BLS Bột lá sắn
Cs Cộng sự
ĐC Đối chứng
g Gram
HCN Axit cianuahidric
kg Ki lô gram
TN Thí nghiệm
TTTĂ Tiêu tốn thức ăn
VCK Vật chất khô
VNĐ Việt Nam đồng
i
ii
iii
!" #$%& '!(!)*+
Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm trên 70 % giá thành sản phẩm, do vậy
nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi luôn được các nhà khoa học
quan tâm. Việc tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp, thủy sản làm nguyên
liệu chế biến thức ăn chăn nuôi là một hướng đi đúng và cấp thiết, các chương
trình dự án Quốc tế như SARECK, NUFU đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.
Một khía cạnh khác, việc lợi dụng kháng sinh, chất kích thích tăng
trưởng, chất tạo màu thực phẩm đã ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ra
bao tác hại khôn lường. Codex đã đưa ra hàng loạt loại thuốc kháng sinh cấm
sử dụng trong chăn nuôi từ năm 2005. Do vậy việc chăn nuôi hữu cơ, sử dụng
nguyên liệu có nguồn gốc thực vật, thảo dược là việc làm cần thiết.
Đã có một số công trình nghiên cứu về bổ sung bột lá keo dậu, bột lá
cây trichathera, bột lá cây so đũa, đặc biệt là bột lá sắn trong khẩu phần nuôi
gà đẻ và gà thịt. Kết quả cho thấy gà được ăn khẩu phần ăn có bổ sung bột lá
Đề tài đã chỉ ra hình thức bổ sung bột lá sắn vào thức ăn tự phối trộn là
phù hợp và hiệu quả hơn thay thế vào thức ăn hoàn chỉnh.
2
=>(
?@ABC
D%!E;F! G=H(4'9(I"+ JK=H( <!1KL(F!
G=H(#$(!$M;
1.1.1. Đặc điểm sinh trưởng
Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các
đặc trưng cơ bản của sự sống. Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng
là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Theo tài liệu của Chambers (1990) [41], thì tác giả MoZan (1977) đã
đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ
phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ
sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác.
Trần Đình Miên và Hoàng Kim Đường (1992) [23], đã khái quát như sau:
“Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự
tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể
con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”.
Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi
chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động
của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên
sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia
súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
- Ảnh hưởng của dòng giống:
Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sinh
trưởng khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [13], sự khác nhau
về khối lượng cơ thể gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng năng suất thịt cao
hơn giống gà hướng trứng từ 500 – 700 g/con (13- 30 %).
- Ảnh hưởng của môi trường:
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng
của gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của
gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường
không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh
hưởng đến sức khỏe của gia cầm.
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại
kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu
nhiệt đới (Wesh Bunr K.W.ET - AT, 1992) [71].
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà
rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần
quan tâm. Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố
khác nhau như: ẩm độ, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của
mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.
NOPQ +(R
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn
cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Quá trình sinh
trưởng phụ thuộc vào các yếu tố như: Giống, tốc độ mọc lông, chế độ dinh
dưỡng, điều kiện môi trường, để quá trình sinh trưởng được tốt cần phải có
tác động phù hợp cho vật nuôi.
,D%!E; !)+:$#$(!$M;
Quá trình tiêu hoá ở gia cầm diễn ra nhanh hơn động vật khác. Ở gia
cầm non thức ăn đi qua đường tiêu hoá 4 – 5h, ở gia cầm trưởng thành mất 7 –
8h, thức ăn ở dạng hạt nguyên hoặc nghiền nhỏ được giữ lại lâu hơn, thức ăn
dạng bột đi qua đường tiêu hoá khá nhanh (đặc điểm này được tính đến khi chế
biến thức ăn hỗn hợp).
5
Gia cầm hàng ngày cần phải được cung cấp nước, protein, lipit, gluxit,
chất khoáng. Giữa mức độ năng lượng và protein có mối tương quan với
amin, vì bản chất của protit là các axit amin và sự cân bằng giữa protit và các
axit amin phải có tỷ lệ hợp lý.
Sự tổng hợp protein trong cơ thể gia cầm cũng như trong cơ thể các loại
động vật khác chỉ tiến hành sau khi đã nhận được những thành phần cấu trúc
cơ bản của protein, đó là các axit amin thiết yếu, vì cơ thể động vật không thể
tự tổng hợp được các axit amin này.
1.3.2. Vai trò của axit amin
Axit amin là những nguyên liệu cơ bản để xây dựng nên phân tử protit
phức tạp, bởi vậy nó có vai trò cực kỳ quan trọng. Hiện nay, đã phát hiện trong
tự nhiên có trên 200 loại axit amin khác nhau và được chia thành 2 nhóm:
- Nhóm axit amin không thay thế và axit amin thay thế. Trong axit amin
không thay thế gồm những axit amin mà cơ thể động vật không thể tự tổng
hợp được mà phải đưa vào cơ thể từ thức ăn, nó có vai trò hết sức quan trọng.
Với gia cầm các axit amin nhóm này đã được xác định gồm 10 axit
amin sau:
Methionin, leucin, triptophan, treonin, valin, izoleucin, lyzin, argrinin,
phenilalanin, histidin. Qua các nghiên cứu về axit amin đối với gia cầm ta
thấy nó phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, vấn đề cần lưu ý nhất là sự cân
bằng giữa chúng. Bởi nếu trong khẩu phần ăn dù có đủ hàm lượng protein
nhưng không cân bằng về axit amin thì hiệu quả sử dụng khẩu phần đó kém
hiệu quả.
Trong các axit amin thiết yếu thì lyzin và methionin là 2 axit amin quan
trọng nhất. Lyzin có tác dụng làm tăng tốc đố sinh trưởng, tăng sức sản xuất,
7
cần thiết cho tổng hợp nucleo protein, hồng cầu, cho sự trao đổi bình thường
của azot, tạo sắc tố melanin của lông da. Thiếu lyzin làm đình trệ sự phát
triển, giảm năng suất thịt, trứng ở gia cầm, làm giảm lượng hồng cầu, huyết
sắc tố và tốc độ chuyển hoá canxi photpho, gây còi xương, thoái hoá cơ, làm
rối loạn hoạt động sinh dục. Yêu cầu lyzin trong thức ăn cho gia cầm phụ
thuộc vào giống, tuổi, tính năng sản xuất của gia cầm. Gà thịt yêu cầu 1,1-
là thành phần cấu tạo nên nhóm chất quan trọng
của cơ thể gia cầm cũng như mọi sinh vật là axit nucleic.
1.3.4.Vai trò của lipit với cơ thể gia cầm
Lipit là một nhóm hợp chất hữu cơ được đặc trưng bởi sự có mặt trong
phân tử của chúng một chức este của axit béo có khối lượng phân tử lớn.
Lipit có vai trò là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho cơ thể sống.
Đồng thời lipit là dung môi hoà tan một số vitamin quan trọng như A, K, D, E
vì thế khẩu phần cần có lipit cân đối để chống thiếu các vitamin này.
Lipit có chức năng sinh học đặc biệt là chức năng cấu tạo. Người ta tìm
thấy ở trong tế bào chất, màng tế bào, những liên kết đặc biệt giữa lipit và
protit là lipoprotit. Nhóm này là cơ sở của mọi cấu tạo màng tế bào cũng như
của tiểu khí quan (Ty lạp thể, lưới nội bào ) trong tế bào chất. Lipit còn có
thể kết hợp với chất đơn giản khác thành những phức hợp với tính chất lipit
cholesterin, là nguyên liệu để cấu tạo nên những hormon có bản chất lipit
cholesteron trong khẩu phần làm tăng tính ngon miệng, tăng thu nhận thức
ăn, tăng sinh trưởng và sức sản xuất của gia cầm, lipit được bổ sung theo tỷ
lệ 3-6 % trong khẩu phần.
1.3.5. Vai trò của vitamin đối với gia cầm
Vitamin là hợp chất hữu cơ có trọng lượng phân tử bé, có cấu tạo hoá
học rất khác nhau và đều có hoạt tính sinh học nhằm đảm bảo các quá trình
sinh lý sinh hoá trong cơ thể được tiến hành bình thường và do đó ảnh hưởng
9
tốt đến quá trình trao đổi chất. Đa số các vitamin được tổng hợp từ thực vật và
động vật, thu nhận được trong khẩu phần ăn hàng ngày, do đó nếu khẩu phần
thiếu vitamin sẽ gây rối loạn trao đổi chất.
Gia cầm rất nhạy cảm với sự thiếu vitamin, thậm chí thiếu một ít cũng
làm giảm sức sản xuất. Với những lượng nhỏ vitamin giúp cho sinh vật
phát triển bình thường và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, vitamin tham
gia cấu tạo enzym đóng vai trò xúc tác các phản ứng như: phản ứng oxy
hoá khử, phản ứng carboxyl, phản ứng chuyển amin giúp chuyển hoá tế
Vitamin B2 là thành phần quan trọng của enzym trong hợp chất của axit
adenozin phosphoric, nó đóng vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất, là một
chất vận chuyển hydro. Do đó, nó thúc đẩy sự lớn lên và đẻ trứng. Vitamin
B2 còn có khả năng bình thường hóa chức năng hệ thống thần kinh, chống
đông máu, chảy máu và chống nhiễm trùng, điều phối hoạt động của tuyến
tuỵ, tuyến thượng thận, có khả năng tái sinh máu.
Vitamin E có vai trò quan trọng làm tăng khả năng thụ thai của tế bào
trứng, tăng hoạt lực của tinh trùng ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ cơ và
mô liên kết. Vai trò quan trọng nhất của vitamin E là chống oxy hoá vitamin
A và mỡ.
Mỗi loại vitamin đều có chức năng quan trọng, nó liên quan chặt chẽ đến
sức sản xuất của gia cầm. Do đó, để đạt được năng suất cao thì việc đảm bảo
đầy đủ và cân bằng các vitamin trong khẩu phần ăn cho gia cầm có ý nghĩa hết
sức quan trọng.
1.3.6. Vai trò của các chất khoáng
Ngoài các chất dinh dưỡng đã nêu trên, để tồn tại cơ thể sinh vật cần có
một nhóm chất quan trọng khác, đó là chất khoáng. Chất khoáng chiếm trên
dưới 3 % khối lượng cơ thể gia cầm, trong đó chứa 40 nguyên tố khoáng. Đến
nay 16 nguyên tố khoáng đã được phát hiện và cũng là những nguyên tố
11
khoáng cần thiết cho chúng. Chất khoáng có vai trò quan trọng đối với cơ thể
gia cầm, nó tham gia vào hầu hết các quá trình trao đổi chất, tạo ra sự phát triển
bình thường của cơ thể, điều chỉnh áp suất thẩm thấu ở màng tế bào. Nếu thiếu
hoặc thừa một số nguyên tố khoáng nào đó sẽ dẫn đến việc sử dụng dinh dưỡng
kém hiệu qủa và sinh ra bệnh tật.
Những nguyên tố khoáng là nguyên liệu xây dựng nên bộ xương, tham
gia cấu tạo tế bào cơ thể, là thành phần của nhiều enzym, vitamin, ở dịch tế
bào nó ở dạng hoà tan và làm cân bằng nội mô.
Chất khoáng gồm 3 nhóm: Nhóm đa lượng và nhóm vi lượng.
- Nhóm đa lượng gồm các nguyên tố: Na, K, Ca, P, Mg, S.
Nước là dung môi hoà tan một số vitamin, vận chuyển chất dinh dưỡng đồng
thời vận chuyển chất khí, chất cặn bã ra ngoài cơ thể.
Nước tham gia các phản ứng sinh lý, sinh hoá và các phản ứng có quan
hệ mật thiết với sự sống cơ thể. Phản ứng trao đổi chất, giữ hình thể con vật,
đàn hồi, làm giảm sự ma sát giữa các khớp xương.
NOPQ +(R
Để gia cầm sinh trưởng phát triển tốt, cần phải hiểu được vài trò của
các chất dinh dưỡng đối với gia cầm từ đó cung cấp cho gia cầm đầy đủ, cân
đối các chất dinh dưỡng.
8 D%!E;F!3#$VIFW
1.4.1. Phân loại thực vật, nguồn gốc và đặc điểm thực vật học
Cây sắn thuộc giới Plantae, bộ Malpighiales, họ Euphorbiaceae, phân
họ Crtonoideae, tông Manihoteae, chi Manihot, loài M. Esculenta, có tên
khoa học là Manihot Esculenta Crantz, sắn còn có một số tên gọi khác là
cassava, manioc, tapioca, maniva cassava, Ở Việt Nam cây sắn còn được
gọi là cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu,
Sắn là cây lương thực đứng thứ 3 ở Việt nam, sau cây lúa và ngô. Năm
2009 diện tích trồng sắn của cả nước là 496.000 ha, đồng thời nước ta trở thành
nước xuất khẩu sắn đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan.
13
Cây sắn được bắt nguồn từ 4 trung tâm lớn, đó là: (1) Guatemala, (2)
Mexico, (3) Đông Brazil và Bolivia, (4) Tây Bắc Argentina và dọc theo bờ
biển vùng Sarana của miền Tây Bắc Nam Mỹ (Jalaludin, 1997) [52].
Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz,
1976) và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993). Trung tâm phát
sinh cây sắn được giả thiết tại vùng Đông Bắc của nước Brazil thuộc lưu vực
sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (theo Reiche
Dolmatoff 1957, 1965; Rouse và Crusent, 1963 ), {trích Trần Ngọc Ngoạn [27]}.
Ngày nay sắn được trồng hầu hết ở các nước có vĩ độ từ 30
0
Lá sắn: Là loại lá đơn mọc xen kẽ, thẳng hàng trên thân cây. Lá gồm
2 phần: cuống và phiến lá. Lá có thùy sâu, dạng chân vịt, thùy thường có
cấu tạo số lẻ từ 5-7 thùy (Trần Ngọc Ngoạn, 2007 [28]). Lá gần cụm hoa có
số thùy giảm dần và thậm chí không chia thùy, lá phía trên thường có biểu
bì bóng như sáp. Cuống lá dài từ 5-30 cm (một số giống cuống dài 40 cm)
và có các màu sắc khác nhau phụ thuộc vào giống sắn và chủ yếu là màu
hồng, vàng, xanh vàng, đỏ tươi. Theo Claiz (1979); Herchey (1988) (trích
Phạm Sỹ Tiệp, 1999 [32]) thì một trong những đặc điểm của cây sắn khác với
cây ngũ cốc khác là sản phẩm quang hợp được chia cho sự phát triển của cả lá
và củ. Điều này cho thấy nếu cây có điều kiện để phát triển diện tích lá tối ưu
thì sự phát triển củ cũng đạt đến mức tối ưu.
Hoa sắn: Hoa thuộc loại hoa chùm, đơn tính có cuống dài mọc ra từ chỗ
phân cành, ngọn thân. Những cụm hoa gồm một trục dài 2-10 cm và nhiều trục
bên hợp thành nên gọi là chùy. Hoa cái thường nở trước hoa đực từ 5-7 ngày.
Quả sắn: Có kích thước từ 1-1,5 cm, 1 quả thường có 3 hạt. Màu quả đa
dạng phụ thuộc vào giống. Hạt sắn hình trứng tiết diện hơi giống hình tam
giác. Quả sắn thành thục sau khi thụ phấn 75-90 ngày. Hạt sắn nặng từ 95-136
mg, màu nâu đen, trơn nhẵn, có đường gân màu nâu. Hạt sắn nảy mầm ngay
sau khi được thu hoạch, quá trình này mầm mất khoảng 16 ngày (Ghosh và
cs, 1988) [46].
15
* Giới thiệu vài nét về giống sắn KM 94
Nguồn gốc: Tên gốc KU 50 (hoặc Kasetsart 50) được nhập nội từ
CIAT/Thái Lan trong bộ giống khảo nghiệm Liên Á năm 1990. Giống do Viện
Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nhập nội, tuyển chọn và
giới thiệu. Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận
giống quốc gia năm 1995 trên toàn quốc (Hoàng Kim, 2010 [16]). Hiện nay,
giống sắn KM 94 là giống chủ lực của nước ta với diện tích trồng hàng năm là
trên 350.000 ha. Giống KM 94 có hình dạng: Thân xanh, hơi cong, ngọn tím,
vitamin. Cũng theo các tác giả trên thì trong lá sắn tươi trung bình có 6,59 -
7,00 protein thô, mỡ thô 2,50 - 2,55 %, xơ thô 2,84 - 3,82 %, DXKĐ từ 10,80
- 11,15 %, khoáng tổng số từ 1,60 - 2,51 %, trong protein của lá sắn có khá
đầy đủ và cân đối các axit amin thiết yếu. Trong lá sắn còn chứa độc tố HCN.
Tuy nhiên, lá sắn nếu qua chế biến có thể sử dụng với tỷ lệ cao trong khẩu
phần, tuỳ theo từng loài giống gia súc và mục đích nuôi.
Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thưởng và Sumilin (1992)
[30], Từ Quang Hiển (1982) [6], Phạm Văn Biên và cs (2002) [65] cho biết:
thành phần hóa học của lá sắn tươi giống như một số loại rau xanh khác, đặc
biệt ở trong lá sắn hàm lượng protein và caroten chiếm tỷ lệ rất cao, cho nên
lá sắn đã được coi là một nguồn rau xanh cho người và gia súc. Theo Bùi Văn
Chính và Lê Viết Ly (2001) [3] thì trong ngọn lá sắn tỷ lệ VCK chiếm 25,5 %,
năng lượng trao đổi đối với gia cầm là 2549 kcal/kg VCK, còn theo tài liệu
của Viện chăn nuôi (2001) [35] thì bột lá sắn có 89,60 % VCK, 1966 kcal/kg,
tương ứng với 2194 kcal/kg VCK.
Theo các tác giả trên và một số tác giả khác như Dương Thanh Liêm
(1999) [19]; Nguyễn Thị Hoa Lý (2008) [22] hàm lượng protein thô trong
VCK của lá sắn tương đối cao, dao động từ 20-34,7 %. Còn theo Alhasan và cs
(1982) (trích Nguyễn Nghi và cs, 1984 [25]) thì lá sắn giàu protein hơn so với
củ sắn, hàm lượng protein trong lá sắn từ 23-32 % trong vật chất khô. Từ
17
Quang Hiển và Phạm Sỹ Tiệp (1998) [8] cho biết protein trong lá của các giống
sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06 % đến 29,80 % trong vật chất
khô. Lá của các giống sắn trong nước có hàm lượng protein cao là Xanh Vĩnh
Phú, sắn Dù, Chuối trắng, KM 60, Chuối đỏ, 205. Liu và Zhuang (2000) [57]
cho biết bột lá sắn có hàm lượng protein là 27,50 %, còn chế biến sắn cả cuống
thì hàm lượng protein giảm xuống còn 20,30 %. Tuy nhiên, giống sắn và thời
điểm thu lá khác nhau thì hàm lượng protein là khác nhau. Tác giả cũng cho
biết protein trong lá sắn cao hơn hẳn các loại cây thức ăn khác (hàm lượng
protein trong VCK của cỏ hòa thảo là 12,60 %; ngô 11,90 %) nhưng thấp hơn
Quang Hiển, 1982 [6] thì lá sắn có chứa nhiều chất dinh dưỡng. Mặc dù hàm
lượng tinh bột rất ít (từ 1,8 đến 3,2 %), hàm lượng DXKĐ của lá có từ 3,7 -
6,4 %. Năng lượng trao đổi trong lá sắn tính theo 1kg vật chất khô cũng chỉ
có 2400 Kcal. Nhưng từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn thức ăn rau
xanh cho người và gia súc.
Eggum (1971) đã nghiên cứu phối hợp protein bột cá với protein lá
sắn theo tỷ lệ 2/1 thấy: Giá trị sinh học của protein bột cá là 78 %, bột lá sắn
là 63 % nhưng giá trị sinh học của protein hỗn hợp đạt tới 73 %. Tác giả
cũng cho biết: Nếu bổ sung methionin vào bột lá sắn thì giá trị sinh học của
protein của hỗn hợp có thể đạt tới 80,4 %. Điều này có thể giải quyết được
kiến nghị của Adrian và Peyrot (1970) đã nêu khi sử dụng bột lá sắn. Hàm
lượng lysin và arginin trong protein của lá sắn lại tương đối cao, tương ứng
4,45 % và 4,35 mg% (Nguyễn Nghi và cs, 1984) [25].
Theo công bố của Hoài Vũ (1980) [36] thì về mặt chất lượng, trong
protein của lá sắn có khá nhiều và đầy đủ các axit amin cần thiết. So với các
loại rau tươi khác thì chất lượng protein của lá sắn hơn hẳn. Ví dụ: Hàm
lượng lyzin, methionin và triptophan của lá sắn tươi là 0,34; 0,14; 0,11
19
(g/100g). Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; 0,04. Rau ngót là 0,16; 0,13;
0,05. Rau cải là 0,07; 0,03; 0,02.
Hàm lượng vitamin trong lá sắn cũng cao. Theo Maner 1987 [58]; Từ
Quang Hiển, 1983 [7], trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7 mg%
caroten/100g VCK. Còn theo Hoài Vũ, 1980 [36]; hàm lượng caroten trong
lá sắn tươi là 3,00 mg%, vitamin B1 là 0,25 mg%, B2 là 0,66 mg%, PP là
0,66 mg%. Đặc biệt, vitamin C trong lá sắn khá cao (295 mg%). Theo
Dương Thanh Liêm và cs (1998) [44] cho biết tỷ lệ caroten trong bột lá sắn
phụ thuộc quá trình chế biến, sấy ở nhiệt độ 100
0
C giữ được caroten cao nhất
là 351 mg/kg.
nguồn carotenoid sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng gia cầm là
xanthophyll hay oxycarotenoid của ngô, gluten ngô và bột lá thực vật (Latscha,
1990 [56]). Khi cho gia cầm ăn thức ăn giàu xanthophyll thì có thể tìm thấy
xanthophyll ở trong máu, cơ, gan, chất béo, da, lông của chúng (Goodwin, 1986
[48]). Ở gà thịt, sắc tố apocarotenoic acid ethyl ester là một carophyll có màu
vàng khi bổ sung có tác dụng tăng màu sắc của da gà (Latscha, 1990 [56]).
Khi các carotenoid tích lũy đầy đủ thì hương vị của thịt tăng, do đó làm tăng
chất lượng của thịt gà (Josephson, 1987 [54]), cải thiện độ vàng da ngực và
thành phần axit béo của thịt.
Để giải quyết vấn đề thiếu hụt sắc tố trong thức ăn và cải thiện độ vàng
của lòng đỏ trứng, da, thịt, đồng thời làm tăng hương vị thịt của gia cầm,
người ta đã bổ sung sắc tố tổng hợp hoặc bột thực vật giàu sắc tố vào thức ăn
nhưng sắc tố tổng hợp không cải thiện được hương vị thịt, bên cạnh đó một số
sắc tố tổng hợp còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Vì vậy, người ta
hướng tới việc sản xuất bột lá thực vật giàu sắc tố hoặc chiết suất sắc tố từ thực
vật, nấm bổ sung vào thức ăn của gia cầm. Các loại bột lá cây thức ăn xanh
21
thường được sản xuất là bột hoa cúc, bột lá keo giậu, bột cỏ alfalfa, bột cỏ
stylo, bột cỏ medicago, bột cỏ mục túc, bột lá sắn,… Ở Việt Nam, sắn là một
cây trồng có tiềm năng cho việc sản xuất bột lá thực vật, có thể thu được trên
dưới 5 - 10 tấn bột lá/ha/năm. Lá sắn dễ phơi khô, bột lá sắn giàu carotenoid,
xanthophyll và protein. Vì vậy, nó không chỉ là nguồn bổ sung sắc tố mà còn
là nguồn cung cấp protein cho gia súc, gia cầm và thủy hải sản.
1.4.4. Độc tố HCN trong sản phẩm sắn và phương pháp khử độc tố
1.4.4.1. Độc tố trong sắn
Một trong những yếu tố quan trọng gây hạn chế sử dụng các sản phẩm
từ củ và lá sắn làm lương thực cho con người và thức ăn cho gia súc là trong
sắn có chứa cyanogenic glucosid. Đó là linamarin (linamarosid) và
lotaustralin (lotostralosid) (Nartey, 1978 [62]). Linamarin tồn tại trong không
bào của tế bào sắn (McMahon và cs, 1995 [59]). Quá trình tổng hợp linamarin