Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của lợn bản nuôi tại huyện bắc quang, tỉnh hà giang - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
---------

---------

NGUYỄN VĂN TRUNG

ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN BẢN NUÔI
TẠI HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học

: PSG.TS. Nguyễn Bá Mùi

HÀ NỘI - 2012

1


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ

viên, giúp đỡ tôi trong trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới tất
cả những sự giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, Ngày

Tháng

Năm 2012

Tác giả

Nguyễn Văn Trung

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục

i
ii
iii

Danh mục bảng


Ý nghĩa của đề tài

2

1.3.1.

Ý nghĩa khoa học

2

1.3.2

Ý nghĩa thực tiễn

2

2.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1

Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương

3

2.2


Đặc điểm sinh trưởng phát dục

15

2.3.2

Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng

16

2.3.3

Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tăng trọng của lợn thịt

16

2.4

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước

19

2.4.1

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

19

2.4.2



3.2.2

Các chỉ tiêu nghiên cứu

24

3.3

Phương pháp nghiên cứu

26

4.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

28

4.1

Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện Bắc Quang

28

4.1.1

Điều kiện tự nhiên

28


4.2.4

Thị trường tiêu thụ lợn Bản

60

5.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

66

5.1

Kết luận

66

5.2

Đề nghị

66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

68

PHỤ LỤC


39

Bảng 4.6 Tỷ lệ các nông hộ sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lợn Bản

41

Bảng 4.7 Đặc điểm ngoại hình lợn Bản (n = 200 con)

43

Bảng 4.8 Các chỉ tiêu sản của lợn Bản Bắc Quang

44

Bảng 4.9 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn Bản ở lứa 1

51

Bảng 4.10 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn Bản ở lứa 2

51

Bảng 4.11 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn Bản ở lứa 3

52

Bảng 4.12 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn Bản ở lứa 4

52


Biểu đồ 4.1. Tỷ lệ từng loại lợn trong đàn

37

Biểu đồ 4.2. Tỷ lệ phương thức nuôi lợn Bản trong dân

39

Biểu đồ 4.3. Tỷ lệ kiểu chuồng nuôi lợn Bản trong dân

40

Biểu đồ 4.4 Số con sơ sinh/ổ qua các lứa

53

Biểu đồ 4.5 Số con sơ sinh còn sống/ổ

54

Biểu đồ 4.6 Số con cai sữa/ổ qua các lứa

54

Biểu đồ 4.7 Khối lượng cai sữa/con và Khối lượng cái sữa/ổ

55

Biểu 4.8 Khối lượng lợn Bản qua các tháng tuổi

vii


1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu về thịt lợn của người tiêu
dùng ngày một nâng cao không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng.
Trong những năm qua các giống lợn ngoại nhập như Yorshire, Landrace,
Duroc… và lợn lai (lợn nội x lợn ngoại hay lợn ngoại x lợn ngoại) đang được
nuôi phổ biến ở các vùng trong khi đó các giống lợn nội đang có xu hướng
giảm dần, một số giống còn có nguy cơ tuyệt chủng.
Các giống lợn ngoại nhập phải được nuôi bằng thức ăn công nghiệp và
quản lý theo phương pháp công nghiệp có như vậy mới đem lại hiệu quả kinh
tế cao, đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Với loại hình chăn nuôi này chỉ phù hợp và áp dụng cho các trang trại,
những gia đình có điều kiện, có tiềm lực kinh tế mạnh và gắn với thị trường
tiêu thụ sản phẩm.
Chính vì vậy, ở các vùng nông thôn nghèo, vùng núi cao, nơi không có
điều kiện đầu tư cho phát triển chăn nuôi, các giống lợn địa phương vẫn được
ưa chuộng. Ngoài ra, các giống địa phương còn là nguồn gen quí và đa dạng
để khai thác, lai tạo các giống thương phẩm trong tương lai và tạo ra hệ thống
nông nghiệp bền vững trong tương lai.
Lợn Bản ở Hà Giang nói chung và huyện Bắc Quang nói riêng được
gọi bằng nhiều tên địa phương khác nhau: lợn Bản, lợn Mán, lợn Đen… và có
một số ưu điểm như chất lượng thịt thơm ngon, thích nghi tốt với điều kiện
khí hậu vùng núi và được các dân tộc Tày, Dao và H’ Mông nuôi dưỡng lâu
đời, thường nuôi thả rông. Lợn có khả năng tăng trọng thấp, sinh sản thấp,
khối lượng cơ thể nhỏ, thời gian nuôi kéo dài. Tuy nhiên lợn Bản lại dễ nuôi,
ít bị bệnh tật, chất lượng thịt ngon được thi trường ưa chuộng. Vì vậy giống
lợn này được coi là đặc sản, bán với giá thành cao, trong những năm gần đây

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

2


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vấn đề bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương
Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải
dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc
chiến tranh xâm lược. Nhưng thật may là chúng ta lại có một kho tàng đa
dạng sinh học phong phú, tuy một số loại động, thực vật đã bị tuyệt chủng
hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như:
i: áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị
trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất thấp nhưng có chất lượng
thịt cao;
ii: tác động của kỹ thuật mới về truyền giống nhân tạo đã tạo ra nhiều
giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có năng suất thấp dần
biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi địa phương có
năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon,
chịu đựng kham khổ, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái
khắc nghiệt là một điều đáng tiếc.
Nhận thấy hiểm hoạ đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho
nên từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện
đề án “Bảo tồn nguồn gen vật nuôi” là một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn
gen động, thực vật khác; năm 1997 đã công bố “Quy chế bảo tồn gen vật
nuôi” và đến năm 2004 công bố “Pháp lệnh về giống vật nuôi”. Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn
nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất.
Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận
biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990. Trong 43 giống

dưới đồi (hypothalamus) sản sinh ra hormone giải phóng hormone sinh dục
GnRH (Gonadotropin Releasing Hormone). Hormone này sẽ kích thích thuỳ
trước tuyến yêu sản xuất ra các hormone như FSH, LH và Prolactin.
FSH (Folliculine Stimuline Hormone) kích thích sự phát triển của
trứng và tiết kích tố Ostrogen.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

4


Còn LH (Lutein Hormone) kích thích quá trình thải trứng và hình
thành thể vàng.
FSH và LH luôn có một tỷ lệ ổn định, FSH tiết ra trước và LH tiết ra
sau, khi bao noãn chín nó sẽ tiết ra hormone oestrogen khi đó hàm lượng
oestrogen trong máu tăng lên 64 mg% đến 112 mg%, gây kích thích toàn
thân và biểu hiện động dục. Sau khi trứng rụng tại đó mạch quản và sắc tố
vàng phát triển hình thành thể vàng và thể vàng tiết ra progesteron giúp cho
quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung và ức chế sự sinh ra FSH,
LH của tuyến yên do đó ức chế quá trình phát triển bao noãn, từ đó con cái
không động dục. Vì vậy progesteron được coi như là hormone bảo vệ sự
mang thai. Khi trứng rụng không được thụ tinh thì thể vàng ở ngày thứ 15
đến 17 sẽ bị tiêu biến, quá trình này là do hoạt động của prolactin sừng tử
cung và tiếp tục một chu kỳ mới.
Prolactin : thúc đẩy sự tiết sữa, kích thích sự hoạt động của thể vàng và
tiết progesterone và thúc đẩy bản năng làm mẹ.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

5


Protasgladine

Sơ đồ 2.1 Tóm tắt cơ chế điều hoà chu kỳ tính của lợn cái
* Các giai đoạn của chu kỳ động dục: Được chia làm 4 giai đoạn
- Giai đoạn trước động dục (Pro-oestrus):
Là thời kỳ đầu của chu kỳ sinh dục, buồng trứng phát triển to hơn
bình thường, cơ quan sinh dục xung huyết, niêm dịch cổ tử cung tiết ra, cổ tử
cung hé mở, các tuyến sinh dục tăng cường hoạt động, giai đoạn này con vật
chưa có tính hưng phấn cao, bao noãn phát triển và chín, trứng được tách ra,
sừng tử cung sung huyết, niêm dịch đường sinh dục chảy ra nhiều, còn vật bắt
đầu xuất hiện tính dục, thời kỳ này kéo dài 1 - 2 ngày.
- Giai đoạn động dục (Oestrus):

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

6


Xảy ra 3 thời kỳ kế tiếp nhau: Hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực.
Giai đoạn này thường kéo dài 2 - 3 ngày và hàm lượng Estrogen tiết ra cao
nhất. Bên ngoài có biểu hiện âm hộ sưng to, niêm mạc xung huyết, niêm dịch
trong suốt chảy từ âm hộ ra nhiều, con vật phá chuồng nhảy lên lưng con khác
hoặc để con khác nhảy lên, xuất hiện tư thế chờ phối. Sau khi trứng rụng được
thụ tinh lợn cái chuyển sang thời kỳ mang thai, nếu không được thụ tinh thì
chuyển sang giai đoạn sau động dục.
- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus):
Sau khi kết thúc động dục, các hormone FSH, LH trở lại trạng thái
bình thường, estrogen trong máu không tăng, buồng trứng xuất hiện thể vàng,
thể vàng tiết ra progesteron ức chế động dục, con vật dần dần trở lại ổn định.
Giai đoạn này thường kéo dài 2 - 3 ngày.

0,5 kg đối với lợn lai và lợn ngoại.
- Tỷ lệ sơ sinh còn sống: Tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% do nhiều
nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non...
- Số con cai sữa/lứa: Đây là chỉ tiêu quan trọng thể hiện trình độ chăn
nuôi lợn nái sinh sản. Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu
quả kinh tế của quá trình chăn nuôi.
- Khối lượng cai sữa của lợn con chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt
chẽ với khối lượng sơ sinh. Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối
lượng cai sữa càng lớn. Trong chăn nuôi lợn nái chửa, việc chăm sóc nuôi
dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh lớn là cần thiết, làm tiền đề cho khối
lượng cai sữa cao.
- Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật
chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh.
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.3.1 Yếu tố di truyền
Các giống khác nhau thì năng suất sinh sản là khác nhau do nó liên
quan đến: số trứng rụng trong một lần động dục, số trứng được thụ tinh, số
hợp tử tạo thành, số con đẻ ra còn sống, số con đẻ ra chết, tỷ lệ nuôi sống,
khối lượng sơ sinh, khối lượng khi cai sữa, kết quả được thể hiện thông qua
nghiên cứu của Pfeiffer (1988) dưới đây:

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

8


Bảng 2.1 Khả năng sinh sản của lợn phụ thuộc vào giống
Chỉ tiêu

Giống


DE

10,8

10,3

10,5

LR

10,1

10,4

10,4

DE

10,3

9,9

10,1

Tỷ lệ thụ thai (%)

Số con đẻ ra trong một lứa (con)

Số con đẻ ra còn sống

của chúng.
* Năng lượng
Năng lượng là sự biến đổi của thức ăn trải qua một quá trình tiêu hoá ở
bên trong cơ thể con vật. Nó cần thiết cho mọi cơ thể sống, cho mọi hoạt động
trong cơ thể. Nếu nguồn năng lượng cung cấp có sự thiếu hụt, nó sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến cơ thể con vật đặc biệt là gia súc có chửa và nuôi con như: suy dinh
dưỡng, còi cọc, sức đề kháng kém, teo hoặc chết thai… Tuy nhiên, nếu cung cấp
quá thừa năng lượng trong thời gian gia súc có chửa thì dẫn tới hiện tượng chết
phôi, đẻ khó, lợn mẹ sau đẻ sẽ kém ăn, tỷ lệ hao hụt tăng. Năng lượng thừa sẽ
được dự trữ dưới dạng mỡ, lợn con sẽ bị mắc bệnh đường ruột do hàm lượng mỡ
trong sữa mẹ cao.
Vì vậy, cần phải phối hợp cân đối về năng lượng nhằm cung cấp một nguồn
năng lượng vừa đủ cho gia súc mang thai, nuôi con, cùng các hoạt động khác.
* Protein
Protein là một chất hữu cơ quan trọng trong việc hình thành tế bào, phát
triển của cơ thể và tạo sữa. Do vậy cần phải cung cấp đầy đủ protein cho gia súc,
nếu thiếu lợn nái sẽ chậm động dục, giảm số lượng con đẻ ra/nái/năm, giảm khối
lượng sơ sinh, giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ.
* Nhu cầu khoáng
Khoáng rất cần thiết với lợn nái, bởi vì lợn nái phải nuôi thai, nuôi
phôi, nuôi con, đặc biệt trong giai đoạn mang thai con mẹ rất cần cung cấp
khoáng chất (Ca, P, Fe, Zn…) để tạo xương phôi thai, tạo máu, cân bằng nội
môi… Nguồn khoáng duy nhất mà phôi thai nhận được là từ cơ thể mẹ. Vì
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

10


vậy, việc cung cấp khoáng cho lợn mẹ là cần thiết. Người ta chia ra làm hai
loại khoáng: khoáng đa lượng và khoáng vi lượng. Khoáng đa lượng bao


Ngoài ra sự thành thục về tính dục còn bị chậm lại do nhiệt độ mùa hè cao,
hoặc do độ dài ngày bị giảm. Nhiệt độ môi trường cao hay thấp sẽ gây trở
ngại cho biểu hiện chịu đực, làm giảm mức ăn, tỷ lệ rụng trứng giảm ở những
lợn cái hậu bị trong chu kỳ. Ngược lại nhiệt độ môi trường quá thấp cũng ảnh
hưởng tới quá trình sinh lý sinh dục. Do vậy cần bảo vệ lợn cái hậu bị tránh
nhiệt độ cao của môi trường bằng cách có mái che nắng, làm mát để đề phòng
stress.
Theo Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1995), tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc
vào mùa vụ phối giống, nếu cho lợn phối giống vào các tháng 6-8 thì tỷ lệ thụ
tinh giảm 10% so với phối giống ở tháng 11-12.
Đối với lợn nái, nhiệt độ thích hợp từ 18 - 210C. Do đó về mùa hè sức
sản xuất của lợn nái thấp hơn so với các mùa khác, vì nếu nhiệt độ chuồng
nuôi trên 300C sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ chết phôi và chết thai tăng cao,
thai kém phát triển do lợn mẹ ăn ít. Mặt khác, nhiệt độ cao sẽ làm kéo dài thời
gian đẻ, gây sát nhau, tỷ lệ con bị chết cao, lợn nái không động dục hoặc động
dục chậm. Còn nếu nhiệt độ quá thấp sẽ làm ảnh hưởng đến giai đoạn nuôi
con, lợn con dễ bị cảm lạnh và dẫn tới tỷ lệ chết cao.
* Tuổi phối giống lần đầu
Nếu phối giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan
sinh sản chưa thật hoàn thiện. Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng
tới sự phát triển của lợn mẹ, nếu phối muộn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế.
Thông thường người ta bỏ qua lần động dục đầu tiên và phối vào lần động
dục thứ 2 hoặc thứ 3, vì lần động dục đầu tiên số lượng trứng rụng thường ít
và chưa ổn định.
Tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng con mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh
hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/con.
(Tạ Bích Duyên, 2003).

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

ra/ổ sẽ giảm nhanh chóng. Do vậy việc chọn thời điểm phối giống thích
hợp là rất quan trọng.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

13


* Khối lượng lợn nái
Theo Phùng Thị Vân và Cs (1999), những lợn nái hậu bị có khối lượng
cơ thể đạt 130 kg ở 9 tháng tuổi sẽ cho số con sơ sinh /ổ cao nhất và ngược lại
những lợn nái có khối lượng cơ thể thấp hơn 130 kg ở 9 tháng tuổi đều có số
con sơ sinh thấp hơn.
* Thời gian cai sữa
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc cai sữa sớm cho lợn con đến ảnh
hưởng của một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái. Trần Quốc Việt và Cs (1995),
đã chỉ ra rằng: cai sữa cho lợn con ở 30- 35 ngày tuổi sẽ làm tăng số lứa
đẻ/nái/năm và số con cai sữa/nái/năm so với nhóm cai sữa ở 45 ngày tuổi (từ
2,45 lứa so với 2,2 lứa và 23,7- 24,5 con so với 22 con) và rút ngắn được
khoảng cách lứa đẻ (149,3 ngày - 153,8 ngày so với 164,1 ngày). Tuy nhiên
cai sữa sớm không ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa (4,85
ngày - 5,30 ngày so với 5,1 ngày).
Lê Thanh Hải (1981), khi cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5
lứa/nái/năm với chi phí rất rẻ. Như vậy để rút ngắn thời gian cai sữa cho lợn
con là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày cai sữa lợn con
có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, và không cần sữa mẹ.
Theo Phùng Thị Vân (2000), thời gian cai sữa cho lợn con có ảnh
hưởng rất lớn đến năng suất chăn nuôi, như ảnh hưởng đến hao hụt của lợn
mẹ. Do vậy việc cai sữa cho lợn con trong khoảng thời gian từ 3 - 4 tuần tuổi
ngày nay đã trở thành phổ biến ở các cơ sở chăn nuôi.
* Bệnh lý

phát triển có khác nhau. Sau cai sữa lợn tăng trung bình 400 g/ngày tiếp theo
đạt 500 g/ngày cho đến lúc đạt 30 kg; 600 g/ngày cho đến 40 kg; 700 g/ngày
cho đến 70 kg. Từ đó đến 100 kg tốc độ tích luỹ cơ có giảm và bắt đầu tích
luỹ mỡ. Khối lượng lúc mới sinh là 1 kg. Như vậy, sau 7 - 8 tháng tuổi lợn đã
đạt được khối lượng 100 kg tức là tăng trưởng gấp khoảng 100 lần.
Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (1994), sự thành thục về tính ở lợn
lai muộn hơn lợn nội.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

15


2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn thịt người ta thường sử dụng
một số chỉ tiêu như sau:
- Khối lượng bắt đầu nuôi thịt (kg): là chỉ tiêu quan trọng có ảnh hưởng lớn
đến khả năng tăng trọng cũng như tiêu tốn thức ăn trong quá trình nuôi thịt.
- Thời gian nuôi thịt (ngày): Cho biết năng suất nuôi thịt, thời gian quay
vòng một lứa.
- Khối lượng giết thịt (kg/con): Là khối lượng khi xuất bán để giết thịt,
chỉ tiêu này cho thấy được trình độ chăn nuôi của cơ sở và hiệu quả kinh tế
của chăn nuôi lợn.
- Tăng trọng trung bình trong giai đoạn nuôi thịt (g/ngày): Chỉ tiêu này
phản ánh rõ nhất về trình độ chăn nuôi, chế độ chăm sóc, quản lý, giống lợn...
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng: Là chỉ tiêu kinh tế quan trọng cho thấy
hiệu quả kinh tế giữa đầu tư và lợi nhuận trong chăn nuôi.
Theo Clutter và Brascamp (1998), các chỉ tiêu quan trọng của khả năng
nuôi vỗ béo bao gồm: Tăng trọng ngày đêm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
lượng, thu nhận thức ăn/ngày và khối lượng đạt được lúc giết thịt.

giàu năng lượng (chất bột đường). Nhưng khối lượng cơ thể lợn ở giai đoạn
sau cao hơn giai đoạn trước, cho nên nhu cầu năng lượng và protein/con/ngày
vẫn tăng. Tuy vậy, tỷ lệ giữa protein, năng lượng và chất khoáng như: canxi,
photpho.., hàm lượng các vitamin, các nguyên tố vi lượng cũng góp phần
quan trọng trong quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng tạo thành thịt và
tăng phẩm chất thịt.
2.3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng khác
* Nhiệt độ
Trong thời gian nuôi lợn thịt, đòi hỏi phải có một nhiệt độ nhất định.
Nếu nóng quá, thì ảnh hưởng tới khả năng thu nhận thức ăn, giảm tính thèm
ăn. Nếu lạnh quá, thu nhận thức ăn tốt, nhưng năng lượng dùng cho quá trình
chống lạnh cao, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng tăng. Nhiệt độ, độ ẩm, cường
độ chiếu sáng đều có tác động nhất định tới khả năng sinh trưởng, tích lũy của
lợn thịt.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………..

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status