Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
CỦA CÂY DẺ GAI ẤN ĐỘ (CASTANOPSIS INDICA A.D.C)
TẠI V
Ƣ
ỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO - VĨNH PHÚC
CHUYÊN NGÀNH LÂM
HỌC
MÃ SỐ:
60.62.60
GIẢ
Nguyễn Thị Thu
Trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
Lời nói đầu
Trong nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững của các
Vườn Quốc gia, việc bảo tồn các thực vật quý hiếm và có nguy cơ bị đe doạ giữ
một vị trí quan trọng đặc biệt không chỉ về mặt khoa học mà còn liên quan toàn
diện, lâu dài đến sự tồn tại và phát triển của các Vườn quốc gia.
Để góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật Vườn quốc gia Tam Đảo có
hiệu quả, nhất là nguồn gen quý hiếm và có nguy cơ đe doạ, tôi chọn đề tài luận
văn thạc sĩ “ Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Dẻ gai Ấn
Độ (Castanopsis Indica A.D.C) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo”.
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của GS. TS Ngô Quang Đê
du . v
n
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………
1
Chƣơng
1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3
1.1 Trên thế giới
3
2.2 Ở Việt Nam………………………………………………………………
8
Ch
ƣ
ơng
2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………
15
2.1.1 Về mặt lý luận…………………………………………………………
15
2.1.2 Về mặt thực tiễn……………………………………………………… 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………… 15
2.3 Nội dung nghiên cứu…………………………………………………… 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Quan điểm về phương pháp luận………………………………………. 16
2.4.2 Phương pháp xác định vị trí nghiên cứu 17
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
4.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của Dẻ gai Ấn Độ……………………… 38
4.1.1 Đặc điểm hình thái cây…………………………………………………. 38
4.1.2 Đặc điểm vật hậu……………………………………………………… 39
4.2 Đặc điểm sinh thái nơi loài Dẻ gai Ấn Độ tái sinh phân bố……………… 41
4.2.1 Đặc điểm khí hậu nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố………………………. 41
4.2.2 Đặc điểm đất đai nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố……………………… 42
4.3 Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng ảnh hưởng đến tái sinh 43
4.3.1. Một số đặc điểm cấu trúc của rừng có Dẻ gai Ấn Độ phân bố……… 43
4.3.2 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao 44
4.3.3 Cấu trúc tầng thứ 49
4.3.4 Cấu trúc mật độ tầng cây cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ 51
4.3.5 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn Độ 52
4.3.6 Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính của lâm phần 55
4.3.7 Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao 59
4.4 Một số đặc điểm tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ ở 2 khu vực 60
4.4.1 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh 60
4.4.2 Mật độ cây tái sinh của loài Dẻ gai Ấn Độ 64
4.4.3 Số lượng cây tái sinh 65
4.4.4 Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi với tái sinh tự nhiên 69
4.4.5 Phân bố tần suất cây tái sinh của Dẻ gai Ấn Độ 72
4.4.6 Chất lượng cây tái sinh của lâm phần và Dẻ gai Ấn Độ 73
n
DANH MỤC BẢNG
Ch
ƣ
ơng
III: Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu
Trang
Bảng 3.1 Các nhóm giá trị sử dụng 33
Bảng 3.2 Cơ cấu các loại đất vùng đệm VQG Tam Đảo 36
Ch
ƣ
ơng
IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Bảng 4.1 Nhiệt độ (T) và lượng mưa (P) trung bình ở 2 khu vực 41
Bảng 4.2 Đặc điểm đất nơi có Dẻ gai Ấn Độ phân bố 42
Bảng 4.3 Tổ thành loài cây cao trạng thái rừng IIIA
2
46
Bảng 4.4 Tổ thành loài cây cao trạng thái rừng IIIA
3
48
Bảng 4.5 Chiều cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn độ 50
Bảng 4.6 Mật độ tầng cây cao của lâm phần và Dẻ gai Ấn độ 51
Bảng 4.7 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn độ trạng thái IIIA
2
53
Bảng 4.8 Thành phần loài cây đi kèm với Dẻ gai Ấn độ trạng thái IIIA
3
54
theo từng cấp chiều cao
Bảng 4.17 Số lượng và tỷ lệ tái sinh theo nguồn gốc 68
Bảng 4.18
Ảnh hưởng của
cây
bụi
thảm
tươi
đến
TSTN
theo
các trạng
thái
rừng
70
Bảng 4.19 Tổng hợp cây bụi theo đai khí hậu 71
Bảng 4.20 Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi 71
Bảng 4.21 Phân bố tần suất xuất hiện Dẻ gai Ấn Độ tái sinh xung quanh
73
gốc cây mẹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
h tt
Hình 4.4 Cành và quả Dẻ gai Ấn Độ
40
Hình 4.5 Thân Dẻ gai Ấn Độ
40
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
TSTN - Tái sinh tự nhiên
VQG -
Vƣờn
Quốc gia
NN & PTNT - Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
OTC - Ô tiêu chuẩn
ODB - Ô dạng bản
KV - Khu vực
BQ - Bình quân
XH - Xuất hiện
H
vn
- Chiều cao vút ngọn
D
1.3
-
Đƣờng
kính đo ở vị trí 1,3m
Bộ
NN&PTNT
VƯỜN QUỐC GIA TAM
ĐẢO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh
Hiện nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử
dụng phương thức khai thác - tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâu dài
của nền kinh tế và bảo vệ môi trường. Các phương thức khai thác - tái sinh
không hợp lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng và chất
lượng. Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che
phủ khoảng 43%. Đến năm 1999, theo số liệu thống kê chỉ còn 10,9 triệu ha
rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng với độ che
phủ tương ứng là 33,2%. Do vậy, việc tái sinh tự nhiên là một trong những biện
pháp và nhiệm vụ quan trọng.
Vườn Quốc gia Tam Đảo được thành lập theo quyết định 194/CT của Chủ
tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) với tổng diện tích là 36.883 ha. Tam
Đảo là phần cuối của dãy núi cánh cung thượng nguồn sông Chảy. Tam Đảo như
bức bình phong chắn gió mùa đông bắc cho vùng đồng bằng, gồm trên 20 mươi
đỉnh núi với độ cao trên 1000m. Cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (1592m), vùng
trung tâm có 3 đỉnh: Thiên Thị (1375m), Thạch Bàn (1388m) và Phù Nghĩa
(1300m), sườn núi dốc, địa hình chia cắt mạnh. Sự phức tạp của địa hình, hướng
phơi, độ cao, khí tượng thủy văn, mức độ tác động của con người khác nhau…
cùng với đặc tính sinh vật học của từng loài cây đã tạo cho Tam Đảo có
một hệ thực vật hết sức phong phú và đa dạng. Theo số liệu thống kê cho thấy
đã phát hiện ở đây 1288 loài thực vật bậc cao thuôc 179 họ, 660
c
hi nằm trong 3
ngành Dương Xỉ, Hạt trần và Hạt kín trong đó có nhiều loài được thu thập mẫu
và lần đầu tiên được mô tả ở Tam Đảo, 38 loài mang nguồn gien quý hiếm nguy
cấp cần ưu tiên bảo tồn [6]. Điều này đã nói lên tính đa dạng về số loài, số chi,
số họ và tầm quan trọng của hệ thực vật Tam Đảo.
Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu, đánh giá thành phần loài,
tính đa dạng thực vật tại Tam Đảo diễn ra tương đối mạnh mẽ. Tuy nhiên, các
công trình đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc
điểm tái sinh, thành phần loài, sự phân bố và giá trị của từng họ từng loài.
Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới, Van steenis.J (1956)[59]
đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây
chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng. Ngoài ra theo nhận xét
của A. Obrevin (1938) khi nghiên cứu các khu rừng nhiệt đới ở Châu Phi, còn
đưa ra lý luận bức khảm hay lý luận tái sinh tuần hoàn.
Đặc điểm tái sinh rừng được nhiều nhà lâm sinh quan tâm đến là thế hệ
cây tái sinh có tổ thành giống hay khác biệt với lớp cây mẹ, Richards,P,W
(1965)[57].
Ở rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích quá lớn, nên
kinh doanh tất cả các loài cây đó rất có thể mang lại hiệu quả mong muốn.
Trong thực tiễn lâm sinh, người ta chỉ khảo sát những loài cây có giá trị kinh tế
và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập những nguyên nhân ảnh
hưởng tới tái sinh tự nhiên và có thể chia thành hai nhóm tác động chính:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
Trong đa số các nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, người ta đều nhận
thấy rằng cỏ và cây bụi, qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh
dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây tái sinh của các loài
cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, thảm cỏ
phát triển kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ non không đáng kể. Ngược
lại những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát
sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái
sinh rừng Bannikov, 1967; Vipper 1973.
Cây rừng ra hoa mang tính định kỳ rõ rệt, cây rừng ra hoa quả nhiều hay ít
bị ảnh hưởng sâu sắc của thời tiết. Nhiều nhà lâm học cho rằng biến động mùa
hoa quả cây rừng cần nghiên cứu theo các vùng địa lý khác nhau và các khía
cạnh cấu trúc, độ dày, độ khép tán, tuổi lâm phần.
b. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con
du . v
n
pháp cho phép sử dụng các hệ sinh thái nguyên sinh vốn có của nhiệt đới một
cách có hiệu quả mà không phá vỡ nó.
Theo quan điểm như vậy, Rovet (1984) đã đưa ra những yêu cầu tối thiếu,
bắt buộc các giấy phép khai thác rừng phải thể hiện được cụ thể là: muộn nhất là
2 năm trước khai thác phải tiến hành điều tra kết hợp với chặt bỏ dây leo cây
bụi; chỉ được khai thác những lâm phần có ít nhất 10 - 15 cây thuộc loại giá trị
kinh tế có D
1.3
≥ 60cm và phải có tái sinh đạt yêu cầu; phải để lại ít nhất 5 - 7
cây mẹ gieo trồng có kích thước lớn, phân bố đều trên diện tích; trong trường
hợp cần thiết các lỗ trống hình thành do khai thác phải được mở rộng thêm để
thúc đẩy xúc tiến tái sinh tự nhiên. Quá trình sinh trưởng, phát triển cây tái sinh,
trên các lỗ trống phải được kiểm soát và cần thiết
phả
i chăm sóc ít nhất 10 năm
sau khai thác.
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên cũng đã có rất nhiều công
trình đề cập đến, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards. P. W
(1965)[57], tác giả cuốn rừng mưa nhiệt đới, Bernard Roller (1974) tổng kết các
công trình nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các
ô tiêu chuẩn kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng
phân bố cụm, một số ít có phân bố poisson. Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu
thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong
rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngược
lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên nhiệt đới Châu Á như: Bava
(1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới
nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp
cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Phương pháp này được áp dụng
nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng rừng cụ thể.
Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới. M.
Loeschau (1977)[43] đã đưa ra một số đề nghị như: để đánh giá một khu bằng
cách rút mẫu ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét
tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn. Các số liệu
này sẽ là cơ sở cho các quyết định trong từng kế hoạch lâm sinh cụ thể, đặc biệt
là xét lâm phần có xứng đáng được chăm sóc hay không? việc chăm sóc cấp
bách đến mức độ nào? cường độ chăm sóc phải ra sao? Tác giả cũng đề nghị
những chỉ tiêu cần phải điều tra gồm có mật độ, chất lượng cây tái sinh cũng
như đường kính ngang ngực của những cây có giá trị kinh tế lớn trong khoảng từ
1 cm (cây tái sinh đã đảm bảo) đến 12,6 cm (giới hạn dưới của kích thước sản
phẩm).
Từ những tính toán về mặt sai số cũng như về mặt tổ chức thực hiện thì
các ô được chọn là những hình vuông có diện tích là 25 m
2
dễ dàng xác lập bằng
gậy tre. Tất cả những cây tái sinh của những loài có giá trị kinh tế (đường kính
gốc = 1 ÷ 2,5 cm) có nguồn gốc hạt và thân thẳng đẹp sẽ được đếm và đo hay
ước lượng đường kính theo hai cấp 1 - 5cm và 5 - 12,5cm. Các ô đo đếm được
xác lập theo từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 ô, bố trí liên tiếp theo kiểu phân bố hệ
thống không đồng đều. Như vậy các ô vừa đại diện được đầy đủ toàn bộ khu vực
điều tra, mặt khác những nhân tố điều tra vừa có dạng gần với phân bố chuẩn.
Nhìn chung những kết quả nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên đã làm sáng
tỏ phần nào các đặc điểm tái sinh, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh và những
nguyên lý chung để xây dựng phương thức xúc tiến tái sinh rừng. Tuy nhiên
những nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới nói chung vẫn chưa thật đầy đủ hệ
thống cho từng loại rừng cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Từ năm 1962 - 1969, Viện Điều tra Qui hoạch rừng đã có điều tra tình
hình tái sinh tự nhiên cho các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam
như: Yên Bái (1965), Quỳ Châu sông Hiếu Nghệ An (1962 - 1964), Quảng Bình
(1969), Lạng Sơn (1969).
Nguyễn Hữu Hiến (1970)[20] đã đưa ra phương pháp đánh giá tố thành
rừng nhiệt đới, tác giả cho rằng loài cây tham gia vào loại hình thì nhiều, trên
diện tích một ha có khi có tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể kể hết
được. Vì vậy, người ta chỉ kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong
các tầng quan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế) tác giả đã
đưa ra công thức tính tổ thành là X ≥ N/a với X là trị số bình quân cá thể của
một loài, N là số cây điều tra và a là số loài điều tra. Một loài được gọi là thành
phần chính của một loại hình phải có số lượng cá thể bằng hoặc lớn hơn X . Đây
là một cách đánh giá thuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài,
diễn thế và sự phân bố các quần lạc thực vật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
rơi nên đã thể hiện rất nhiều nhược điểm như chủng loại cây phi mục đích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
h tt
p : //
www .
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
ngày càng tăng, kích thước cây tái sinh ngày càng giảm và từ đó tác giả cũng đã
đưa ra những biện pháp trước mắt khắc phục tình trạng trên để khai thác vẫn bảo
đảm được tái sinh và nuôi dưỡng rừng.
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên tác giả Vũ Tiến Hinh
(1991)[24] đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý
nghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng. Tác giả đã sử dụng
phương pháp chặt hết cây gỗ D
1.3
≥ 8cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâm phần
sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên sau khai thác kiệt và một ô thuộc trạng thái
rừng IIIA
3
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
cây tái sinh có chất lượng trung bình và 16% cây chất lượng xấu. Phân bố tổ
thành cây tái sinh tác giả cho thấy cây tái sinh tự nhiên trong khu vực gồm 46
loài thuộc 22 họ. Trong đó có 24 loài cây có giá trị kinh tế và 22 loài cây có giá
trị kinh tế thấp, Ràng ràng và Máu chó là 2 loài có tần số xuất hiện thực tế lớn
nhất trên 20%. Về phân bố số lượng cây tái sinh tác giả cho thấy ở rừng giàu, có
chất lượng tốt (rừng loại IV và IIIB) có số cây tái sinh lớn nhất (3.200 - 4.000
cây/ha). Ở rừng nghèo số cây tái sinh chỉ có 1.500 cây/ha (rừng IIIA
1
), trong
rừng thuần tre nứa số cây lá rộng tái sinh tự nhiên thấp nhất 527 cây/ha. Trong
toàn lâm phần phân bố lý thuyết của cây tái sinh tự nhiên ở rừng trung bình
(IIIA
2
) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Possion, các loại rừng khác cây tái
sinh có phân bố cụm.
Nguyễn Văn Trương (1993)[55] đã đề cập đến cơ sở sinh thái rừng trong
tái sinh rừng, tác giả cho rằng muốn phát huy tái sinh tự nhiên và nhân tạo thì
phải hiểu biết hoàn cảnh sinh thái của các loài cây mục đích mà chúng ta cần tái
sinh. Khi khai thác cây đủ kích thước cho phép đã gây nên một sự thay đổi đột
ngột nguy hại cho cây tái sinh, chỗ trống mở ra làm cho đất nóng và khô, không
cho phép hạt nảy mầm, những hạt nảy mầm thì bị nắng đốt; đất khô mà chết rụi
nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại
do thiếu lớp cây mẹ. Vùng trung tâm tác giả nhận xét sự nghèo kiệt nhanh chóng
của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên vào loại thấp, số
lượng cây tái sinh thấp hơn nhiều so với khu vực Tây Bắc nhưng khác với Tây
Bắc vùng này môi trường rừng còn giữ được tốt hơn nên ít thể hiện chiều hướng
cây ưa sáng chịu hạn xuất hiện trong tái sinh. Vùng Đông Bắc, tác giả cho thấy
số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 - 12.000
cây/ha lớn hơn các vùng khác, về chất lượng: có một tập đoàn cây thứ sinh kích
thước trung bình chiếm tổ thành ưu thế trong các địa phương như: Chẹo, Giẻ,
Trám, Sồi phảng, Sau sau, Lõi thọ,…phát triển thành cây tái sinh có triển vọng
(H ≥ 1,5m). So với các vùng khác, vùng Đông Bắc có khả năng tái sinh tự nhiên
tốt. Đối với các vùng Bắc Trung Bộ tác giả nhận xét tái sinh tự nhiên ở vùng này
khá thuận lợi và đây là vùng có tái sinh tự nhiên tốt nhất ở miền Bắc nước ta. Số
lượng cây tái sinh từ 7.000 ÷ 10.000 cây/ha, trong đó 25% là số cây có triển
vọng trở thành gỗ lớn, rừng IIIA
1
nghèo tái sinh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình cũng đạt được đến 4.000 ÷ 5.000 cây/ha với số cây triển vọng từ
1.000 ÷ 1.200 cây/ha, về chất lượng tỷ lệ cây gỗ tái sinh xuất hiện với tần suất
cao.
Lâm Công Định (1987)[18] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng tái
sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng. Tác giả kết luận hiệu
quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng tới đạt được 3
yêu cầu mấu chốt sau đây: 1- Giữ vững được vốn rừng về cả mấy mặt hiện tại
trong đó: Địa bàn, diện tích, thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học,
sản lượng, phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh. 2 - Đảm bảo được sản lượng
khai thác hàng năm theo chu kỳ ổn định. 3 - Nâng thêm được giá trị vốn rừng
chủ yếu về 3 mặt: Thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học và sản
lượng thu hoạch. Ông nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn tùy thuộc vào
khả năng phương pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh. Nghĩa là cuối cùng tùy
tái sinh cao đạt trên 500 cây/ha như: Ràng ràng mít, Re bầu, Giổi xanh, Thông
nàng,…về chất lượng thì tỷ lệ cây tốt ở 2 trạng thái trên chiếm trên 62,46%, cây
cao nhất ở rừng IVB đạt 79%, tỷ lệ cây tái sinh xấu đều dưới 15%. Các loài cây
tái sinh gỗ lớn xuất hiện lớn hơn 50% ở trạng thái IIIB (cường độ khai thác
26%) là 6 loài và cường độ khai thác là 45% là 6 loài còn trạng thái IVB với
cường độ khai thác là 30% là 8 loài và cường độ khai thác 39% là 7 loài thấp
nhất là ở cường độ khai thác 51% chỉ có 5 loài từ đó tác giả cũng đưa ra một số
đề nghị về các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên để kinh doanh gỗ lớn ở Lâm
trường Trạm Lập.
Các nghiên cứu có liên quan đến khu vực
Vƣờn
Quốc gia Tam Đảo:
Đinh Việt Phương (1998) đã nghiên cứu, điều tra thành phần loài, phân bố
các loài trong họ Dẻ và đã phát hiện, mô tả đặc điểm hình thái, đánh giá được sự
phân bố của 13 loài Dẻ có ở đây. Theo tác giả số lượng 13 loài Dẻ nơi diện tích
rộng lớn, địa hình phức tạp như Tam Đảo chưa phản ánh được đầy đủ thành
phần loài trong họ Dẻ ở VQG Tam Đảo.
Lê Anh Công (2003) đã nghiên cứu, điều tra phát hiện thành phần loài,
đặc điểm phân bố và tình hình tái sinh các loài trong họ Dẻ và đã phát hiện, mô
tả, điều tra đánh giá phân bố của 17 loài Dẻ có trong khu vực VQG Tam Đảo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
h tt
p : //
www .
Lr c
Lr c
- t
nu . e
du . v
n
Ch
ƣ
ơng
2
MỤC TIÊU, ĐỐI
TƢỢNG,
NỘI
DUNG
VÀ
PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1 Về mặt lý luận:
Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của cây Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis
Indica A.D.C) tái sinh tự nhiên ở Vườn quốc gia Tam Đảo.
2.1.2 Về mặt thực tiễn:
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bảo vệ tái sinh của
cây Dẻ gai Ấn Độ tái sinh tự nhiên tại Vườn Quốc gia Tam Đảo.
2.2 Đối