TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
TRÂN HỮU LỢI SỬ DỤNG ĐỘN LÓT NỀN CHUỒNG LÊN
MEN VI SINH VẬT TRONG CHĂN NUÔI GÀ
TÀU VÀNG GIAI ĐOẠN 6 ĐẾN 10 TUẦN
TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y
NGÀNH CHĂN NUÔI – THÚ Y CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂN 2013
CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG Luận văn này với đề tựa là “Khảo sát đặc tính sinh trưởng của cây calliandra
calothyrsus tại thành phố Cần Thơ”, do sinh viên Trần Hữu Lợi thự hiện theo
sự hướng dẫn của Ts. Nguyễn Thị Hồng Nhân. Luận văn đã báo cáo và được
Hội đồng chấm luận văn thông qua ngày…………………
Ủy viên Thư ký
(ký tên) (ký tên)
Xin cảm ơn các bạn lớp CNTY K36 đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và bên cạnh
tôi những lúc vui buồn, khó khăn trong những năm qua.
Cuối cùng, xin chúc quý thầy cô và các bạn nhiều súc khỏe và thành đạt.
Xin chân thành cảm ơn!
ii
TÓM TẮT
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của trấu và trấu có chộn men vi sinh
(PALASA) làm độn lót chuồng để nuôi gà Tàu Vàng giai đoạn 6-10 tuần tuổi
nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng độn lót sinh học lên khả năng sinh
trưởng của gà. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 2 nghiệm
thức và 4 lần lặp lại. Đối tượng thí nghiệm gồm 160 gà Tàu Vàng. Các chỉ tiêu
theo dõi gồm khối lượng, tăng trọng, tiêu tốn thức ăn, hệ số chuyển hóa thức
ăn của gà. Kết quả thí nghiệm được ghi nhận như sau:
Khối lượng gà thí nghiệm ở 2 nghiệm thức tăng theo tuần tuổi. Khối
lượng ở nghiệm thức TN cao hơn so với nghiệm thức ĐC. Khôi lượng trung
bình ở các nghiệm thức TN và ĐC lần lượt là 846,55 g/con; 795,74 g/con và
Tương tự, tăng trọng trung bình ở nghiệm thức TN (21,53 g/con/ngày) cao
hơn nghiệm thức ĐC (18.17 g/con/ngày)). Trong khi đó, tiêu tốn thức ăn trung
bình ở nghiệm thức TN(67,53 g/con/ngày) cao hơn nghiệm thức ĐC (62,55
g/con/ngày) .Ngược lại hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình của nhiệm thức
TN thấp hơn nghiệm thức ĐC lần lược là 3,33g/con; 3,7 g/con.
Tóm lại, khối lượng, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của ngiệm thức ĐC
đều cao hơn nghiệm thức TN ,tuy nhiên hệ số chuyển hóa thức ăn của nghiệm
thức TN lại thấp hơn nghiệm thức ĐC.
iv
MỤC LỤC
Trang
Lời cám ơn Error! Bookmark not defined.
Tóm tắt Error! Bookmark not defined.
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined.
Mục lục Error! Bookmark not defined.
Danh mục bảng Error! Bookmark not defined.
Danh mục hình Error! Bookmark not defined.
Danh mục chữ viết tắt Error! Bookmark not defined.
Chương 1: Giới thiệu Error! Bookmark not defined.
Chương 2: Lược khảo tài liệu Error! Bookmark not defined.
2.1 Chế phẩm sinh học trong sử lý chất thải động vật Error! Bookmark not
defined.
2.2 Tình hình nguyên cứu sử dụng độn lót chuồng lên men trong chăn nuôi Error!
Bookmark not defined.
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Error! Bookmark not defined.
Chương 4: Kết quả thảo luận Error! Bookmark not defined.
4.1 khối lượng bình quân của gà Tàu Vàng Error! Bookmark not defined.
4.2 Tăng trọng bình quân của gà Tàu Vàng Error! Bookmark not defined.
4.3 Tiêu tốn thức ăn Error! Bookmark not defined.
4.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn 29
Chương 5: Kết luận và đề nghị Error! Bookmark not defined.
5.1 Kết luận Error! Bookmark not defined.
5.2 Đề Nghị Error! Bookmark not defined.
Tài liệu tham khảo 32
Phụ chương 34 vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Các nước có số lượng gà nhiều nhiều nhất thế giới năm 2010 (đơn
vị: 1.000 con) 13
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm 23
Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm 24
Bảng 4.1: Khối lượng (BW) của gà Tàu Vàng qua các tuần tuổi, g/con 26
Bảng 4.2: Tăng trọng (WG) của gà Tàu Vàng qua các tuần tuổi, g/con/ngày 27
Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn (FI) của gà Tàu Vàng qua các tuần tuổi, g/con 28
Bảng 4.4: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của gà Tàu Vàng qua các tuần
Hình 2.7 Gà Hồ 20
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện khối lượng của gà Tàu Vàng qua các tuần tuổi 26
Hình 4.2: Biểu đồ Tăng trọng gà Tàu Vàng qua các tuần tuổi 27
Hình 4.3
:Biểu đồ thể hiện lượng tiêu tốn thức ăn của gà Tàu Vàng qua các
tuần tuổi 29
Hình 4.4: đồ hệ số chuyến hóa thức ăn của gà Tàu Vàng qua các tuần tuổi
30
trang
viii DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chăn nuôi là một ngành truyền thống lâu đời tại Việt Nam, đặc biệt là
chăn nuôi gia cầm. Bên cạnh việc cung cấp nguồn protein cho con người, nó
còn tạo công ăn việc làm cho người dân. Ngoài những lợi ít mang lại trên vẩn
còn một vấn đề nan giải đó là ô nhiễm môi trường không khí và nước. Mức ô
nhiễm nước thải chăn nuôi gia cầm được xác định vượt quá giới hạn và tăng
dần theo quy mô nông hộ - gia trại - trang trại hàm lượng các khí độc tại các
khu vực có chăn nuôi được xác định gấp 11,2- 15 lần giới hạn cho phép và
tăng dần ở quy mô lớn. Độ nhiễm khuẩn không khí cũng cao dần theo quy mô
và vượt quá giới hạn từ 19,72 lần đến 25,2 lần.
Sự ô nhiễm tạo ra các vấn đề như mùi hôi, khí độc và ruôi muỗi trong
chuồng nuôi làm dể phát sinh dịch bệnh do đó làm tăng chi phí thuốc thú y,
con vật chậm lớn ,chất lượng sản phẩm kém hiệu quả kinh tế thấp và ảnh
hưởng đến sức khỏe con người (Drummon và cs, 1980, attar và brake,1988).
Một số biên phát truyền thống đã được sử dụng như: thu gom chất thải hàng
ngày, dọn rửa chuồng, làm bể biogas hay ủ phân đã phần nào giải quyết được
vấn đề tuy nhiên vẩn còn một số vấn đề như: mất thời gian, chi phí mướn công
nhân ,tiền điên nước
Vì vậy để có thể xử lý tốt phân, chất thải chăn nuôi một cách triệt để, tạo
môi trường trong sạch thông thoáng giảm chi phí tiên thuê công nhân tiền điện
nước không phải thực hiên hằng ngày thì một trong những biện pháp hiêu quả
là sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý độn lót nền chuồng nuôi, nhằm làm
giảm mùi hôi thối, phân giải chất thải hằng ngày ngay tai chỗ.
Xuất pháp từ thực tế trên và được sự phân công của Bộ Môn Chăn Nuôi,
khoa Nông Nghiệp & SHƯD, trường Đại Học Cần Thơ chúng tôi thực hiện đề
tài: “sử dụng độn lót nền chuồng lên men vi sinh vật trong chăn nuôi gà
Tàu Vàng giai đoạn 6 đến 10 tuần tuổi” được thực hiện tại trại chăn nuôi
thực nghiệm khu Hòa An, trường đại học Cần Thơ.
các hoạt động chăn nuôi trên thế giới.
Nhiều nhà khoa học thống nhất là các chế phẩm probiotic tạo nên các
đáp ứng tích cực ở vật nuôi chỉ khi các chế phẩm có đầy đủ các đặc tính của
probiotic, sự thiếu một hoặc nhiều đặc tính của probiotic có thể là nguyên
nhân của các đáp ứng âm tính. Chế phẩm sinh học không những được ứng
dụng rộng rãi trong cải thiện môi trường nuôi mà còn khống chế bệnh dịch và
tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi. Thành phần của chế phẩm sinh học
thường là một tập hợp các chủng vi sinh vật sống, được tuyển chọn và tối ưu
hoá tác dụng của chúng. Các nhà sản xuất đã lựa chọn những loài khác nhau
để cho ra một sản phẩm có tác dụng tốt trong quá trình sử dụng, tuy nhiên hiện
nay phổ biến nhất là các loài: Baciluss (B.subtilis, Blicheniformis,
B.megaterium ), vi khuẩn lactic (L.plantarum, L.casei L.bulgaricus ),
Nitrobacter, Thiobacterium, nấm men saccharomyces serevisiae
3
Hiện nay có khoảng 400 loại chế phẩm sinh học đang lưu thông trên thị
trường, trong đó có khoảng 430 loại dùng để xử lý môi trường và trên 60 loại
dùng để trộn vào thức ăn nhằm mục đích kích thích tăng trưởng, tăng sức đề
kháng nhưng chủ yếu tập trung vào xử lý môi trường,các loại chế phẩm này có
nguồn gốc từ nhiều nước: Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Anh, Mỹ, Ấn Độ,
Hàn Quốc, Úc, Đức, Thái Lan…
Cơ chế tác động của các vi sinh vật hữu ích trong xử lý chất thải chăn
nuôi có thể kể đến:
- Khả năng tiêu hủy phân và mùi hôi: Một số vi sinh vật hữu ích có khả
năng phân giải và đồng hóa các chất thải động vật như phân, nước tiểu.
Quá trình phân giải này tạo thành các thành phần trao đổi chất có tác dụng
khử mùi trong chuồng trại như axit hữu cơ (trung hòa và cố định NH
3
), rượu
rất lớn các chủng loại vi sinh vật khác nhau đã tạo ra sự áp đảo và tiêu diệt các
4
loại vi khuẩn lên men gây thối trong phân. Các vi sinh vật có ích bằng sự cạnh
tranh các chất dinh dưỡng, bằng việc sản sinh ra các chất gây ức chế như các
axit hữu cơ, chất có hoạt tính kháng sinh Khi chế thành dịch lên men thì dịch
lên men có độ pH thấp là khoảng 4, do có hàm lượng các axit hữu cơ 3-8% vi
sinh vật có ích có khoảng 5.108 CFU/g (Lactobacillus sp.,
Streptococcuslactis, vi khuẩn quang hợp…) nấm men khoảng 8.108CFU/g đã
sản sinh các chất kháng vi khuẩn thối như axit lactic, axit axetic, rượu ethylic,
ester, H
2
O
2
, bacterioxin … Axit hữu cơ có thể trung hòa hấp phụ NH
3
. (ii)
Trong thành phần của tổ hợp vi sinh vật được đưa vào xử lý độn chuồng có
những chủng có thể sử dụng các khí độc làm nguồn dinh dưỡng cho sự sinh
trưởng phát triển của mình, do đó mà góp phần làm giảm nhanh khí độc trong
độn lót (phân mới thải ra đã có nhiều khí thối độc do sự lên men của các vi
khuẩn thối rữa trong ruột già động vật ).Ví dụ: các chủng nấm men được
chọn lọc có thể sử dụng NH
3
cho sinh tổng hợp thành protein của tế bào hay vi
khuẩn quang hợp có màu lục có thể sử dụng cơ chất là H
2
S trong quá trình
đồng hóa CO
2
Ô nhiễm chuông nuôi là một trong những vấn đề lớn của chăn nuôi gà
tập trung. Rất nhiều chất khí độc hại trong chuông nuôi được sinh ra trong qua
trình trao đổi chất của gà cũng như trong quá trình phân hủy của chất thải
(phân, nước tiểu) như khí metan ( CH
4
), hydro sunfua (H
2
S), CO
2
và NH
3
,
trong số đó, amoniac là chủ yếu. Các khí độc này không chỉ ảnh hưởng đến
sức khỏe của gia cầm, sức khỏe của người chăn nuôi mà còn gây mùi khó chịu
và ô nhiễm môi trường (Gũrdil và cs, 2001).
Việc sử dụng độn lót chuồng trong chăn nuôi là một trong những nguyên
nhân tăng hàm lượng amoniac trong chuồng nuôi. Amoniac là sản phẩm của
quá trình phân hủy axic uric trong nước tiểu, các hợp chất chứa nitơ trong thức
ăn rơi vãi của vi sinh vật, chúng được tạo thành dưới một trong hai dạng khí
NH
3
(amoniac) và các ion amoni NH
4
+
tuy thuộc vào độ pH của độn lót nền
chuồng. Nếu độn lót chuồng có pH dưới 7,0 amoniac sẽ tồn tại dưới dạng ion
amoni (NH
4
+
) và amoniac tồn tại dưới dạng khí NH
6
Treatmen ( PLT
TM
). Al –Clear
TM
(Granulated aluminum sulfate) poultry
Guard
TM
(PG), hydrated lime9 (HL), A-7
TM
(liquid axitified aluminum sulfate
LA) và sulfuric axit đậm đặc (98% H
2
SO
4
) (SA). Tuy nhiên n hững sản phẩm
này có những hạn chế như giá thành cao, sử dụng phức tạp do đòi hỏi phải có
bảo hộ lao động đặc biệt. Mặt khác, các sản phẩm này có thể gây tổn thương
da và những nguy hiểm khác cho công nhân khi sử dụng.Chính vì vậy, việc sử
dụng vi sinh vật để làm giảm lượng amoniac ở các trại chăn nuôi gà tập trung
đã được nghiên cứu. Theo Chiang và Hsieh (1995), báo cáo rằng, sử dụng chế
phẩm có chứa lactobacillus axitophilus, streptococcus faecium và bacillus có
thể làm giảm hàm lượng amoniac trong phân và chất độn chuồng trong chăn
nuôi gà thịt thương phẩm. Theo Yeo và Kim (1997), bổ sung lactobacillus
casei vào khẩu phần ăn của gà thịt có thể làm giảm sự hoạt động của ureaza
trong chất chứa ruột non ở 3 tuần đầu tiên. Tuy nhên, tác giả đã không báo cáo
về việc giảm khí amoniac và các hợp chất hữu cơ bay hơi trong chuồng nuôi
(Chang và Chen, 2003).
Tiến hành bổ sung chế phẩm thương mại Ecozyme có chứa các chủng vi
sinh vật hữu hiệu EM sống cộng sinh trong cùng một môi trường thì sẽ tao ra
một môi trường sinh thái đồng nhất, hổ trợ lẫn nhau cùng sinh trưởng và phát
triển, sản sinh ra nhiều sản phẩm khác nhau, nên sản phẩm EM có được hiệu
quả đa dạng như trên.
Xét về mặt khoa học thi không có một chế phẩm vi sinh vật được sử
dung chung cho nhiều lĩnh vực và với các mục đích khác nhau. Bởi lẻ mỗi một
lĩnh vực điều có những đặt điểm rất riêng, vì vậy muốn tác động có hiệu quả
thị một chế phẩm sinh hoc phải có những chủng vi sinh vật lựa chọn thật phù
hợp. Viếc sử dụng một hỗn hộp các vi sinh vật hữu hiệu (EM) chung cho
nhiều lình vực sẽ không mang lại kết quả thật tốt cho tất cả.
Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, muốn cho động vật nuôi ít bi bệnh, tăng
cường được khả năng tiêu hóa hấp thụ thức ăn, có sự sinh trưởng phát triển
tốt, tăng khả năng sinh sản thì vấn đề quan tâm đực biệt phải là vấn đề môi
trường sống. Nếu một con giống tốt, được nuôi với một chế độ dinh dưỡng
hoàn hảo và đảm bảo tốt các yêu cầu về nuôi dưỡng khác mà lại phải sống
trong một môi trường không trong sạch, có nhiều khí thải độc hại, cảm nhiểm
nhiều vi sinh vật gây bệnh nhiệt độ và độ ẩm không đảm bảo thì chất chắn
đảm bảo không có sinh trưởng phát triển tốt mà còn rất dể mất bệnh.
Vấn đề vệ sinh môi trường chăn nuôi có liên quan chặt chẽ đến vấn đề
thải phân và nước tiểu của động vật nuôi. Vấn đề sử lý các chất thải này được
người chăn nuôi thực hiện hằng ngày với cách làm truyền thống như quét
dọn, tẩy rửa, thu gơm phân vào bể bioga hay ủ hố hay sử dụng độn lót chuồng
và định kì bổ sung hoặc thay thế độn lót Việc sử lý này không những tốn
nhiều công sức và cả tiền của mà còn không thể xử lý triệt để môi trường, sự ô
nhiễm vẩn còn nặng ảnh hưởng đến con vật, người chăn nuôi và cả khu dân
cư. Việc sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý phân và giảm mùi hôi không
giải quyết tận gốc của vấn đề và cũng không triệt để.
Làm sao để có thể xử lý phân, chất thải chăn nuôi một cách triệt để tạo
môi trường trong sạch có lợi cho sự sinh trưởng phát triển của con vật, giảm
8
dưỡng cao.
-Lên men các nguyên liệu để tạo độn lót chuồng lên men dùng trong
chăn nuôi lợn, gà, ngan.
Trong các tác dụng được nêu trên thì việc sử dụng Chế phẩm lên men
hoạt tính 99 để chế độn lót chuồng lên men được đặc biệt nhấn mạnh trong các
9
tài liệu do Cục Khuyến nông một số tỉnh phát hành. Người Trung Quốc coi
đây là phát kiến quan trọng mà họ gọi là “Kỹ thuật nuôi dưỡng bằng độn lót
chuồng vi sinh hoạt tính” (Trương Khải Bình, 2009). Những ñặc điểm của độn
lót chuồng lên men này là:
-Số lượng vi sinh vật đạt rất cao trong độn lót: 5.107 CFU/g (lên men
bằng chế phẩm vi sinh khác chỉ đạt 0,8.106 CFU).
- Các vi sinh vật trong độn lót có mối quan hệ cộng sinh, cộng tồn đã tạo
nên sự cân bằng chắc chắn, liên kết tạo ra sự phân giải mạnh mẽ, hiệu quả ổn
định trong giảm mùi hôi và giảm bệnh.
- Độn lót lên men không dễ bị lên mốc và biến chất;năng lực phân giải
mạnh.
- Trong quá trình nuôi dưỡng, có thể sử dụng các xử lý tiêu độc bình
thường mà không ảnh hưởng đến công năng của chế phẩm.
- Cách tạo độn lót đơn giản, bảo dưỡng dễ.
- Tạo cho chuồng nuôi có được một tiểu khí hậu tốt: nhiệt độ, độ ẩm
thích hợp, không khí trong lành, không có mùi thối và khí độc, giảm thiểu vi
sinh vật gây bệnh.
- Không cần phải thu dọn phân và tẩy rửa chuồng trong suốt quá trình
nuôi. Từ đó đem lại hiệu quả tác dụng rất to lớn cho người chăn nuôi cũng như
toàn xã hội.
Sử dụng độn lót chuồng lên men trong chăn nuôi đem lại nhiều lợi ích
cho người chăn nuôi. Trước hết cần nhận thấy đó là chuồng thiết kế đơn giản
với sự đầu tư thấp; xử lý độn lót nhanh vối sự đầu tư ban đầu ít, không phức
dùng để xử lý độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà như đã đề cập ở phần
trên. Không thể không nhắc đến chế phẩm EM được du nhập vào nước ta và
được nghiên cứu thực nghiệm sử dụng trong thời gian tương đối dài. EM được
coi là một chế phẩm đa năng (Lê Khắc Quảng, 2004).
- Xử lý ô nhiễm, cải tạo môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản
(làm trong sạch, khử mùi hôi của nước).
- Khử mùi hôi và giảm ruồi nhặng ở chuồng trại, nơi chứa phân, cống
rãnh và bãi rác thải sinh hoạt. Giảm ô nhiễm môi trường.
- Chế biến phân vi sinh từ phân rác thải và các phế phụ phẩm nông
nghiệp.
- Cho động vật nuôi uống để tăng sức đề kháng, giảm tỷ lệ mắc bệnh cho
vật nuôi.
- Lên men thức ăn bột trong nuôi lợn hay các phụ phẩm nông nghiệp
(rơm, thân ngô, ngọn mía) nuôi bò để tăng hiệu quả sử dụng góp phần tăng
năng suất chăn nuôi, tăng khả năng sinh sản và chất lượng của sản phẩm chăn
nuôi. Tuy nhiên chế phẩm EM được sử dụng rộng, có hiệu quả chủ yếu trong
lĩnh vực xử lý phân, rác thải, xử lý môi trường làm giảm mùi hôi và sự ô
nhiễm và dùng trong xử lý ô nhiễm, cải tạo môi trường nước trong nuôi trồng
thủy sản (làm trong sạch, khử mùi hôi của nước). Hạn chế khi sử dụng chế
phẩm EM là do không nhận ñược giống gốc, không biết cụ thể thành phần các
11
chủng vi sinh vật trong chế phẩm nên không đảm bảo sự nhân truyền giống
tốt và nhiều lí do khác mà chế phẩm EM đã không du trì được những hiệu quả
tác dụng ban đầu. Vì vậy các nhà khoa học đã nghiên cứu chế tạo các chế
phẩm EM. Có thể kể đến:
Chế phẩm BIO II gồm hỗn hợp vi sinh vật sống và enzyme tiêu hóa.
Trong nuôi trồng thủy sản, chế phẩm BIO II có tác dụng: phân hủy những thức
ăn thừa và các khí thải ở đáy ao, ổn định pH và màu nước ao, kìm hãm sự tăng
trưởng của các vi sinh vật gây bệnh cho tôm, cá như các vi khuẩn Vibrio spp,
phẩm: vi khuẩn lactic ≥ 106 CFU, vi khuẩn Bacillus ≥1.1010 CFU, vi khuẩn
quang dưỡng ≥1.107 CFU, nấm men ≥1.107 CFU.
Các chủng vi sinh vật này chịu được điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng Việt
Nam, do vậy không phải phụ thuộc vào nguồn giống vi sinh của nước ngoài.
Chế phẩm BIO-F là chế phẩm chứa các vi sinh vật do nhóm nghiên cứu phân
lập và tuyển chọn: xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mốc Trichoderma sp và
vi khuẩn Bacillus sp. Những vi sinh vật trên có tác dụng phân huỷ nhanh các
hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò (protein và xenluloza), gây mất mùi
hôi. Chế phẩm BIO-F đó được sử dụng để sản xuất thành công phân bón hữu
cơ vi sinh chất lượng cao từ phân, bùn đáy ao, rác thải sinh hoạt (Viện Sinh
học nhiệt đới, 2005).
2.3 Giống và công tác giống gia cầm
2.3.1 Nguồn gốc và sự thuần hóa gia cầm
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), gia cầm bất nguồn từ gia cầm hoang dã,
là một trong những vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa. Nhiều di tích
kgoor cổ và nguồn gốc văn hóa cổ xưa chứng minh răng gia cầm đã được sử
dụng rộng rãi với mục đích kinh tế ngay từ thời văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc
và Huy Lạp cổ xưa. Vài thế kỷ gần đây với văn minh của loài người con người
đã thông qua chọn lọc nhân tạo, tạo nên một sự đa dạng lớn các giống gia cầm
mới. Gần đây số lượng các giống gia cầm và các dạng riêng biệt của nó, đặc
biệt ở gà đã tăng lên rất nhiều và đã trở thành chuyên nghành mũi nhọn về số
lượng và chất lượng sản phẩm của nó. Con người đang tiếp tục hoàn thiện các
giống đã có tạo ra các giống gia cầm mới trên cơ sởsử dụng các đặc điểm đặc
thù của các nước và khu vưc khác nhau trên thế giới để phối hợp vào trong
con giống. Vì vậy, khác với các giống trước đây các giống gia cầm ngày càng
có khả ăng thích ứng nhanh hơn phổ biến rộng rãi hơn trên thế giới ngay khi
nó được tạo ra. Chính đặc trưng này đã thúc đẩy nghành gia cầm phát triển với
tốc độ nhanh hơn nhiều nghành sản xuất khác trong nông nghiệp.
Gà được thuần hóa bất nguồn từ Ấn Độ, sau đó lan rộng ra nhiều vùng
1.341.784
3
Brazil
1.205.000
4
India
613.000
5 Iran (Ilamic Republic of) 513.000
6
Mexico
506.000
7 Rusian Federation 366.282
8 Pakistan 296.000
9 Japan 285.349
10 Turkey 244.280
FAO (2010)
2.4.2 Tình hình chăn nuôi gà ở Việt Nam
Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản
xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quang trọng thứ hai trong tổng giá trị