Đề tài mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm đối với việt nam - Pdf 22



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:

MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM CỦA MỘT SỐ
NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Xuân Nữ
chính, Hà Nội. II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
1. Asian Insurance Review (06/2005), Bancassurance – Making it work. But
for whom?
2. Jerome Yeatman (1999), International textbook on insurance, Paris
National Insurance University, France.
3. Sivam Subamaniam (2004), Challenges facing regulators, insurers and
banks in the bancassurance arena, Hongkong.
4. Jorn F. Kristensen and Ang Yew-Lee (2006), The Singapore insurance
market, Singapore.

III. CÁC TRANG WEB
1. HTTP://WWW.AAR.COM.AU/
2.
3. www.celent.com/ /20030731/ITSpendingIns.htm
4.
5.
6.
7.
8.
9. www.taiwanratings.com/ /sld013.htm
10.

Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
1
LỜI MỞ ĐẦU

Việc tìm hiểu và học hỏi những kinh nghiệm, chính sách cũng như
đường lối của các nước trong khu vực, những nước có những đặc điểm kinh
tế xã hội tương đồng với chúng ta là một việc làm vô cùng quan trọng. Đó
cũng chính là việc làm nhằm tìm hiểu rõ hơn về thị trường bảo hiểm các nước
đồng thời cũng là quá trình đi tìm lời giải cho bài toán hội nhập của thị trường
bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
Từ những yêu cầu thiết thực đó em đã lựa chọn đề tài “Mở cửa thị
trường bảo hiểm ở một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm đối với
Việt Nam”. Đề tài nêu lên những kinh nghiệm và bài học quý báu của các
nước có thể áp dụng trong điều kiện của Việt Nam hiện nay và trong những
năm tới khi thị trường bảo hiểm Việt Nam đã hội nhập đầy đủ.
2. Mục đích nghiên cứu
Khoá luận đi sâu nghiên cứu các kinh nghiệm và chính sách mở cửa thị
trường bảo hiểm của các nước trong khu vực bao gồm những nước điển hình
như Trung Quốc, Thái Lan và Singapore. Từ đó, dựa trên những chính sách và
chủ trương của Nhà nước xuất phát từ nội tại nền kinh tế, khoá luận đưa ra
những bài học kinh nghiệm cho quá trình mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt
Nam.
3. Nội dung nghiên cứu
Với mục đích như vậy, khoá luận tập trung nghiên cứu quá trình hình
thành và phát triển thị trường bảo hiểm tại các nước, thực trạng thị trường bảo
hiểm hiện nay và chính sách mở cửa của những nước này trên cơ sở nghiên
cứu và chọn lọc những đặc điểm sáng tạo nổi bật của các nước có thể áp dụng
với tình hình cụ thể của Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là bảo hiểm và thị trường bảo
hiểm. Đi vào chi tiết, khoá luận tìm hiểu những đặc điểm và hội nhập
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT

BẢO HIỂM

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM
1. Định nghĩa bảo hiểm
Bảo hiểm là một lĩnh vực ra đời sau của thị trường tài chính nhưng nó
đã phát triển với tốc độ rất nhanh chóng. Có nhiều nghiên cứu về bảo hiểm và
do đó các định nghĩa về bảo hiểm cũng rất đa dạng, tập trung xem xét trên
những khía cạnh khác nhau. Có một số định nghĩa về bảo hiểm như: “Bảo
hiểm là một phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng
khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên”. Định nghĩa này mới
chỉ đề cập đến phương pháp lập quỹ dự trữ bảo hiểm, mà chưa rõ phương
thức sử dụng nó.
Một định nghĩa khác đơn giản hơn xét trên khía cạnh tổn thất và bồi
thường tổn thất: “Bảo hiểm là việc cam kết hoàn trả tiền trong trường hợp tổn
thất xảy ra cho một cá nhân hay tổ chức đã dự phòng thảm hoạ xảy ra và trả
tiền trước đó cho công ty bảo hiểm”
Theo khía cạnh luật pháp và kinh tế học, bảo hiểm là một dạng kiểm
soát rủi ro trước hết được dùng để bảo đảm đối với những nguy cơ rủi ro có
thể xảy ra gây thiệt hại về tài chính. Một cách chính xác, bảo hiểm được định
nghĩa là việc chuyển nguy cơ rủi ro từ một chủ thể sang một chủ thể khác
tương ứng theo mức phí xác định hợp lý.
Và, một cách chung nhất và mang tính bản chất nhất, có thể định nghĩa
bảo hiểm như sau: “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết
bồi thường (theo quy luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm trong từng
trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham
gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ ba”. Điều này có
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
5

6
nhận bảo hiểm lại có thể xem xét để phân loại, sắp xếp theo từng mức độ khác
nhau nếu cần thiết và áp dụng mức phí thích hợp.
2.3 Phân tán rủi ro
Khi nhận bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm nghĩa là công ty bảo
hiểm đã tự mình ràng buộc trách nhiệm đối với những tổn thất và hư hại xảy
ra đối với đối tượng được bảo hiểm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các
công ty bảo hiểm với tiềm lực tài chính chưa mạnh, quỹ bảo hiểm chưa nhiều
trong khi giá trị bảo hiểm lại lớn mà trong điều kiện kinh tế thị trường, các
công ty không thể từ chối khách hàng của mình. Điều này dẫn đến việc họ
phải phân tán rủi ro để tự bảo hiểm cho hoạt động của chính mình. Phân tán
rủi ro có thể thực hiện qua hai hình thức: đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm. Về
mục đích, hai phương thức này đều giống nhau song về hình thức lại khác
nhau. Đồng bảo hiểm là hình thức nhiều nhà bảo hiểm cùng nhận bảo hiểm
cho một rủi ro có giá trị lớn. Trong khi đó, tái bảo hiểm là hình thức một công
ty bảo hiểm nhận bảo hiểm cho một loại rủi ro nhất định sau đó nhượng bớt
một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà bảo hiểm khác.
2.4 Trung thực tuyệt đối
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối áp dụng cho cả hai bên tham gia trong
hợp đồng bảo hiểm, đó là người mua – bên tham gia bảo hiểm và người bán –
công ty nhận bảo hiểm.
Đối với công ty bảo hiểm, họ phải đảm bảo đưa ra những điều kiện hợp
đồng phù hợp, minh bạch, đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên. Khi xảy ra
tổn thất, quyền lợi của người được bảo hiểm, việc thanh toán số tiền bảo
hiểm, các thủ tục giải quyết có nhanh chóng và thuận lợi hay không là tuỳ
thuộc vào tính “trung thực tuyệt đối” của người bán sản phẩm bảo hiểm.
Ngược lại, đối với người tham gia bảo hiểm, anh ta phải tạo điều kiện
thuận lợi cho công ty bảo hiểm trong việc xác minh đối tượng bảo hiểm để
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam

Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
8
- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước. Với quỹ huy
động từ sự tham gia của các thành viên, công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi
thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ khôi phục
đời sống, nhà nước do đó giảm được một phần ngân sách trợ giúp. Mặt khác,
hoạt động bảo hiểm nhất là bảo hiểm thương mại có trách nhiệm đóng góp
vào ngân sách thông qua thuế và các khoản đóng góp khác.
- Bảo hiểm là một phương thức huy động vốn, là một công cụ trên thị
trường tài chính. Bảo hiểm thu hút nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế
xã hội.
- Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước
thông qua hoạt động tái bảo hiểm.
- Bảo hiểm thu hút một số lượng lao động nhất định của xã hội, góp phần
giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội.
- Cuối cùng, bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức
kinh tế xã hội, giúp họ yên tâm và ổn định trong cuộc sống, sinh hoạt và
trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nói một cách hình ảnh, bảo hiểm chính là cánh tay vịn cho nền kinh tế,
chính trị, xã hội của mỗi quốc gia.
II. THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM
1. Khái niệm thị trƣờng bảo hiểm
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hoá.
Nền sản xuất hàng hoá tạo điều kiện cho sự ra đời của thị trường và ngược lại,
thị trường thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát triển. Quan niệm chung nhất
về thị trường là “thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hoá
được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát
sinh gắn liền với một không gian nhất định” [5].

hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm dầu khí… Các
tổ chức trung gian đóng vai trò là cầu nối giữa người mua với người bán. Tổ
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
10
chức trung gian gồm các công ty môi giới hoặc các đại lý bảo hiểm. Hình
thức tổ chức và đặc trưng của các công ty này có thể khác nhau.
2. Những đặc trƣng cơ bản của thị trƣờng bảo hiểm
2.1 Những đặc trưng chung
Cũng giống như các thị trường khác, thị trường bảo hiểm có những đặc
trưng chung của các thị trường thông thường đó là: 2.1.1 Vận động của thị trường bảo hiểm tuân theo quy luật giá trị
Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở
hao phí lao động xã hội cần thiết. Sự vận động của quy luật giá trị thông qua
sự vận động của giá cả hàng hoá. Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá cả của nó
sẽ cao và ngược lại.
Giá bảo hiểm thực chất là phí bảo hiểm. Đó chính là số tiền mà người
mua phải trả cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm về một dịch vụ bảo hiểm
nào đó trên cơ sở thoả thuận giữa hai bên. Việc thoả thuận phí bảo hiểm trên
cơ sở bình đẳng và tự do giữa hai bên nên có thể coi đó là giá chấp nhận của
thị trường. Phí bảo hiểm bao gồm phí thuần và phụ phí (hay phí hoạt động
trong bảo hiểm nhân thọ). Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở số tiền bảo
hiểm (số tiền người mua chấp nhận với người bán đưa ra) nhân với tỷ lệ phí
bảo hiểm (r).
Trong thị trường bảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm có giá trị càng lớn
chẳng hạn một toà nhà, một con tàu chuyên chở hàng hoá có giá trị cao thì phí
bảo hiểm sẽ càng lớn. Ngược lại, một đối tượng bảo hiểm có giá trị thấp hơn

thực hiện được thông qua giảm giá, quảng cáo, các hình thức khuyến mãi…
Cạnh tranh tất yếu sẽ dẫn đến phá sản hoặc liên kết. Liên kết thường
diễn ra giữa các doanh nghiệp có tiềm lực yếu do quy mô nhỏ hoặc mới xuất
hiện trên thị trường. Xu hướng sáp nhập và mua lại cũng là hệ quả của quá
trình cạnh tranh gay gắt trên thị trường bảo hiểm.
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
12
Tuy nhiên, liên kết hay sáp nhập không chỉ là tất yếu mà còn là nhu cầu
của thị trường bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm cần có lượng vốn đủ lớn
để có thể đáp ứng các nhu cầu bảo hiểm gia tăng cả về số lượng cũng như quy
mô của thị trường. Các hoạt động tài chính do các công ty bảo hiểm tiến hành
cũng cần một khối lượng vốn lớn để chuyên nghiệp hoá nghiệp vụ này tại các
công ty bảo hiểm.
2.2 Những đặc trưng riêng
Ngoài các đặc trưng chung cơ bản trên, thị trường bảo hiểm còn có
những đặc điểm rất riêng so với các thị trường khác.
2.2.1 Thị trường bảo hiểm là nơi trao đổi một loại hàng hoá đặc biệt
Những người mua và người bán tham gia mua và bán thứ hàng hoá mà
người ta không hề mong đợi nó xảy ra, đó là rủi ro. Người mua không mong
nó xảy ra vì nó làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến
cuộc sống của con người. Anh ta trả tiền cho công ty kinh doanh bảo hiểm để
đổi lấy sự an tâm và mong muốn được đảm bảo trước một rủi ro không lường
trước được trong tương lai. Cũng như vậy, người bán không mong muốn rủi
ro xảy ra vì anh ta phải trả tiền bồi thường, phải tiến hành các hoạt động xác
minh, giám định. Tuy nhiên, chính những rủi ro, những sự bấp bênh, tai nạn
và thảm họa ấy lại chính là cơ sở để hình thành thị trường bảo hiểm, là cơ sở
cho hoạt động của hàng nghìn hãng kinh doanh bảo hiểm lớn nhỏ hiện nay.
Ngoài ra, hàng hoá mua bán trên thị trường bảo hiểm là loại hàng hoá

nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Đồng thời, hoạt động này cũng là một trong những
nguồn cung vốn quan trọng cho nền kinh tế.
Hình 1: Cơ cấu đầu tƣ của các doanh nghiệp bảo hiểm
theo danh mục đầu tƣ 2003 – 2004 (đơn vị: tỷ đồng)
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
14
12.980
20.030
832
439
2.140
1.183
0
5000
10000
15000
20000
25000
2003 2004
Bất động sản,
cho vay, uỷ
thác đầu tư
Cổ phiếu, trái
phiếu doanh
nghiệp
Gửi tiền tại
các tổ chức tín
dụng, trái

thương mại…
3.1 Phân loại theo tiêu chí địa lý
Cách phân loại thị trường Bắc Mỹ, thị trường Tây Âu, Đông Bắc Á như
trên là phân loại theo khu vực địa lý. Tại mỗi khu vực có thể phân loại ở cấp
nhỏ hơn nữa như thị trường bảo hiểm Hoa Kỳ, thị trường bảo hiểm Canada,
thị trường bảo hiểm Đức, Nhật…
Bằng cách phân loại này, các doanh nghiệp bảo hiểm có thể xác định
các đơn vị thị trường mục tiêu cho mình vì suy cho cùng, mỗi khu vực thị
trường phân chia theo khu vực địa lý đều có những đặc điểm tương đồng nhất
định về tâm lý, nhân khẩu, về thói quen tiêu dùng hay về thu nhập.

3.2 Phân loại theo đặc điểm sản phẩm
Các sản phẩm bảo hiểm vô cùng phong phú và đa dạng, các sản phẩm
này phát triển từng ngày theo yêu cầu cũng như trình độ phát triển của đời
sống xã hội. Theo đó, chúng ta có thể phân loại thành thị trường bảo hiểm
nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm thương mại, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm
y tế…
Việc phân loại này nhằm mục đích xem xét sâu hơn các khía cạnh của
từng thị trường trên cơ sở phân tích kỹ hơn đặc điểm của sản phẩm, thói quen
tiêu dùng, và các biện pháp thúc đẩy cầu của thị trường, giúp các hãng kinh
doanh bảo hiểm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
16
Trong khuôn khổ của khóa luận này, chỉ xin tập trung nghiên cứu thị trường
bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm thương mại – hai loại hình sản phẩm có ảnh
hưởng lớn và sâu sắc nhất tới nền kinh tế và có liên quan chặt chẽ với khái
niệm thị trường và mở cửa thị trường như được đề cập trong tên đề tài.
3.2 Phân loại theo nhân khẩu học

nước đang phải xây dựng cho mình những chính sách kinh tế, tài chính phù
hợp và hợp lý, cho phép thúc đẩy sự tự do hoá dịch vụ tài chính để sao cho
theo kịp với nhịp độ hợp tác và hội nhập của khu vực cũng như thế giới.
Thứ hai, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin ở thế kỷ trước
và công nghệ sinh học dự kiến sẽ xảy ra trong thế kỷ này là hai động lực
chính dẫn đến những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế chính trị loài
người. Các nước gắn kết lại gần nhau hơn dẫn tới hình thành các mạng liên
kết toàn cầu. Những thành tựu do những tiến bộ khoa học đó mang lại đã thúc
đẩy hơn nữa quá trình hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế. Ngành bảo hiểm
với những đặc trưng của mình cũng không thể đứng ngoài xu thế này.
Thứ ba, trong bối cảnh các nước đều ưu tiên cho phát triển kinh tế và
hội nhập quốc tế, xuất phát từ đòi hỏi khách quan trong nội tại nền kinh tế của
mình, hội nhập trong ngành bảo hiểm rất đáng được quan tâm chú ý trong hội
nhập dịch vụ tài chính nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư, tranh thủ công
nghệ và kinh nghiệm của nước ngoài tạo bước đột phá phát triển cho các
doanh nghiệp trong nước.
Thứ tư, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là ngành dịch vụ mang tính
quốc tế sâu sắc. Điều đó xuất phát từ bản chất bảo hiểm theo nguyên tắc phân
bổ rủi ro trong số đông, không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà có thể di
chuyển giữa nhiều nước với nhau, có liên quan đến quyền lợi của các tổ chức
và cá nhân thuộc nhiều quốc gia khác nhau, điển hình như trong bảo hiểm
xuất nhập khẩu, tái bảo hiểm.
Thứ năm, thế giới ngày nay đang đứng trước những nguy cơ lớn mang
tính toàn cầu như khủng bố, thiên tai, bệnh dịch… Hoạt động sản xuất kinh
doanh của các tổ chức, cá nhân cũng như tính mạng của con người luôn luôn
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam
Đặng Thanh Phong Lớp: Anh 13 – K41D - KTNT
18
bị đe doạ. Vấn đề đặt ra không chỉ là thách thức đối với một cá nhân, một

19
các phương án đầu tư vào mua trái phiếu những công ty đang trên bờ phá sản
hay bị bê bối về tài chính. Trong nhiều trường hợp để hoàn thành được các
nghĩa vụ của mình, công ty bảo hiểm không còn cách lựa chọn nào khác ngoài
cắt giảm hoa hồng giành cho các hợp đồng bảo hiểm cũ.
Cũng như trước đây, thị trường bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới
chính là thị trường Bắc Mỹ. Năm 2002, doanh thu bảo hiểm nhân thọ ở thị
trường này tăng 6,3%. Riêng ở Mỹ tăng 6,7% so với 1,5% năm 2001. Sở dĩ ở
Mỹ tăng nhanh như vậy chủ yếu vì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thu nhập
được bảo lãnh (bảo hiểm nhân thọ đa năng, bảo hiểm suốt đời niêm liên nhân
thọ) rất được ưa chuộng. Còn ở Canada, doanh thu bảo hiểm nhân thọ năm
2002 tăng thấp hơn năm 2001 vì nhu cầu bảo hiểm hưu bổng giảm.
Hiện nay, dự đoán về đầu tư tăng vì thị trường tài chính thế giới đang
được cải thiện, lãi suất các hợp đồng bảo hiểm tăng, doanh thu bảo hiểm nhân
thọ cũng tăng, nhưng vẫn duy trì ở mức thấp.
Tại Tây Âu, doanh thu bảo hiểm nhân thọ năm 2001 bị giảm 6,1%, năm
2002 tăng 1,2%. Tăng như vậy chủ yếu do Đức, thị trường bảo hiểm lớn nhất
châu Âu và Tây Ban Nha tiến hành tư nhân hoá đầu tư hệ thống đảm bảo hưu
bổng và Italia sửa đổi luật thuế đã ảnh hưởng tích cực đến việc tăng doanh thu
này. Mặc dù vậy, vốn cổ phần cơ bản của các công ty bảo hiểm nhân thọ Tây
Âu vẫn bị giảm vì lãi suất các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thấp, hơn nữa các
hợp đồng này lại chiếm phần lớn so với các lĩnh vực đầu tư khác và vì thị
trường tài chính đang trong tình trạng căng thẳng.
Tuy nhiên, năm 2003 bảo hiểm Tây Âu bắt đầu phục hưng trở lại mặc
dù doanh thu vẫn chưa cao, chủ yếu do Anh, nước có thị trường bảo hiểm
nhân thọ lớn nhất châu Âu lại gặp khó khăn mới do thị trường trái phiếu được
hưởng lợi nhuận bị phá sản.
Tại châu Á, bảo hiểm bành trướng rất nhanh cùng với sự phát triển kinh
tế của lục địa này và quá trình tự do hoá kinh tế đang diễn ra tại phần lớn các
Mở cửa thị trường bảo hiểm của một số nước trong khu vực và bài học kinh nghiệm

(Phí bảo hiểm thuần, đơn vị: triệu đô la Mỹ) Tổng phí bảo hiểm
Xếp
hạng
Quốc gia
Phí bảo
hiểm phi
nhân
thọ(1)
Phí bảo
hiểm
nhân thọ
Tổng phí
bảo hiểm
Thay đổi
qua các
năm
Phần
trăm so
với phí
bảo hiểm
toàn thế
giới
1
Mỹ (2)
$625.838
$517.074
$1.142.912

6
Ý
47.453
91.740
139.194
8,4
4,06
7
Hàn Quốc (3)
24.085
58.848
82.933
20,5
2,42
8
Canada (4)
44.267
34.456
78.723
12,6
2,30
9
Hà Lan (5)
29.159
31.914
61.073
1,9
1,78
10
Tây Ban Nha

Cũng như trong bảo hiểm nhân thọ, Bắc Mỹ vẫn là thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ lớn nhất và có nhiều khả năng thanh khoản. Ở Bắc Mỹ, nhờ tăng
phí bảo hiểm phi nhân thọ cho nên doanh thu loại này tăng 6% năm 2001,
năm 2002 tăng 11,4%, ở Canada tăng cao hơn ở Mỹ, tương ứng là 11,1% và
16,2%. Tuy vậy, tình hình tài chính của các công ty bảo hiểm vẫn không được
cải thiện là bao nhiêu do phải bổ sung dự trữ bảo hiểm bị thiếu hụt ở thời gian
trước để lại.
Năm 2001, lần đầu tiên trong vòng 100 năm, ngành bảo hiểm Mỹ bị lỗ
thuần tuý. Riêng vụ khủng bố 11/09/2001 làm Mỹ bị lỗ khoảng 40 – 50 tỷ
USD, cao hơn 2 lần vụ tổn thất do cơn bão Entria gây ra (20,2 tỷ USD) và
trận động đất ở Northbritge (16,7 tỷ USD). Khoảng 40% tổn thất này do các
công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Bắc Mỹ gánh chịu, còn 50% do các công ty
bảo hiểm và tái bảo hiểm châu Âu gánh chịu, trong đó phần lớn trách nhiệm
thuộc về các công ty tái bảo hiểm.
Ở thị trường bảo hiểm Tây Âu, doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ năm
2002 tăng 7,3% so với 6,8% năm 2001, đặc biệt tăng mạnh ở Anh – tăng
10,8%, trong đó thị trường bảo hiểm quốc tế Luân Đôn tăng 17,4%, nhờ tăng
phí bảo hiểm, đặc biệt ở các loại bảo hiểm thương mại và bảo hiểm bắt buộc
chủ sử dụng lao động làm thuê.
Ở Tây Ban Nha và Thuỵ Điển, doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ cũng
tăng 2 con số; ở Đức, Áo và Thuỵ Sỹ tăng khoảng 3%. Ở Luc-xam-bua tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status