NGHIÊN CỨU HỒ CHỨA THEO QUAN ĐIỂM SINH THÁI,
CÁCH TIẾP CẬN BỀN VỮNG TRONG XÂY DỰNG CÁC
CÔNG TRÌNH CHỨA NƯỚC Ở VIỆT NAM
STUDY AND DEVELOPMENT OF THE ECOLOGICAL LAKES,
THE WAY OF SUSTAINABLE APPROACH FOR BUILDING
THE WATER STORAGE WORKS IN VIET NAM
GS.TS. Lê Sâm
ThS. Nguyễn Văn Lân
ThS. Nguyễn Đình Vượng
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
TÓM TẮT
Nghiên cứu các hồ chứa phục vụ cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, phát điện, cắt
lũ và nuôi trồng thủy sản mà ngành thủy lợi đã làm trước đây cũng đã góp
phần bảo vệ phát triển các hệ sinh thái tự nhiên. Tuy nhiên việc nghiên cứu
một cách bài bản có cơ sở khoa học xây dựng hồ chứa theo tiêu chí/quan
điểm sinh thái phục vụ đa mục tiêu như cấp nước, bảo vệ đa dạng sinh học và
môi trường thì chưa được quan tâm đúng mức. Ở đây đối tượng nghiên cứu
chính là các dạng hồ chứa với các mục tiêu nhiệm vụ do con người đặt ra
như cấp nước, phát điện, nuôi thủy sản, cải tạo cảnh quan môi trường, du
lịch và các hệ sinh thái tự nhiên đó là các khu rừng cây, đồng cỏ, thảm thực
vật, ao hồ, đất ngập nước cùng các loài muông thú trên cạn, dưới nước
được hình thành và phát triển từ hồ sinh thái. Các tác giả nêu lên việc nghiên
cứu hồ chứa theo quan điểm sinh thái, cách tiếp cận bền vững trong xây
dựng các công trình chứa nước ở Việt Nam, bài viết này sẽ làm sáng tỏ thêm
những vấn đề trên.
Từ khóa : Hồ sinh thái, tài nguyên nước, đa dạng sinh học, môi trường, phát
triển bền vững
ABSTRACT
Study results of the water resources field on reservoirs for water supply,
irrigation, hydro-power, flood control and aquaculture have been protected
and developped the natural ecology. However, these studies have not yet been
trường thì còn hạn chế v.v… Do khái niệm sinh thái bền vững, sinh thái ổn định mới
được đưa vào những năm gần đây nên chưa gắn thuật ngữ “sinh thái” với hồ chứa nước.
Chính vì vậy cụm từ hồ sinh thái là một khái niệm mới, rộng hơn. Hồ chứa nước thông
thường có thể không có khu rừng cây, khu đất ướt (wetland), không có nơi cư trú của các
loài động vật hoang dã v.v… nhưng hồ sinh thái thì cần phải có đầy đủ các đặc trưng nêu
trên, đó là vấn đề cấp nước, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường để tạo nên một quần
thể sinh học đa dạng gắn kết với môi trường đất, nước và không khí trong lành, bền vững.
Trong các bài viết trước [2],[3],[4] chúng tôi đã đề cập sự cần thiết phải nghiên cứu xây
dựng hệ thống hồ sinh thái ở Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, bài viết này sẽ
tiếp cận nghiên cứu hồ theo quan điểm sinh thái, một vấn đề cấp thiết đặt ra trong quá
trình xây dựng hồ chứa ở nước ta.
II. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II.1. Cách tiếp cận nghiên cứu
II.1.1. Tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp
Đối tượng nghiên cứu ở đây là hồ sinh thái nằm trên một vùng lãnh thổ rộng lớn
nên sự thay đổi về không gian, điều kiện địa hình, địa chất, những biến đổi về thời tiết khí
hậu, khí tượng – thủy văn rất phức tạp. Đặc biệt có nơi sự phân bố dòng chảy không đều
giữa 2 mùa mưa và khô, sự can thiệp tác động quá giới hạn của con người. Nhu cầu dùng
nước để phát triển kinh tế xã hội ngày càng lớn, nguy cơ ô nhiễm cạn kiệt nguồn nước ngày
một gia tăng, môi trường sinh thái đang bị đe dọa nghiêm trọng v.v… Tất cả những yếu tố
đó tác động rất lớn đến hồ sinh thái, do đó đòi hỏi phải tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn
diện và tổng hợp trên vùng lãnh thổ mới giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề ra.
II.1.2. Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm và cơ sở dữ liệu đã có một cách chọn lọc
Hệ thống hồ chứa/hồ sinh thái trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tuy
còn nhiều tồn tại, khiếm khuyết cần được khắc phục, nhưng nó chiếm một vị thế rất quan
trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ.
Đó là sản phẩm vô cùng quý giá, là kết quả của bao thế hệ đã dày công nghiên cứu, đầu tư
về sức lực, trí tuệ và vật chất rất đáng trân trọng. Do đó trong cách tiếp cận này sẽ :
- Tổng hợp lý thuyết và thực tiễn để xác định phương pháp luận về cơ sở khoa
học xây dựng hồ sinh thái ở Việt Nam.
hồ trên các vùng sinh thái ở Việt Nam;
- Phương pháp chuyên gia và điều tra có sự tham gia của cộng đồng;
- Phương pháp thống kê, phân tích đánh giá tính sinh thái của các dạng hồ đã có,
cả hồ tự nhiên và hồ nhân tạo;
- Phương pháp thiết lập hệ thống quan trắc và theo dõi diễn biến môi trường;
- Phương pháp phân tích tương tự so sánh hệ sinh thái trên các vùng miền khác nhau;
- Phương pháp mô hình toán tính thủy văn, thủy lực, cân bằng nước và mô phỏng
lưu vực, quản lý tài nguyên nước mặt theo dạng liên hồ chứa;
- Phương pháp thực nghiệm (thiết kế thực nghiệm mô hình, xây dựng thử nghiệm,
xây dựng mẫu hồ sinh thái ).
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
III.1. Khái niệm và định nghĩa hồ sinh thái
Hồ sinh thái (Ecological lake) là hồ chứa nước mang đầy đủ đặc trưng, tính chất
và tiêu chuẩn của một hồ vừa đủ sạch nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong hệ sinh
thái tự nhiên và sinh thái cảnh quan, mang đến các lợi ích to lớn cho cuộc sống con người
như cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất, tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản, ngoài ra còn là
nơi nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái, cải tạo tiểu khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học và môi
trường trong lưu vực hồ.
Trên đây mới là một khái niệm chung nhất để đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học và
thực tiễn xây dựng hồ sinh thái ở Việt Nam. Với sự ưu đãi của thiên nhiên, nước ta có rất
nhiều hồ chứa và nhiều vùng đất có thể phát triển thành hồ sinh thái. Để hình thành một hồ
sinh thái cần có những tiêu chí và chỉ tiêu tùy theo mục đích và yêu cầu khai thác sử dụng.
Tuy nhiên như trên đã trình bày, do khái niệm hồ sinh thái còn khá mới mẻ, các nghiên cứu
về lĩnh vực này ở nước ta chưa nhiều, ngoài một số đề tài liên quan đến bảo vệ nguồn
nước, đến hệ sinh thái, thảm phủ thực vật, thiên tai hạn hán v.v… thì có thể thấy rằng đối
tượng mà chúng tôi tiếp cận nghiên cứu ở đây là các hồ cấp nước, bảo vệ đa dạng sinh học
và môi trường có kết hợp với hệ sinh thái thiên nhiên, hay nói rõ hơn đó là “Hồ chứa với
các loại hồ sinh thái tự nhiên và hồ sinh thái nhân tạo”.
III.2. Thống kê hệ thống hồ chứa có tính sinh thái cao ở Việt Nam
Hệ thống hồ tự nhiên và hồ nhân tạo ở nước ta khá phong phú. Theo điều tra
Vĩnh Phú 400 21
o
31’N,105
o
05’E
Hồ tự nhiên có cá, chim nước và
thực vật nước ngọt.
4 Hồ Tam Đảo Vĩnh Phú 2 22
o
25’N,105
o
35’E
Hồ ao tự nhiên nhỏ có loài sa giông
đặc hữu.
5 Đầm Vạc Vĩnh Phú 250 22
o
25’N,105
o
35’E Thực vật đầm lầy
6 Hồ Suối Hai Hà Tây 700 21
o
10’N,105
o
25’E
Hồ tự nhiên chứa nước ngọt, có
đầm sen.
7
Hồ Đồng Mô
(Ao Vua)
Hà Tây 700 21
Hóa
300 19
o
30’N,105
o
41’E
Hồ tự nhiên nước ngọt có cá và
chim.
12
Phá Tam
Giang
Huế 8000 16
o
35’N,107
o
30’E
Phá eo biển có cá và chim di trú
13
Đầm Cầu
Hai
Huế 12000 16
o
20’N,107
o
50’E
Đầm lớn nhất ven biển có cá và
chim di trú.
14 Biển Hồ Gia Lai 600 14
o
03’N,108
thực vật quý hiếm
19
Đầm Biển
Lạc
Bình
Thuận
2000 11
o
10'N,107
o
40'E
Hồ và rừng đầm lầy theo mùa
20 Cát Tiên Đồng Nai 2500 11
o
30'N,108
o
20'E
Đầm nước ngọt và nhiều hồ nhỏ có
chim nước.
Nguồn : Tổng hợp từ Trường ĐH Thủy lợi và Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, 2005
Bảng 2 : Các hồ chứa nhân tạo mang tính sinh thái cao ở Việt Nam
ST
T
Tên hồ Tỉnh
Diện
tích
(ha)
Địa điểm Đặc điểm
1 Hồ Cẩm Sơn Hà Bắc 2630 21
o
Bình
Hòa Bình 72800
20
o
48'-21
o
45'N,
104
o
05'-105
o
15'E
Đập thủy điện, hồ rộng và sâu ở
thung lũng, có cá nước ngọt
5 Hồ Yên Lập
Quảng
Ninh
600 21
o
05’N,106
o
50’E Hồ chứa nước lợ
6 Hồ Cát Bà Hải Phòng 2 20
o
45’N,107
o
00’E Hồ nhỏ và hệ động thực vật
7
Hồ Sông Mã
(Bến En)
12 Hồ Lạc Đắc Lắc 500 12
o
25’N,108
o
11’E Hồ có cảnh đẹp, chim, cá và cá sấu
13 Hồ Đan Kia Lâm Đồng 200 12
o
00’N,107
o
22'E
Hồ nước ngọt có cảnh đẹp trong
rừng thông.
14
Hồ Đơn
Dương
Lâm Đồng 1000 11
o
50'N,108
o
35'E
Hồ nước ngọt có cảnh đẹp trong
rừng thông.
15 Hồ Trị An Đồng Nai 10000 11
o
10'N,107
o
10'E
Hồ đập thủy điện rộng có một số
loài chim nước.
16
- Vận chuyển nước trong môi trường tự nhiên: sự trao đổi nước hồ với các dòng
chảy bên ngoài góp phần làm chất lượng nước trong vùng tốt hơn, nâng cao mực nước
ngầm trong lòng đất.
- Có vai trò cắt lũ và điều tiết mực nước lũ trong vùng (hồ điều tiết mùa, điều tiết
năm).
- Điều chỉnh dòng chảy giữa 2 mùa mưa và khô (trữ nước mùa mưa để tri dùng
cho mùa khô).
- Tác dụng điều tiết nước hồ xả đẩy mặn (đối với các hồ vùng ven biển), ém phèn
(đối với các hồ vùng chua phèn).
b. Vai trò của hồ về phát triển kinh tế- xã hội
- Tạo ra nguồn sản phẩm tự nhiên trong khu vực : các loài động thực vật sống
trong hồ và xung quanh lưu vực hồ.
- Phát triển, xây dựng nhà máy thủy điện, sản xuất ra điện năng.
- Hồ sinh thái có thể kết hợp nuôi trồng thủy sản, dùng để cắt lũ, giảm ngập lũ
cho một vùng nào đó.
- Cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cải tạo đồng ruộng, tái tạo một vùng lãnh thổ.
- Hồ sinh thái gắn với các chương trình quốc gia: Chương trình nước sạch và vệ
sinh mơi trường, chương trình đa dạng sinh học, bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam,
chương trình dân sinh vùng lũ ở ĐBSCL (hồ sinh thái được hình thành từ việc lấy đất tơn
nền các cụm tuyến dân cư vượt lũ,[2],[3], xem Hình 1)…vv.
GHI CHÚ :
Hồ sinh thái
Khu nhà ở
Khu CT công cộng
Đường giao thông
Kênh, rạch
K
e
â
n
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
**
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
**
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
N
h
a
ø
t
r
e
û
t
r
ư
ơ
ø
n
g
c
a
áp
1
H
o
à
s
i
n
h
u
C
h
ơ
ï
K
h
u
T
r
ư
ơ
ø
n
g
c
a
á
p
2
ï
N
K
h
u
- Là nơi học tập và nghiên cứu khoa học về tài ngun nước, thủy văn, thổ
nhưỡng, sinh thái học và mơi trường…vv.
- Là địa điểm được xếp loại về lịch sử, văn hóa, khu bảo tồn đa dạng sinh học,
tham quan du lịch.
- Là nơi giáo dục ý thức cộng đồng về bảo vệ tài nguyên môi trường.
- Có ý nghĩa về văn hóa xã hội:
• Ý nghĩa về tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống.
• Là vùng hoang dã hoặc khu dự trữ sinh quyển được bảo tồn.
• Có tầm quan trọng về lịch sử văn hóa, sinh thái nhân văn.
Tóm lại việc xây dựng hồ sinh thái mang lại nhiều lợi ích to lớn và cũng gây ra
những nhược điểm như xây dựng hồ có thể làm ngập nhiều đất đai, làng mạc, thậm trí cả
các khu di tích lịch sử, văn hóa. Xây dựng hồ có thể gây ngập úng hoặc cạn kiệt dòng
chảy môi trường ở khu vực hạ lưu, làm xuất hiện những ký sinh trùng gây bệnh dịch, làm
thiếu hoặc mất nguồn nước ở vùng khác hoặc xáo trộn cuộc sống của dân cư lưu vực hồ.
Đặc biệt hồ chứa có thể bị sự cố rất nguy hiểm khi đập đất tạo hồ, vì một lý do kỹ thuật
nào đó đập bị vỡ, tổn thất không lường được. Với những lợi ích và nhược điểm như vậy
và bản chất chung của hồ sinh thái chính là sự đa dạng, đa mục tiêu của nó nên việc quyết
định xây dựng hồ theo quan điểm sinh thái là một công việc quan trọng, phải dựa trên cơ
sở tính toán và thẩm định khoa học từ mục tiêu nhiệm vụ cũng như vị trí quy mô đầu tư,
từ điều kiện tự nhiên đến kinh tế xã hội và môi trường.
IV. KẾT LUẬN
Việt Nam đã có rất nhiều hồ sinh thái thể tự nhiên và nhân tạo trải dài từ Bắc
xuống Nam, ngoài ra một số vùng đất có khả năng phát triển thành hồ sinh thái nhân tạo.
Hiện nay, các hồ đã và đang có xu hướng suy thoái và ô nhiễm, phú dưỡng hóa trầm
trọng do tác động của con người. Bên cạnh đó, còn một số vùng đất có khả năng phát
triển thành hồ sinh thái nhưng lại bị bỏ hoang. Vấn đề hiện nay là phải cải tạo những hồ
đã bị ô nhiễm, đồng thời xây dựng thêm những hồ mới. Tùy từng vùng mà ta có biện
pháp cải tạo cũng như xác định vị trí xây dựng hồ mới cho phù hợp. Phát triển hồ sinh
thái theo hướng phát triển bền vững vừa bảo vệ môi trường vừa mang lại nhiều lợi ích
kinh tế xã hội cho vùng.