Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1 “Nghiên cứu sản xuất giun quế trên nền giá thể khác nhau và sử dụng giun quế tươi trong chăn
nuôi gà thịt tại huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang”.
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HÀ VĂN DOANH Thái Nguyên - năm 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta có từ lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong
đời sống của nhân dân. Nó cung cấp sức kéo, thịt, trứng, sữa… phục vụ cho
nhu cầu sống của con người. Trong những năm qua, cùng với sự trở mình đi
lên của đất nước, ngành nông nghiệp đã và đang đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế nước ta. Hiện nay, ngành chăn nuôi không chỉ dừng lại ở
chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình mà ngày càng phát triển với quy mô lớn, nhiều
chủng loại vật nuôi phong phú, đa dạng về cả số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, đi theo đó là hai vấn đề lớn là: thiếu nguồn cung cấp thức ăn
cho gia súc, gia cầm và vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng. Trong chăn nuôi thức ăn
là vấn đề quan trọng, quyết định phần lớn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi.
Chi phí cho thức ăn thường chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 70% tổng chi phí chăn
nuôi, trong đó giá thành của nhóm thức ăn giàu protein thường cao hơn nhiều
so với nhóm thức ăn giàu năng lượng. Trong những năm gần đây, tình hình thị
trường thức ăn chăn nuôi nước ta có nhiều biến động, giá thức ăn công nghiệp
- Xác định được phương pháp nuôi giun quế đạt năng suất cao từ các
chất thải nông nghiệp khác nhau.
- Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng giun quế tươi đến khả
năng cho thịt trên đàn gà thịt.
- Xác định được mức bổ sung giun quế tươi vào khẩu phần ăn của gà
nuôi thịt.
3. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp thêm nguồn tư liệu về kỹ thuật chăn
nuôi giun quế trên nhiều nền giá thể khác nhau và bổ sung giun quế tươi làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
thức ăn bổ sung cho vật nuôi. Ảnh hưởng của giun quế tươi đến khả năng sinh
trưởng và chất lượng gà thịt.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nuôi giun quế và sử dụng giun quế bổ sung vào khẩu phần ăn trong chăn
nuôi gà thịt sẽ giảm được chi phí thức ăn trong chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm
môi trường. Mặt khác, mở ra một hướng chăn nuôi mới góp phần đẩy mạnh
phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
dần về phía bụng, hai đầu hơi nhọn. Cơ thể giun có hình thon dài nối với nhau
bởi nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vành tơ.
Giun quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày
được nhiều nhà khoa học ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể của
nó. Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải
ra phân ra ngoài rất giàu dinh dưỡng, những vi sinh vật cộng sinh có ích trong
hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể nhưng vẫn còn hoạt động ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
“màng dinh dưỡng” một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân
làm cho phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt
hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên.
* Đặc tính sinh lý
Nguyễn Văn Bảy (2005) [2], giun quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng
mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn.
Nhiệt độ thích hợp nhất với giun quế nằm trong khoảng từ 20 - 30
o
C, ở nhiệt
độ khoảng 30
o
C và độ ẩm thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh.
Ở nhiệt độ quá thấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt
độ của luống nuôi lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết. Chúng có thể chết khi điều
kiện khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường
nước có thổi O
2
.
Giun quế quế rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn
định. Qua các thí nghiệm thực hiện, nhận thấy chúng thích hợp nhất vào
điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện
của khu vực phía Nam. Theo nhiều tài liệu, từ một cặp ban đầu trong điều
kiện sống thích hợp có thể tạo ra từ 1.000 - 1.500 cá thể trong một năm.
Giun quế là sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở
phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi
con, kén được hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 - 20 trứng,
mỗi kén có thể nở từ 2 - 10 con.
Khi mới nở, con nhỏ như đầu kim có màu trắng, dài khoảng 2 - 3 mm,
sau 5 - 7 ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện
một vằn đỏ thẫm trên lưng. Khoảng từ 15 - 30 ngày sau, chúng trưởng thành
và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục; từ lúc này chúng bắt đầu có khả năng bắt
cặp và sinh sản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
1.1.1.3. Tác dụng của việc sử dụng giun quế trong chăn nuôi và một số lĩnh
vực khác
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: Hiếm có loài động vật nào có
giá trị hấp dẫn như con giun quế. Giun được sử dụng trực tiếp hoặc phối trộn
để làm thức ăn cao cấp nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản; thậm chí làm thực
phẩm cho con người, dùng sản xuất mỹ phẩm, dược phẩm; giun phân hủy rác
hữu cơ, bảo vệ môi trường; phân giun thải ra là một trong những loại phân
hữu cơ thiên nhiên giàu dinh dưỡng nhất mà con người từng biết. Lợi ích to
lớn của giun quế thể hiện ở một số tác dụng chủ yếu sau đây:
* Giun là loại thức ăn giàu đạm, chất lượng cao để nuôi gia súc, gia
cầm và thủy hải sản, đồng thời làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi
Với hàm lượng protein thô chiếm 70% trọng lượng khô, hàm lượng
đạm của giun tương đương với bột cá, thường được dùng trong thức ăn chăn
nuôi. Giun còn hội đủ 12 loại acid amin, nhiều loại vitamin, chất khoáng cần
thiết cho gia súc, gia cầm và thủy sản. Đặc biệt giun còn có các loại kích thích
giúp cây phát triển ngay cả khi nồng độ pH trong đất quá cao hoặc thấp. Việc
nuôi giun quế lấy phân, chính là việc áp dụng công nghệ xử lý rác thải hữu cơ
bằng con giun quế một trong những công nghệ rẻ tiền nhất.
Hiện tại phân giun quế thường được sử dung cho các mục đích như:
Kích thích sự nẩy mầm và phát triển của cây trồng; Điều hòa dinh dưỡng cải
tạo đất, làm cho đất màu mỡ và tơi xốp; Dùng làm phân bón lót cho cây rau
quả, tạo ra sản phẩm có chất lượng và năng suất cao; Dùng làm phân bón lá
hảo hạng và kiểm soát sâu bọ hại cây trồng. Vì vậy, phân giun là loại phân
sạch thiên nhiên quý giá để bón cho hoa, cây cảnh, rau quả trong nông nghiệp
sạch, được thị trường rất ưa chuộng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
* Giun làm thuốc chữa nhiều loại bệnh cho con người
Trại giun quế PHT (2008) [60], y học cổ truyền của nhiều nước, trong
đó có Việt Nam, đã dùng giun đất để chữa các bệnh về huyết áp, tim mạch,
thần kinh, kháng ung thư, hen suyễn, sốt rét, thấp khớp, đậu mùa, thương hàn,
gẫy tay chân v v… Loại acid amin tyrosin trong giun có thể tăng tuần hoàn
máu ngoại vi của bề mặt cơ thể, tăng tản nhiệt, có tác dụng giải nhiệt, hạ sốt.
Dịch ngâm nước của giun có tác dụng làm tê tri giác (giảm đau). Dung dịch
cồn của giun, có tác dụng giảm huyết áp từ từ và giữ được lâu bền, sử dụng
rất tốt cho người cao huyết áp. Rượu thuốc lumbrokinase làm từ giun đất đã
thanh trùng, ngâm rượu, đến khi có màu nâu đậm, đem ra sử dụng sẽ giúp
ngăn ngừa tai biến mạch máu não, xơ vữa động mạch và mỡ máu ở người cao
tuổi. Trong cơ thể giun có chất xúc tác, có tác dụng co bóp cổ tử cung, trợ
giúp sản phụ dễ dàng khi đẻ. Thành phần đạm trong chiết xuất của giun, có
tác dụng giãn nở khí quản, trị bệnh hen suyễn. Nhờ việc chứa các hàm lượng
rất cao của acid linoleic, cùng khoáng chất vi lượng đặc hiệu chống oxy hóa
Ở Australia người ta ăn giun với món ốp lếp. Hiện nay, đã có đồ hộp thực
phẩm làm bằng giun và bánh bích quy bán ra thị trường. Nhiều nhà dinh dưỡng
học trên thế giới dự đoán: Giun là loại động vật dinh dưỡng, dễ nuôi, trong
tương lai sẽ trở thành nguồn quan trong về thực phẩm động vật bình dân, phổ
biến của loài người.
Giun cũng cung cấp nguyên vật liệu thô tốt nhất cho công nghiệp. Một số
enzyme và hoạt chất được chiết xuất từ giun để làn thuốc, thức ăn, mỹ phẩm.
Hiện giun đang được quan tâm nghiên cứu sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm.
* Giun góp phần bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp sinh thái
Trại giun quế PHT (2008) [60], giun có sức tiêu hóa lớn. Tác dụng phân
giải hữu cơ của giun chỉ đứng sau các vi sinh vật, một tấn giun có thể tiêu hủy
được 70 - 80 tấn rác hữu cơ, hoặc 50 tấn phân gia súc trong một quý. Các nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
trên thế giới đã tận dụng cơ năng đặc thù này của giun để xử lý chất thải sinh hoạt
hoặc rác thải hữu cơ, làm sạch môi trường, có hiệu quả tốt. Một công ty ở
California (Mỹ) đã nuôi 500 triệu giun, hàng ngày xử lý khoảng 2.000 tấn rác. Ở
Nhật, những nhà máy hằng năm sản xuất được 10.000 tấn giấy, với 45.000 tấn phế
thải, đã sử dụng giun để xử lý chất thải, đồng thời sản xuất được 2.000 tấn giun
khô, 15.000 tấn phân giun.
Giun sống trong đất sẽ làm tăng độ phì nhiêu của đất. Phân giun góp phần
làm giảm mức sử dụng phân hóa học, giúp cây trồng phát triển tốt, tăng khả
năng chống sâu bệnh, giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ sâu, nhờ đó bảo vệ được
môi trường. Với những khu vực ô nhiễm, nếu nuôi giun cũng làm sạch được môi
trường nước. Hơn nữa, giun đất có thể xử lý chất thải hữu cơ, phân gà, phân lợn,
phân bò và chuyển hóa phân bón hữu cơ có chất lượng cao, và bằng cách đó cải
thiện môi trường sinh thái các vùng nông thôn. Thậm chí, phân của giun cũng có
thể xử lý nước thải. Nuôi giun trong gia đình, vừa xử lý được rác thải, vừa có
phân giun bón cho hoa, cây cảnh. Một số nước đã làm các khay nuôi giun đặt tại
C giun có
thể duy trì mức độ sinh trưởng nhất định.
* Độ ẩm
Nước là thành phần quan trọng, chiếm 75 - 90% khối lượng cơ thể của
giun. Độ ẩm và nhiệt độ có quan hệ lẫn nhau trong sự sinh trưởng và phát
triển của giun. Do đó, độ ẩm là một trong những nguyên nhân góp phần làm
tăng hay giảm sản lượng của giun quế. Theo Nguyễn Văn Bảy (2005) [1], độ
ẩm thích hợp cho giun quế sinh trưởng và phát triển dao động từ 60 - 70%.
Theo kinh nghiệm của trại nuôi giun quế PHT (2008) [59], phương pháp kiểm
tra độ ẩm rất đơn giản bằng cách lấy chất nền cho vào lòng bàn tay và bóp
nhẹ thì thấy nước thấm ra ở kẽ các ngón tay là phù hợp cho giun.
* Độ chiếu sáng
Cũng theo Nguyễn Văn Bảy (2005) [2], tia tử ngoại của ánh sáng mặt
trời rất có hại cho giun và có khả năng giết chết giun. Giun quế là loại nhạy
cảm với ánh sáng nên chúng thường tránh ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn
chiếu với cường độ mạnh, ánh sáng màu xanh và tia tử ngoại, nhưng không sợ
ánh sáng màu hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
14
* Không khí
Nguyễn Văn Bảy (2005) [2], anh hưởng của không khí đến sinh trưởng
và sinh sản của giun quế chủ yếu là hàm lượng O
2
và CO
2
trong không khí.
* Độ pH
Nguyễn Văn Bảy (2005) [2], giun quế sinh sống trong khoảng pH dao
cho giun ăn tương đương 5kg/ô).
1.1.3. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của gia cầm.
* Tiêu hóa ở miệng
Tuyến nước bọt ở gà kém phát triển, thành phần chủ yếu là dịch nhầy.
Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt. Trong nước
bọt có chứa một ít men amylaza nên cũng có ít tác dụng đối với tiêu hóa. Gà
mái có thể tiết 7 - 12 ml nước bọt trong một ngày đêm (Nguyễn Duy Hoan,
Trần Thanh Vân, 1998) [11].
* Tiêu hóa ở diều
Độ pH trong diều gia cầm khoảng 4,5 - 5,8. Sau khi ăn 1 - 2 giờ diều co
bóp theo dạng dãy (khoảng 3 - 4 lần co bóp) với khoảng cách 15 - 20 phút,
sau khi ăn 5 - 12 giờ là 10 - 30 phút, khi đói 8 - 16 lần/giờ.
Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân
giải thành đường đa rồi một phân đường chuyển hóa thành đường glucoza.
* Tiêu hóa ở dạ dày
Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ. Khối lượng dạ dày
tuyến là 3,5 - 6 g. Vách dạ dày gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết. Dạ dày tiết
dịch có chứa acid clohidric, pepsin và musin. Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là
không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường. Thức ăn không được giữ lại
lâu ở dạ dày tuyến mà chuyển xuồng dạ dày cơ. Ở dạ dày tuyến protein được
thủy phân như sau:
Protein + Nước + Pepsin và HCl Abulmoz + Pepton
Dạ dày cơ có cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh.
Ở đây thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác
dụng của men dịch dạ dày tuyến, enzyme và vi khuẩn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
16
Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào tá tràng, có các
men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy
luật nhất định. Theo Trần Đình Miên và cs (1992) [31] cho biết: Midedorpho
A.F (1967) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn
của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau
đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.
Chambers (1990) [72], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ
phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc
độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sự tăng trưởng thực
sự khi các tế bào mô cơ có sự tăng thêm về khối lượng, số lượng và kích
thước các chiều đo.
Trong thực tế nuôi gia súc gia cầm lấy thịt cho thấy, trong giai đoạn
đầu của sự sinh trưởng, thức ăn được dùng tối đa cho sự phát triển của xương,
mô cơ, một phần rất ít dùng lưu trữ trong cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn cuối
của sự sinh trưởng nguồn chất dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ
thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày
con vật càng tích luỹ chất dinh dưỡng để cấu tạo mỡ. Đến giai đoạn cuối của
sự sinh trưởng nguồn chất dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ
thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày
con vật càng tích luỹ chất dinh dưỡng để cấu tạo mỡ. Trong các tổ chức cấu
tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42 - 45% khối
lượng cơ thể. Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái
(không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm). Giai đoạn 70 ngày tuổi khối
lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g.
Sự sinh trưởng của sinh vật được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho
đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
18
thai (giai đoạn trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (giai đoạn ngoài cơ
thể mẹ). Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành. Như
Trần Long (1994) [22], đã nghiên cứu tốc độ sinh trưởng của 3 dòng
thuần (dòng V1, V3 và V5) của giống gà Hybro HV 85 cho thấy tốc độ sinh
trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi.
Trần Thanh Vân (2002) [62], khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của
gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: khối lượng cơ thể gà ở
10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28g/con, 1993,27g/con và 2189,29g/con.
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [11], cho biết gà
con ở 40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với lúc 1 ngày tuổi, trong
khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày tuổi để tăng gấp 10 lần khối lượng so với
lúc 1 ngày tuổi.
Theo Trần Công Xuân và cs (1999) [66], nghiên cứu tốc độ sinh trưởng
trên hai dòng gà kiêm dụng (882 và Jiang cun) của giống gà Tam Hoàng cho
thấy tốc độ sinh trưởng của hai dòng gà khác nhau: ở 15 tuần tuổi dòng 882
đạt 1872,67g/con, dòng Jiang cun đạt 1742,86g/con.
Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997) [33], khi nghiên cứu 3 giống gà AA,
Avian và BE 88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống
khác nhau ở 49 ngày tuổi là khác nhau, cụ thể lần lượt là: 2501,09g/con,
2423,28g/con, 2315,14g/con. Đối với gà Hybro HV85 ở 56 ngày tuổi khối
lượng cơ thể đạt 1915,38g/con [36].
Các nghiên cứu trên cho thấy, đặc tính di truyền của các dòng, các
giống là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt
của gà. Từ các kết quả nghiên cứu này giúp cho người chăn nuôi biết được
giới hạn sinh trưởng của từng dòng, giống khác nhau để mà áp dụng vào thâm
canh hợp lý có hiệu quả cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
20
* Ảnh hưởng của tính biệt đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể
Tính biệt có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ
thể. Theo tài liệu của Chambers (1990) [72], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh
* Ảnh hưởng của độ tuổi và chế độ dinh dưỡng tới khả năng sinh trưởng
Khi nghiên cứu về độ tuổi và chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh
trưởng của gà thì Chambers (1990) [72] cho biết: Sinh trưởng là tổng số của
sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da. Tỷ lệ sinh trưởng các phần
này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và mức độ dinh dưỡng.
Theo Đào Văn Khanh (2000) [17] nghiên cứu trên gà Tam Hoàng nuôi
vụ hè tại Thái nguyên cho biết, gà Tam Hoàng có khả năng sinh trưởng tương
đối ở tuần 1 là cao nhất 83,25%, sau đó giảm dần, tuần 2 là 62,38% và ở tuần
3 là 52,41%.
Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003) [26], cho biết để phát huy được
sinh trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân
bằng hợp lý giữa protein và năng lượng. Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cho
chúng còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh không mang theo
nghĩa dinh dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt.
Phạm Minh Thu (1996) [50], cho thấy khối lượng cơ thể gà Broiler
Rhoderi Jiang Cun ở 2 chế độ dinh dưỡng lúc 2 tuần tuổi hoàn toàn khác nhau.
Trần Công Xuân (1995) [64], cho biết cùng tổ hợp lai broiler: Ross
208, Ross 208 - V35 nuôi ở 9 lô với 3 mức năng lượng và 3 mức protein khác
nhau, cho khối lượng ở 8 tuần tuổi khác nhau rõ rệt.
Trần Tố (2007) [41], nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa
methionine và lysine trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà broiler Kabir
cho biết đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionine/lysine 40,5% cho sinh trưởng
tốt hơn các lô có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
22
Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt
là phát huy được tiềm năng di truyền về sinh trưởng, thì những vấn đề căn bản
là lập ra được khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo
nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn. Mặt khác, khả năng sinh trưởng còn
kiện khí hậu nước ta thì gà broiler nuôi vụ hè cần phải tăng mức ME và CP
cao hơn vụ xuân 10 - 15%
* Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt
Mật độ nuôi nhốt cũng là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
của gia cầm. Theo Van Horne (1991) [91]: Khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì
hàm lượng NH
3
, CO
2
và H
2
S được sinh ra trong chất độn chuồng cao. Vì khi
mật độ gà đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
23
cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng
nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng tới việc tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết
khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt độ không khí cao.
1.1.5. Vai trò của protein đối với gia cầm
Protein là chất dinh dưỡng không thể thay thế và đứng hàng đầu trong
các chất dinh dưỡng cần thiết đối với gia cầm, nhờ protein sẵn có trong thức
ăn, gia cầm mới có thể tổng hợp được protein của cơ thể và các sản phẩm,
ngoài ra còn tổng hợp ra các chất có hoạt tính sinh học cao như enzyme và
hormone, cùng các hợp chất khác đóng vai trò quan trọng trong các quá trình
sinh lý của cơ thể (Lương Đức Phẩm, 1982 [34]). Trong cơ thể động vật nói
chung và gia cầm nói riêng, không thể tổng hợp protein từ glucid và lipit mà
bắt buộc phải lấy protein từ thức ăn đưa vào hàng ngày một cách đều đặn với
một số lượng đầy đủ theo một tỷ lệ thích hợp so với các chất dinh dưỡng khác
(Bùi Đức Lũng, 1995 [25]).
riêng không thể tổng hợp protein từ gluxit hay từ lipit mà bắt buộc phải lấy từ
bên ngoài vào qua con đường thức ăn. Khi cần thiết protein cũng là nguyên
liệu giải phóng năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể (1 gam protein
phân giải cho 4,0 kcal năng lượng trao đổi) trong khi gluxit và lipit lại không
thể chuyển hóa thành protein được.
1.1.6. Khả năng cho thịt của gia cầm
Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất
lượng thịt. Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển
của hệ cơ, kích thước và khối lượng của khung xương.
1.1.6.1. Năng suất thịt
Năng suất thịt là chỉ tiêu quan trọng và thông dụng để đánh giá sức sản
xuất thịt của gia cầm. Năng suất thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mà tính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
25
trạng này lại phụ thuộc vào kích thước các chiều đo cơ thể (dài lườn, rộng
ngực, dài đùi ). Năng suất thịt có thể biểu thị bằng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ giữa
các bộ phận như: Nạc, mỡ, da. Ở gà thịt các tỷ lệ thường được tính là: Tỷ lệ
thịt xẻ, tỷ lệ cơ đùi, tỷ lệ cơ ngực, tỷ lệ mỡ bụng. Năng suất thịt cao hay thấp
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Giống, dòng, điều kiện chăm
sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức nuôi, thú y phòng bệnh
Ngô Giản Luyện (1994) [27], khi khảo sát năng suất thịt của 3 dòng
V1, V3 và V5 trong giống gà Hybro cho thấy giữa các dòng có sự khác nhau
rõ rệt. Trong cùng một dòng: tỷ lệ thân thịt gà trống cao hơn gà mái và thịt
ngực của gà mái cao hơn gà trống.
Chambers và cs (1988) [71] cho rằng giữa các dòng luôn có sự khác
nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt
ngực, cánh, chân hay phần thịt ăn được.
Phạm Thị Hiền Lương (1997) [28] khi nghiên cứu một số tính năng sản
xuất của gà Tam Hoàng đều cho kết quả tỷ lệ thịt ngực của con mái cao hơn