toàn cầu và ứng
phó của Việt Nam. Hà Nội 26-29/2/2008.
8. Smair & Francois Houtart (Chủ biên), Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng - Hiện trạng
các cuộc đấu tranh 2002, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004.
9. GS.TS Nguyễn Đức Ngữ, Biến đổi khí hậu.Nxb Khoa học và Kỹ thuật. Hà nội, 2008.
10. Nguyễn Trần Quế, Những vấn đề toàn cầu hoá ngày nay, Nxb Khoa học xã hội-
2006.
11. GS.TS Phan Nguyên Hồng, Ảnh hưởng của nước biển dâng đến hệ sinh thái rừng
ngập mặn và khả năng ứng phó, Tạp chí Biển, tháng 7+8/2007.
12. PGS.TS Lê Bắc Huỳnh, Cục Quản lý tài nguyên Nước, Thực trạng suy giảm nguồn
nước ở hạ lưu các lưu vực sông và những vấn đề đặt ra đối với quản lý, Tạp chí Khí tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status