nghiên cứu trồng và sử dụng bột cỏ stylo trong chăn nuôi gà thịt - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
TH¸I NGUY£N - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
MỞ ĐẦU
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



PHẠM THỊ GỘI
NGHIÊN CỨU TRỒNG VÀ SỬ DỤNG BỘT CỎ
STYLO TRONG CHĂN NUÔI GÀ THỊT

CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
Mã số: 60 62 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. TS. Trƣơng Hữu Dũng
2. PGS.TS. Phan Đình Thắm


dụng làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lƣợng cao do giàu protein (24%).
Ngoài ra, nó còn đƣợc trồng xen với cây ăn quả, chè, cà phê để cải tạo đất,
che phủ đất và chống xói mòn. Đối với trâu bò, lợn thì ngƣời ta đã chế biến
thành bột và sử dụng nó cho những đối tƣợng này. Tuy nhiên, số liệu về việc
nghiên cứu sản xuất và bổ sung bột cỏ stylo cho vật nuôi hiện nay còn rất ít,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
và đặc biệt cho gia cầm. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu trồng và sử dụng bột cỏ Stylo trong chăn nuôi gà thịt”.
2. Mục tiêu đề tài
- Xây dựng đƣợc quy trình trồng cỏ stylo đạt năng suất cao.
- Xác định đƣợc tỷ lệ bổ sung bột cỏ stylo thích hợp vào khẩu phần ăn
của gà thịt.
3. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài sau khi hoàn thành sẽ có thông tin đầy đủ về ảnh hƣởng của các mức
phân bón đến năng suất chất xanh, chất lƣợng của cỏ Stylosantheis CIAT 184. Vai
trò, tác dụng của bột cỏ này đối với năng suất và chất lƣợng thịt gia cầm.
Đồng thời, có thêm công thức thức ăn hỗn hợp với mức bổ sung bột cỏ
Stylo hợp lý trong chăn nuôi gà thịt.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng vào thực tế chăn nuôi tại cơ sở, góp
phần đƣa giống cỏ này vào sản xuất đại trà, tăng nhanh số lƣợng. Cung cấp
thông tin cho ngƣời chăn nuôi sử dung bột cỏ vào khẩu phần ăn cho gà thịt,
nhằm nâng cao chất lƣợng thịt gà đáp ứng thị hiếu ngƣời tiêu dùng và hạ giá
thành sản phẩm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
ngang, hoa hình bông cuốn không sát nhau, thƣờng có 70 - 1200 chùm, trên
mỗi chùm có 5 - 9 hoa. Qủa đậu không có cuống, gồm 7 - 8 hạt có vỏ cứng,
màu xám đen trọng lƣợng 1000 hạt khoảng 5 - 6 gam. Cây non mới mọc từ
hạt phát triển chậm, dễ rụng lá và bị sâu hại trong 3 - 4 tháng đầu sau khi
gieo. Nếu gieo vào cuối mùa khô thì sau khi gieo cây non phát triển nhanh, 5 -
6 tháng cây cao 1m hay hơn.
Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới. Là cây
có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lƣợng mƣa từ
1500 - 2500mm. Cỏ có thể sống đƣợc ở những vùng có lƣợng mƣa trung bình
khoảng 890 mm. Tuy nhiên, với lƣợng mƣa 650mm cây vẫn có thể sống đƣợc
nhƣng sinh trƣởng rất kém. Độ ẩm không khí thích hợp là 70 - 80%. Cỏ Stylo
cũng có thể chịu đƣợc ngập tạm thời, ở những nơi quá ẩm năng suất cỏ
cũng bị giảm. Cỏ Stylo phát triển tốt khi nhiệt độ không khí trong khoảng
20 - 35
0
C. Nhiệt độ thích hợp cho cỏ Stylo sinh trƣởng phát triển là 15,5
0
C.
Khi nhiệt độ dƣới 5
0
C và trên 40
0
C cây phát triển kém. Khi thiếu ánh sáng cỏ
Stylo bị giảm năng suất. Cỏ Stylo có thể mọc đƣợc trên nhiều loại đất khác
nhau: chua nghèo dinh dƣỡng và có thể trồng xen với các cây ăn quả, chè, cà
phê. Cũng nhƣ các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tƣơi xanh
giầu đạm để bổ sung và nâng cao chất lƣợng khẩu phần thức ăn cho gia súc

trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô, làm thay đổi thành phần hoá
học của thực vật. Những điều kiện ngoại cảnh và các yếu tố khác ảnh hƣởng
đến năng suất chất lƣợng của cỏ đó là:
* Điều kiện khí hậu
Khí hậu bao gồm lƣợng mƣa và sự phân bố lƣơng mƣa, ẩm độ không
khí, cƣờng độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng trong năm. Những yếu tố
này có ảnh hƣởng lớn đến sản lƣợng và chất lƣợng cây trồng.
Ánh sáng cung cấp năng lƣợng để thực vật quang hợp. Cƣờng độ ánh
sáng và thời gian chiếu sáng có ảnh hƣởng quyết định tới năng lƣợng nhận
đƣợc của cây trồng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Nhiệt độ cần cho sự sinh trƣởng và phát triển của cỏ. Nhiệt độ quá cao
làm cho thực vật bốc hơi mạnh, làm cho cỏ khô héo. Nhiệt độ quá thấp làm
cho các mạch dẫn các chất dinh dƣỡng co lại. Các hệ thống men hoạt động
kém, cây không phát triển đƣợc.
Ẩm độ đất và không khí liên quan chặt chẽ đến lƣợng mƣa, ẩm độ đất
ảnh hƣởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ cỏ và khả năng hút các chất dinh
dƣỡng. Ngoài ra nó còn quyết định đến sự phát triển của vi sinh vật đất và độ
tơi xốp của đất.
* Điều kiện đất đai
Trong điều kiện nhiệt đới, môi trƣờng đất là yếu tố quyết định năng suất
và chất lƣợng cỏ. Đất là nguồn cung cấp chất dinh dƣỡng cho cây trồng, do đó
tính chất vật lý cấu tƣợng đất sẽ ảnh hƣởng đến độ ẩm đất, sự hấp thu các chất
dinh dƣỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hƣởng tới
năng suất cây trồng.
Đất giầu mùn, tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp, rễ cỏ sẽ phát triển nhanh, mạnh, hệ
vi sinh vật hoạt động tốt sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt.

cây trồng tăng, đất không bị suy kiệt dinh dƣỡng và nền sản suất bền vững thì
sử dụng phân chuồng là điều hết sức cần thiết.
+ Phân đạm: Chỉ tiêu đạm tổng số thể hiện tổng số đạm có trong đất.
Trong điều kiện bình thƣờng 98% đạm tổng số nằm ở dạng hữu cơ. Đạm hữu
cơ trong đất chủ yếu là do vi sinh vật phân giải các protit thực vật, còn đạm
vô cơ đƣợc phân giải từ đạm hữu cơ. Cho nên khi đánh giá hàm lƣợng đạm
trong đất ngƣời ta đánh giá chủ yếu thông qua hàm lƣợng đạm tổng số và đạm
dễ tiêu trong đất. Đạm dễ tiêu là đạm ở dạng vô cơ gồm Amôniac, Nitrat,
Nitric (NH
3
, NO
-
3
, NO
2
- -
) và đƣợc gọi là đạm dễ tiêu vì cây hút đạm trong
đất chủ yếu ở dạng này.
Sản phẩm chính của cỏ là thân và lá do vậy mà đạm là yếu tố không thể
thiếu khi sản suất. Tuy nhiên khi bón đạm cho cỏ cần bón vừa phải, cân đối
thì sẽ làm tăng năng suất, tăng hàm lƣợng đạm tổng số trong cây, giảm hàm
lƣợng xơ, gia súc dễ ăn và tăng tính ngon miệng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Nếu bón nhiều đạm sẽ có hiện tƣợng cây tích luỹ nhiều Alcaloit,
Glucozit làm cho cỏ có vị đắng giảm tính ngon miệng của gia súc. Biến không
khí thành phân đạm - thiên nhiên đã làm đƣợc nhƣ thế từ cây họ đậu. Ngoài
cây họ đậu, tảo lam cũng có khả năng cố định đạm.

động của trao đổi chất trong cây, tăng cƣờng sự hình thành acid hữu cơ, làm
cho cây tăng cƣờng tổng hợp protit. Ngoài ra kaly còn tăng khả năng chống
rét cho cây và tăng sức đẻ nhánh cho cây.
* Thời gian thu cắt
Theo Vũ Duy Giảng và Cs (1997)[7], thức ăn xanh cần thu hoạch đúng
thời vụ để đảm bảo giá trị dinh dƣỡng cao. Nếu thu hoạch sớm ít xơ, nhiều
nƣớc, hàm lƣợng vật chất khô thấp. Ngƣợc lại nếu thu hoạch quá muộn hàm
lƣợng nƣớc giảm, vật chất khô tăng nhƣng chủ yếu tăng chất xơ, còn lipit và
protein giảm.
Thời gian thu cắt có ảnh hƣởng lớn đến sản lƣợng và chất lƣợng của cỏ.
Nếu cắt quá ít lần/năm thì cỏ sẽ bị già dẫn đến chất lƣợng kém và ảnh hƣởng
tới lứa tái sinh sau, ảnh hƣởng tới sản lƣợng cỏ/năm. Nếu cắt quá nhiều
lứa/năm, cỏ chƣa đủ thời gian tích luỹ các chất dinh dƣỡng nuôi cây, bộ rễ
phát triển kém hoặc bị teo đi ít nhiều, đất trồng rễ bị xói mòn, rửa trôi dinh
dƣỡng đồng cỏ chóng bị thoái hoá, năng suất, chất lƣợng giảm.
Xác định thời điểm thu cắt hợp lý sẽ khắc phục đƣợc cả hai vấn đề trên.
Cỏ mềm tỷ lệ tiêu hoá của gia súc cao, hàm lƣợng Protein thô trong vật chất
khô của cỏ sẽ cao hơn và cỏ có khả năng tái sinh tốt. Thời gian thu cắt phụ
thuộc vào các giống cỏ và mùa vụ.
Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002) [39], thời gian thu cắt của Cỏ
Stylosanhtes gracilis HBK, sau khi trồng 4 - 5 tháng, cây cao 50 - 60 cm cắt
lứa đầu, lứa đầu không để già. Cắt lần khác sau 60 - 70 ngày ( vụ hè thu) và
90 - 100 ngày (vụ đông xuân). Đối với cỏ Stylo thì thu hoạch lứa đầu khi cỏ
trồng đƣợc 3 - 4 tháng, khi thảm cỏ đã phủ kín đất và cao thảm 50 - 70 cm.
Các lứa tái sinh cần đƣợc thu cắt khi thảm cỏ đƣợc 60 - 80 ngày tuổi và có độ
cao 45 - 55cm (nếu thu cắt chất xanh) và độ cao 35 - 45 cm cho chăn thả gia
súc. Chỉ nên chăn thả gia súc khi thảm cỏ đã thu cắt chất xanh đƣợc 2 lứa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô và năng
suất protein cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, trong đó chỉ tiêu protein đƣợc
chú trọng nhiều hơn cả. Ngoài ra, thức ăn thực vật là nguồn cung cấp hàm
lƣợng caroten là chủ yếu cho gia súc gia cầm. Các giống cây họ đậu bao giờ
cũng cho giá trị dinh dƣỡng cao hơn cây thức ăn hoà thảo. Điều này đƣợc thể
hiện qua nghiên cứu của nhiều tác giả [23].
1.3. Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi
1.3.1. Nguồn thực vật có thể sản xuất bột lá
Trong tự nhiên, nguồn thực vật để sản xuất bột cho gia súc gia cầm rất
nhiều nhƣ: lá sắn, lá keo dậu, cỏ Stylo, bèo hoa dâu, lá và hạt cây so đũa, lá
mắm, rau cỏ…Thức ăn gia cầm, ngoài lƣợng ngô vàng có sẵn trong công thức,
thƣờng cần có thêm nguồn cung cấp sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo
thị hiếu ngƣời tiêu dùng. Tại các nƣớc ôn đới sử dụng nguồn bột cỏ chế biến từ
cỏ alfalfa (Medicago sativa). Đây là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea), có hàm
lƣợng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg bột cỏ, hàm lƣợng protein
thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin. Ở các
nƣớc nhiệt đới, bột cỏ thƣờng đƣợc chế biến từ các nguồn lá xanh khác nhƣ
bột lá bình linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis)[82].
Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa,
tƣơng đƣơng 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo.
Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% Protein
trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột
đƣờng, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm[83].
Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm
lƣợng chất dinh dƣỡng tƣơng đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo
5,5%, xơ thô 21%[84].


phƣơng là vấn đề rất cần thiết.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
Ngày nay, ngay ở các nƣớc phát triển, bột cỏ vẫn là thành phần không
thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm. Vì bột cỏ cung cấp nhiều
vitamin tự nhiên, đặc biệt là tiền vitamin A (caroten) và sắc tố vàng
Xanthophyll. Vitamin E, C và caroten là những chất chống oxi hoá, ngăn cản
tích trữ cholesterol trong máu. Ngoài ra, lá xanh còn chứa nhiều chất quinol
và phenol, là những chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho ngƣời và
động vật. Chính vì vậy, sử dụng bột cỏ làm thức ăn chăn nuôi đƣợc các nƣớc
trên thế giới rất quan tâm [38].
Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [50], cỏ khô nghiền nhỏ thành bột dùng
nuôi lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có
nhiều chất đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và Canxi. Bột thân lá
đậu, lạc, điền thanh, keo dậu, bèo hoa dâu, là những loại tốt, vì có chứa
nhiều đạm nên khi hỗn hợp các loại thức ăn tinh khác để nuôi lợn, thì giảm
đƣợc thức ăn tinh.
Thức ăn gia cầm, ngoài lƣợng bắp vàng có sẵn trong công thức, thƣờng
cần có thêm nguồn cung sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu
ngƣời tiêu dùng. Các loại bột lá, bột cỏ thƣờng đƣợc dùng trong thức ăn gà
với mức 3 - 4% để vừa cung cấp caroten, vừa cung cấp sắc tố để da, mỏ và
lòng đỏ trứng có màu vàng đẹp mắt.
Bột thực vật có giá trị rất tốt đối với vật nuôi, nó có giá trị dinh dƣỡng
cao không những chứa tỷ lệ protein cao (đặc biệt là cây họ đậu) mà còn chứa
nhiều Vitamin nhóm B, vitamin E và tiền vitamin D, A (carotenoic). Phối hợp
khẩu phần ăn của vật nuôi với bột lá bột cỏ làm tăng chất lƣợng sản phẩm,
tăng tính chất thịt, sữa, trứng…làm tăng màu sắc của sản phẩm [82].
Thực tế cho thấy: gà ăn bèo hoa dâu tăng tỷ lệ đẻ, ấp nở, giảm chi phí

đối chứng tƣơng đối giống nhau. Nhƣng giá thành có bổ sung bột lá thấp hơn.
Đối với 120 vịt xiêm nuôi từ 30 - 90 ngày tuổi có dùng lá Trichathera trong
khẩu phần, kết quả cho thấy, dùng lá Trichathera làm da có màu vàng tốt hơn
so với vịt ở nghiệm thức đối chứng [87].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Theo Nguyễn Khánh Quắc và Cs (2002)[39], cho biết rằng: Sử dụng bột
cỏ khô hỗn hợp trong thức ăn cho gia cầm, lợn, trâu, bò rất tốt, vừa phòng trừ
giun sán lại vừa đỡ công chăn nuôi.
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Văn Trung và Cs (2007) [52]cho
biết: Bổ sung bột lá sắn vào khẩu phần ăn của trâu tơ 13 - 18 tháng tuổi đã
làm tăng lƣợng thức ăn thu nhận và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dƣỡng trong
khẩu phần. Bột lá sắn có thể dùng làm thức ăn bổ sung cho trâu tơ để nâng
cao tỷ lệ tiêu hoá, khả năng tăng trƣởng và hiệu quả sử dụng thức ăn.
1.3.3. Các hạn chế của bột lá bột cỏ đối với vật nuôi
Nhìn chung gia súc thích ăn các loại thức ăn xanh hơn hoặc ủ chua hơn
là ăn các loại thức ăn này chế biến thành bột.
Trong bột cỏ và bột lá thực vật, hàm lƣợng chất xơ là cao do đó việc sử
dụng nó trong thức ăn chăn nuôi gia cầm chỉ chiếm một chỉ lệ rất nhỏ trong
khẩu phẩn, trong chăn nuôi gà, tỷ lệ dùng trong chất xơ rất ít, chỉ từ 5 - 6%
trong khẩu phần mà thôi [89].
Trong một số loại lá thực vật có chứa một số chất nhƣ: lá sắn có độc tố
HCN, Cỏ Mêdicago, cây họ đậu, điền thanh có chứa chất độc saponin nên khi
sử dụng chúng cho vật nuôi phải hết sức chú ý đến tỷ lệ trong khẩu phần.
Theo Vũ Duy Giảng và Cs (1997) [7] cho biết: Tỷ lệ bổ sung bột lá
thực vật cho gà thịt là 2% tính theo đơn vị khẩu phần, gia cầm khác là 4 - 6%
tính theo đơn vị khẩu phần. Trong lá keo dậu có chứa độc tố mimosin, do đó
không nên dùng quá 15% trong khẩu phần của lợn và không quá 5% trong

ăn cao hơn gà đối chứng đƣợc nuôi dƣỡng với khẩu phần cơ sở không có bột
lá keo giậu.
Hanif và Cs (1985) đã sử dụng 5% bột lá keo giậu Ipil - ipil để thay thế
một phần bột cá trong khẩu phần ăn của gà thịt giống Rhod (Ai - Len), từ sau
3 tuần tuổi. Các khẩu phần nuôi dƣỡng đảm bảo đồng đều về protein và năng
lƣợng trao đổi. Kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 5% bột lá Ipil - ipil đã
không ảnh hƣởng xấu tới sinh trƣởng, tiêu thụ thức ăn và tuổi thành thục về
tính của gà so với khẩu phần đối chứng không có bột ká keo giậu [10].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Chen và Lai (1981) sử dụng bột lá keo giậu trên gà thịt và cho biết, hiệu
suất sử dụng thức ăn và tăng khối lƣợng của gà thịt giảm dần với mức tăng
lên của bột lá keo giậu trong khẩu phần và tỷ lệ tối đa thích hợp của bột lá keo
giậu là ở mức 3% khối lƣợng khô của khẩu phần.
D'Mello và Cs (1987) đã nhận thấy, bột lá keo giậu đã có tác dụng cải
thiện màu sắc thân thịt của gà và sử dụng 5% bột lá keo giậu thay thế một
phần khẩu phần ăn cơ sở đã không gây ra ảnh hƣởng xấu nào về sinh trƣởng
của gà.
Theo Từ Quang Hiển và Cs (2008)[10] nghiên cứu sử dụng bột lá keo
giậu để nuôi gà broiler dòng HV35 cho biết: sử dụng bột lá keo giậu thay thế
3 - 5% khẩu phần cơ sở tƣơng ứng với 2 giai đoạn nuôi (0 - 28 và 29 - 56
ngày tuổi) đối với gà broiler HV35 đã có tác dụng cải thiện sinh trƣởng của gà
thêm 8,72%, giảm tiêu tốn thức ăn cho sinh trƣởng là 5,86%) và giảm chi phí
thức ăn/kg tăng khối lƣợng đến 7,10%.
Thí nghiệm nghiên cứu sử dụng bột lá keo giậu ở các tỷ lệ khác nhau
trong khẩu phần ăn của gà broiler dòng Ross 208, cho thấy, tiêu thụ thức ăn
của gà có xu hƣớng giảm liên tục với sự tăng lên của bột lá keo giậu trong
khẩu phần. Khi bột lá keo giậu trong khẩu phần tăng từ 0 - 12%, tiêu thụ thức

tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130
gà con 1 ngày tuổi. Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1500g - 1600g. Tiêu tốn
thức ăn 2,4 - 2, 6 kg thức ăn/kg tăng trọng. Gà Lƣơng Phƣợng dễ nuôi, có tính
thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dƣỡng
không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa
nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả ở vƣờn, ngoài đồng, trên đồi.
Bộ nông nghiệp và PTNT đã công nhận 3 dòng gà LV1, LV2, LV3 đạt
cấp giống ông bà theo quyết định số 953 QĐ/BN - KHCN ngày 16/4/2004. Gà
Lƣơng Phƣợng hiện nay đang là giống gà đƣợc ƣa chuộng và phát triển nuôi
rộng rãi trong khắp mọi vùng của đất nƣớc ta trong đó có tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
1.4.2. Khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn
1.4.2.1. Khả năng sinh trưởng của gà
Sinh trƣởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là
sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lƣợng của các bộ phận và toàn bộ
cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trƣớc. Sự sinh trƣởng
chính là sự tích luỹ dần các chất mà chủ yếu là Protein.
Sinh trƣởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy
luật nhất định. Theo Trần Đình Miên và Cs (1992)[30] cho biết: Midedorpho
A.F (1967) là ngƣời đầu tỉên phát hiện ra quy luật sinh trƣởng theo giai đoạn
của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau
đó tăng khối lƣợng giảm dần theo từng tháng tuổi.
Champer (1990)[66], đã định nghĩa sinh trƣởng là sự tổng hợp các bộ
phận nhƣ thịt, xƣơng, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc
độ sinh trƣởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dƣỡng. Sự tăng trƣởng thực
sự khi các tế bào mô cơ có sự tăng thêm về khối lƣợng, số lƣợng và kích
thƣớc các chiều đo. Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trƣởng, nó đƣợc gọi là

Khối lƣợng cơ thể thƣờng đƣợc theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị
tính là g/con hoặc kg/con.Để xác định khối lƣợng cơ thể ở các khoảng thời
gian khác nhau ngƣời ta còn biểu thị khối lƣợng thông qua đồ thị sinh trƣởng.
Sinh trƣởng của vật nuôi nói chung và sinh trƣởng của gà nói riêng chụi
ảnh hƣởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, thức ăn và các
điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng khác.
1.4.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của gà nhƣ giống, giới tính,
tốc độ mọc lông, khối lƣợng bộ xƣơng, dinh dƣỡng, điều kiện chăn nuôi,
* Ảnh hưởng của dòng giống
Các dòng trong cùng một giống, các giống khác nhau có khả năng sinh
trƣởng khác nhau. Các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trƣởng nhanh hơn
các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng.
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và Cs (1994)[15] cho biết: sự khác nhau về
khối lƣợng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà
hƣớng trứng khoảng 500 - 700g.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
Trần Long (1994)[24], đã nghiên cứu tốc độ sinh trƣởng của 3 dòng
thuần (dòng V1, V3 và V5) của giống gà Hybro HV 85 cho thấy tốc độ sinh
trƣởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi.
Trần Thanh Vân (2002)[55], khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của
gà lông màu Kabir, Lƣơng Phƣợng và Sasso cho biết: khối lƣợng cơ thể gà ở
10 tuần tuổi đạt lần lƣợt là 1990,28g/con, 1993,27g/con và 2189,29g/con.
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998)[12], cho biết gà
con ở 40 ngày tuổi khối lƣợng tăng gấp 10 lần so với lúc 1 ngày tuổi, trong
khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày tuổi để tăng gấp 10 lần khối lƣợng so với
lúc 1 ngày tuổi.

gà mái 1%, tuổi càng tăng sai khác càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự sai khác về
khối lƣợng giữa gà trống và gà mái là 27%. Theo North và Cs (1990)[76],
lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng
lớn: ở 2; 3 và 8 tuần tuổi sự khác nhau tƣơng ứng là 5%, 11% và 27%.
Tốc độ sinh trƣởng còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông. Các kết quả
nghiên cứu xác định, trong cùng một giống, cùng tính biệt thì gà có tốc độ
mọc lông nhanh có tốc độ sinh trƣởng và phát triển tốt hơn. Theo Kushener
K.F (1974) [21], cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc độ
tăng trƣởng. Thƣờng gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm
lớn. Hayer và Cs (1970)[71] đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc
lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hƣởng của hormon có quan hệ
ngƣợc chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông.
Ảnh hƣởng của tính biệt đến khả năng sinh trƣởng và cho thịt của gà
Broiler có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Ở các nƣớc công nghiệp, ngƣời ta
nuôi gà Broiler tách riêng trống mái. Việc này, làm tăng độ đồng đều
trong đàn và thuận lợi cho việc giết mổ tự động. Nuôi tách riêng trống
mái sẽ đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng, tăng khối lƣợng nhanh, tăng hiệu quả
sử dụng thức ăn, làm cho gà trống không lấn át gà mái, giảm gà bị trầy,
xƣớc (Đặng Hữu Lanh và CTV (1999)[22].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng tới khả năng sinh trưởng
Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003)[26], cho biết để phát huy đƣợc
sinh trƣởng cần cung cấp thức ăn tối ƣu với đầy đủ chất dinh dƣỡng đƣợc cân
bằng hợp lý giữa protein và năng lƣợng. Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cho
chúng còn đƣợc bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh không mang theo
nghĩa dinh dƣỡng nhƣng có kích thích sinh trƣởng làm tăng chất lƣợng thịt.
Phạm Minh Thu (1996)[44], cho thấy khối lƣợng cơ thể gà Broiler

C.

Trích đoạn Tình hình nghiên cứu trồng, sử dụng bột cỏ trong chăn nuôi NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status