Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loại cây làm phẩm màu thực phẩm tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. - Pdf 29


I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGễ TH PHNG Tờn ti:
Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loại cây làm phẩm màu
thực phẩm tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Lõm nghip
Lp : K42 - Lõm nghip
Khoa : Lõm nghip
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn: ThS. Nguyn Th Tuyờn

Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1. Khái niệm về tri thức bản địa 4
2.1.2. Ý nghĩa của tri thức bản địa 4
2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm trên thế giới
và Việt Nam 5
2.2.1. Thế giới 5
2.2.2. Ở Việt Nam 7
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 10
2.3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Quang Minh 10
2.3.2. Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội xã Bằng Hành 12
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.3. Nội dung nghiên cứu 17
3.4. Phương pháp và kỹ thuật điều tra 17
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
4.1. Tri thức bản địa về sử dụng các loài cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện
Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 19
4.1.1. Thành phần các loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm tại xã Quang
Minh và Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 19
4.1.2. Cách chế biến các loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm. 21

còn bao gồm cả giá trị thẩm mỹ và vấn đề an toàn cho người sử dụng. Để tạo
cho thực phẩm có tính cảm quan cao về phương diện màu sắc, hiện nay có 2
loại phẩm màu thường được sử dụng là chất màu tổng hợp và chất màu tự
nhiên. Trong đó, chất màu tổng hợp được sử dụng khá phổ biến bởi đặc tính rẻ,
màu sắc phong phú. Tuy nhiên nỗi ám ảnh của người tiêu dùng về những phẩm
màu tổng hợp độc hại ẩn chứa nhiều nguy cơ gây hại đến sức khỏe con người
tăng đột biến trong rất nhiều loại thực phẩm hiện nay. Bởi ngoài những chất
màu được phép sử dụng trong thực phẩm thì những chất màu không đủ tiêu
chuẩn vẫn được sử dụng hoặc sử dụng quá giới hạn sẽ ảnh hưởng độc hại tới
sức khỏe người tiêu dùng.
Khác với chất màu tổng hợp, chất màu tự nhiên là chất màu có sẵn trong thực
vật tự nhiên và không gây độc. Và hiện nay nhu cầu sử dụng chất màu tự nhiên
cho thực phẩm ngày càng nhiều vì tính ưu việt của nó như dễ kiếm, không độc, sử
dụng dễ dàng. Chính vì vậy, nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm và các chất
màu từ chúng có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Nhuộm màu thực phẩm bằng thực vật là tri thức và kinh nghiệm truyền
thống lâu đời của các dân tộc Việt Nam, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số.
Hơn thế, với phong tục tập quán khác nhau, cư trú trên các vùng lãnh thổ có
điều kiện tự nhiên riêng biệt; mỗi dân tộc có kinh nghiệm và tri thức độc đáo
mang tính bản địa và văn hóa truyền thống.
Xuất phát từ nhu cầu sử dụng chất màu đó trong thực phẩm, chúng tôi
chọn đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loại cây làm phẩm 2
màu thực phẩm tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang” nhằm ứng dụng rộng
rãi hơn nữa chất màu tự nhiên trong thực phẩm và góp phần phát triển các loài
cây này ở nước ta.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Bảo tồn, lưu giữ được những kiến thức bản địa, những kinh nghiệm về sử

giữ, bảo tồn và phát huy vốn kiến thức bản địa của người dân vùng núi phía bắc
nói chung và người dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói riêng.
Đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa từ cây trồng bản địa.
Bước đầu định hướng cho công nghiệp thực phẩm trong việc tạo nguồn
cung cấp bền vững về phẩm màu có nguồn gốc từ thực vật, vừa dễ kiếm, rẻ
tiền, không độc mà còn dễ sử dụng, gia tăng chất lượng các sản phẩm trong
công nghiệp chế biến thực phẩm
Góp xóa đói giảm nghèo cho bà con các dân tộc miền núi phía Bắc nói
chung và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Giang nói riêng. 4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Khái niệm về tri thức bản địa
Tri thức bản địa (Hoàng Xuân Tý, 1998), nói một cách rộng rãi, là tri thức
được sử dụng bởi những người dân địa phương trong cuộc sống của một môi
trường nhất định (Langil và Landon, 1998).
Theo Johnson (1992), tri thức bản địa là nhóm tri thức được tạo ra bởi một
nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong
một vùng nhất định.
Theo Warren (1991), tri thức bản địa là một phần của tri thức địa phương -
dạng kiến thức duy nhất cho một nền văn hoá hay một xã hội nhất định.
Tri thức bản địa là tri thức của cộng đồng dân cư trong một cộng đồng
nhất định phát triển vượt thời gian và liên tục phát triển (IIRR, 1999). Tri thức
bản địa được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm
trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hoá và môi trường địa phương, năng
động và biến đổi.

cao.
Tổng hợp các chất vô cơ không có độc tính để nhuộm màu cho thực phẩm.
Đây là hướng nghiên cứu được tiến hành từ lâu nhưng các chất vô cơ có thể sử dụng
cho thực phẩm còn rất hạn chế. Hiện nay các chất vô cơ được phép dùng trong thực
phẩm mới chỉ có một số chất: FeO.Fe
2
O
3
… Xu hướng hiện nay của thế giới là hạn
chế sử dụng các chất nhuộm màu có nguồn gốc vô cơ trong công nghiệp thực phẩm.
Do những tiêu chuẩn chặt chẽ về mức độ an toàn, cho tới nay thế giới
mới chỉ thừa nhận 73 hợp chất (hoặc dịch chiết, phức chất) là chất nhuộm màu
cho thực phẩm. Trong số này một số hợp chất chỉ được phép sử dụng trong một
số quốc gia nhất định.
Hiện nay có một số loại cây cho chất nhuộm màu thực phẩm được trồng
và khai thác với số lượng lớn ở một số nước. Ví dụ như Cutch - nước chiết sấy
khô của cây Acacia catechu. Lượng sản xuất hàng năm trên thế giới của Cutch
khoảng 6.000 – 9.000 tấn/năm, trong đó lượng được xuất - nhập khẩu giữa các
nước khoảng 1.500 tấn/năm. Nước sản xuất chính là Ấn Ðộ, một số nước khác
cũng sản xuất nhưng với số lượng ít hơn như Pakistan, Bangladesh, Myanmar
và Thái Lan. Ngoài Cutch ra, còn có một sản phẩm tự nhiên khác cũng được
sản xuất và sử dụng với số lượng lớn, đó là Annatto - được lấy từ cây Ðiều
nhuộm - Bixa orellana. Lượng sản phẩm trên thế giới hàng năm khoảng 10.000
tấn, lượng sản phẩm tham gia mậu dịch khoảng 7.000 tấn. Nước xuất khẩu 6
chính các sản phẩm Annatto là Peru và Kenya, các nước nhập khẩu chính là
Mỹ, Nhật và một số nước Đông Âu [5].
Bên cạnh việc sử dụng các chất màu thu được bằng các cách truyền thống
7
Luật sử dụng chất màu thực phẩm ở châu Âu cũng quy định rõ các sản
phẩm màu được sử dụng trong chế biến thực phẩm. Tuy vậy, mỗi quốc gia có
thể quy định riêng cho từng chất cụ thể. Vì thế, có một số chất màu ở đây
không được sử dụng trên tất cả các nước trong cộng đồng châu Âu (E128 red
2F, E129 allura red, E133 brilliant blue FCF, E154 brown FK, E155 brown
HT), hoặc được sử dụng nhưng hạn chế. Ở Đức cũng như một số nước khác có
đưa ra danh sách các thực phẩm được sử dụng chất màu. Trong luật sử dụng
chất màu thực phẩm ở châu Âu, các phục lục từ II – V có đưa ra chi tiết về các
thực phẩm đó.
Tóm lại, hiện nay nghiên cứu chất màu thực phẩm trên thế giới được quan
tâm rất lớn ở nhiều quốc gia với nhiều hướng nghiên cứu mới. Trong các hướng
nghiên cứu đó, tìm kiếm và chiết tách chất màu từ thực vật vẫn được ưu tiên
hàng đầu trong các nghiên cứu.
2.2.2. Ở Việt Nam
Kinh nghiệm sử dụng tài nguyên thực vật của nhân dân ta rất phong phú
và đa dạng dưới nhiều hình thức vào các mục đích khác nhau như: làm lương
thực, thực phẩm, xây dựng, chăm sóc sức khoẻ, làm cảnh. Đặc biệt phải kể đến
mục đích nhuộm màu thực phẩm, các cây dùng để nhuộm màu có thể dùng trực
tiếp hoặc được chế biến thành các sản phẩm dùng để nhuộm màu cho các loại
thực phẩm
Từ lâu, các nhà khoa học đã tiến hành chiết tách các chất nhuộm màu thực
phẩm từ thực vật. Tuy nhiên hiện vẫn còn phải sử dụng nhiều chất màu được
tổng hợp bằng con đường hoá học. Khi chất màu nhuộm công nghiệp được đem
vào sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt của nhân dân thì người ta đã phát hiện ra
các nhược điểm của sản phẩm chất màu công nghiệp vì chúng có thể gây nên
các tác dụng. Vì vậy trong những năm gần đây con người càng thấy được tính
ưu việt của các sản phẩm tự nhiên và đã quan tâm nghiên cứu các chất nhuộm

Cư, 2003). Ngoài ra, đã có một số công bố về thành phần hóa học của dịch
chiết từ cây Lá diễn và hạt Dành dành (Giang Thị Sơn và cộng sự, 2001).
Các công trình nói trên đã thu được những kết quả rất khả quan, chứng
minh một cách khoa học về khả năng thực tế có thể sản xuất chất nhuộm màu
thực phẩm từ nguyên liệu thực vật của nước ta. Tuy nhiên các công trình mới
chỉ nghiên cứu ở một số đối tượng cụ thể, thường gắn với các nghiên cứu làm
thuốc chữa bệnh, do vậy chưa thấy hết tiềm năng các chất nhuộm màu thực
phẩm trong cả hệ thực vật. Hơn nữa, do tính chất đề tài các công trình tập trung
nghiên cứu một số chất nhuộm màu đặc biệt (curcumin từ cây nghệ chủ yếu
cung cấp cho ngành Y- Dược) nên giá thành rất cao, chưa thể đưa vào phục vụ
đời sống hàng ngày của nhân dân.
Theo Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường, Chất lượng, hiện nay tất cả các chất
nhuộm màu cho thực phẩm ở Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài. 9
Do yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, bộ Y tế nước ta chỉ cho phép
nhập và sử dụng chất màu thực phẩm với số lượng hạn chế.
Bảng 2.1. Danh mục các chất màu thực phẩm được phép sử dụng ở Việt Nam
STT

Tên chất Màu và nhóm chất Nguồn gốc
1 Beta- apro- Carotenal Da cam, Họ caroten Tổng hợp
2 Beta-Carotene (Synthetic) Da cam, Họ caroten Tổng hợp
3 Canthaxanthine Đỏ, Họ caroten Tự nhiên
4 Caramel I – Plain Nâu, Xử lý nhiệt từ
đường
Tổng hợp
5 Caramel III - Ammonia process Nâu, Xử lý nhiệt từ
đường

21 Indigotin Xanh chàm, họindigo Tự nhiên
22 Titan dioxide Trắng, TiO2 Tổng hợp
23 Nâu HT Nâu, nhóm Bisazo Tổng hợp
24 Iron oxide, red Đỏ, FeO(OH).x H2O Tổng hợp 10
25 Iron oxide, black Đen, FeO.Fe2O3 Tổng hợp
26 Iron oxide, yellow Vàng, FeO(OH).xH2O Tổng hợp
27 Curcumin Vàng, nhóm cumarin Tự nhiên
28 Erythosin Đỏ, nhóm Xanthense Tổng hợp
29 Quinoline yellow Vàng, nhóm
Quinophtalone
Tổng hợp
30 Riboflavin (lactoflavin) Vàng, nhóm iso-
alloxazine
Tự nhiên
31 Sunset Yellow FCF Vàng, nhóm Monoazo Tổng hợp
32 Tartrazine Vàng, nhóm Monoazo Tổng hợp
33 Brilliant FCF Xanh, nhóm
Triarylmethane
Tổng hợp
34 Fast Green FCF Xanh, nhóm
Triarylmethane
Tổng hợp
35 Green S Xanh, nhóm
Triarylmethane
Tổng hợp
(Nguồn: Trích trong “Danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong
thực phẩm”. Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y tế, 2001)

o
C, thấp nhất là
13
c
C. Độ ẩm không khí trung bình 87%, lượng mưa trung bình hàng năm
1.991,5mm, phân bố không đồng đều, mưa nhiều vào các tháng 6,7,8.
- Thuỷ văn: Xã có Sông lô chảy qua địa phận dài 28,9 km có giá trị vận
chuyển đường thủy và có 23 con suối lớn nhỏ lưu lượng nước tương đối lớn để
có thể sử dụng vào trong sản xuất nông nghiệp và là tiềm năng về tài nguyên
nước phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
* Địa hình
Xã có dạng địa hình đặc trưng cơ bản của vùng núi thấp, độ dốc trung
bình từ 5-20
o
, tuy nhiên địa hình khá bằng phẳng, chủ yếu đồi núi dạng bát úp,
mái núi có dộ dốc không lớn lắm, có một vài núi cao so với mực nước biển
như: Pù Ngọm (409m), Khâu Moi (468,4m), núi đá Lung Chúng (268m), núi đá
giữa Hồ Quang Minh (207m).
* Tình hình dân số - lao động
Dân số xã năm 2011 có 2.087 hộ với 9.356 nhân khẩu. Tỷ lệ tăng dân số trung
bình hàng năm xấp xỉ 1%.
Số người tronng độ tuổi lao động: 5.849 người, trong đó: lao động nông
nghiệp là 4.916 (84%); lao động TTCN, CN là 244 (4,3); thương nghiệp, dịch vụ
là 502 (8,5%); số nhân lực đang trong độ tuổi lao động đi làm việc ngoài địa
phương là 187 (3,2%).
Nhìn chung nguồn lao động của xã tương đối dồi dào, lao động chủ yếu
trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, trình độ học vấn, nhận thức tương đối cao,
những năm gần đây nông dân đã được tham gia các lớp đào tạo nghề ngắn hạn,
người lao động tham gia học nghề, học sinh tốt nghiệp PTTH tham gia học


2.3.2. Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội xã Bằng Hành
* Vị trí địa lý
Bằng Hành là xã vùng 2, nằm ở phía Đông huyện Bắc Quang, cách
trung tâm huyện lị 20km. 13
+ Phía đông giáp xã Liên Hiệp
+ Phía tây giáp xã Kim Ngọc
+ Phía bắc giáp xã Thượng Bình
+ Phía Nam giáp xã Vô Điếm
* Kinh tế
- Trồng trọt
Bảng 2.2: Cơ cấu cây trồng xã Bằng Hành
STT Loại cây trồng Diện tích (ha)
1 Cây lúa 250
2 Cây ngô 12
3 Cây lạc 29
4 Cây lâu năm 17,12
5 Rau các loại 1
( Nguồn UBND xã Bằng Hành năm 2013)
Qua bảng 2.2 cho thấy, các sản phẩm cây trồng xã Bằng Hành khá đa
dạng. Tuy nhiên tỉ lệ giữa các loại cây trồng không đồng đều, tỷ lệ cây lúa trên
đơn vị diện tích chiếm cao nhất, thấp nhất đó là tỉ lệ cây rau các loại.
- Chăn nuôi
Bảng 2.3: Cơ cấu vật nuôi xã Bằng Hành
STT Vật nuôi Số lượng (con)
1 Trâu 1.268
2 Lợn 3.873
3 Dê 411

+ Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
+ Làm tốt công tác tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Làm tốt công tác tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình nên giảm
được mức tối thiểu sinh con thứ 3 trở lên.
- Hoạt động xã hội
+ Làm tốt công tác quản lý các đối tượng chính sách người có công.
+ Thực hiên chi trả đúng, đủ các chế độ trợ cấp thường xuyên và đột xuất
cho các đối tượng chính sách.
* Quốc phòng – an ninh
- Quốc phòng
+ Duy trì tốt chế độ giao ban, trực ban, tuần tra, kiểm soát trên địa bàn.
Phối hợp với lực lượng công an thực hiện tôt nhiệm vụ giữ vững an ninh chính
trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
+ Tổ chức rà soát các đối tượng trong độ tuổi tham gia nghĩa vụ quân sự
và tổ chức khám sơ tuyển 15
- An ninh
+ Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định, trật tự
an toàn giao thông được giữ vững
+ Lực lượng công an xã đa tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai
thực hiện nghiêm túc các kế hoạch, chương trình công tác, nội dung chỉ đạo của
công an cấp trên về đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.
* Đánh giá chung
- Ưu điểm
+ Kinh tế - xã hội của xã Bằng Hành tiếp tục có bước phát triển cao hơn
so với cùng kỳ năm trước, tổng sản lượng lương thực có hạt 3.677,5 tấn, tăng
7,8 tấn so với cùng kỳ năm trước.
+ Công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đạt hiệu quả

+ Tình hình an ninh trật tự vẫn còn xảy ra, nhất là tệ nạn cờ bạc, trộm cắp
còn chậm được đấu tranh đẩy lùi. Công tác phối hợp tuần tra bảo vệ của lực
lượng công an và dân quân tự vệ chưa chặt chẽ; một số vụ việc giải quyết chưa
được kịp thời, còn để kéo dài. 17
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm trên địa bàn 02 xã Quang
Minh và Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
* Phạm vi nghiên cứu
Thành phần loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm.
Tri thức bản địa về cách chăm sóc, thu hái và gây trồng các loài cây sử
dụng để nhuộm màu thực phẩm điều tra được.
Tri thức bản địa về cách sử dụng cũng như chế biến cây nhuộm màu thực
phẩm.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Xã Quang Minh và Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang.
- Thời gian tiến hành: Đề tài được thực hiện từ ngày 22 tháng 01 năm
2014 đến ngày 26 tháng 05 năm 2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây nhuộm màu thực
phẩm tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
+ Điều tra, thu thập các loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm.
+ Cách chế biến các loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm.

- Cơ cấu mẫu điều tra như sau: Việc điều tra khảo sát được tiến hành tại
02 xã, trong 02 xã chọn 03 thôn để tiến hành điều tra và mỗi thôn sẽ điều tra 10
phiếu.

Mỗi phiếu điều tra đảm bảo các thông tin: tên của cây, mục đích sử
dụng, bộ phận dùng, cách khai thác và sử dụng, cách thức dùng khi phối hợp
với các cây khác…
- Cơ cấu phiếu điều tra như sau: Các điểm nghiên cứu trên được chọn theo
nguyên tắc đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu với các tiêu chí: Có tỉ lệ
người dân sử dụng các loại cây nhuộm màu thực phẩm trong chế biến thực
phẩm truyền thống, đặc sản tại địa phương cao. Còn giữ được khá nguyên vẹn
bản sắc văn hoá, phong tục tập quán liên quan đến vấn đề sử dụng cây nhuộm
màu thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên trong việc chế biến thực phẩm.
- Xử lý số liệu: Tập hợp các thông tin được ghi chép trực tiếp, phiếu điều
tra, tài liệu sẵn có, xử lí số liệu bằng phần mềm excel. 19
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU4.1. Tri thức bản địa về sử dụng các loài cây nhuộm màu thực phẩm tại
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
4.1.1. Thành phần các loài cây sử dụng để nhuộm màu thực phẩm tại xã
Quang Minh và Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Qua quá trình điều tra và tổng hợp, chúng tôi đã xác định được thành phần
loài cây nhuộm màu thực phẩm được đồng bào các dân tộc thiểu số tại 02 xã
Quang Minh và Bằng Hành thường xuyên sử dụng. Kết quả điều tra thu được
tại bảng 4.1:

- Nhuộm màu vàng: có 01 loài
- Nhuộm màu tím: có 01 loài
- Phụ gia (nhuộm màu xanh): 1 loài
Như vậy số loài cây nhuộm màu thực phẩm điều tra được khá đa dạng.
Dưới đây là bảng tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm:
Bảng 4.2: Bảng tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm
STT Màu nhuộm Số lượng loài cây Tỉ lệ (%)
1 Màu đen 04 25
2 Màu đỏ 03 19
3 Màu xanh 07 44
4 Màu vàng 01 6
5 Màu tím 01 6
Tổng 16 100

Hình 4.1: Biểu đồ tỉ lệ các loài cây cho màu nhuộm thực phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status