9
Mở đầu
Nghề lới rê đã đợc sử dụng lâu đời và phổ biến ở Việt Nam, đợc sử dụng
khai thác ở khắp các vùng biển của nớc ta, hiện nay nó vẫn giữ một vai trò quan
trọng trong cơ cấu nghề khai thác thuỷ sản. Lới rê có thể đánh bắt đợc nhiều
tầng nớc khác nhau, tuỳ theo đối tợng khai thác, kích thớc lới rê cũng nh tàu
thuyền khai thác lới rê cũng khác nhau. Đối tợng khai thác là các loại cá tôm có
giá trị kinh tế cao.
Thị xã Đồ Sơn là địa phơng có truyền thống làm nghề khai thác của thành
phố Hải Phòng. Với số lợng tàu thuyền làm nghề lới rê là 74% trong tổng số tàu
thuyền khai thác của địa phơng này. Những đóng góp của các tàu khai thác lới rê
vào kinh tế của địa phơng là rất lớn, tăng thu nhập cho ng dân, góp phần xoá đói
giảm nghèo, nhiều hộ đã vơn lên làm giàu chính đáng.
Trong thời gian qua, ng dân thị xã Đồ Sơn phát triển các loại mẫu lới rê
để khai thác thuỷ sản. Nhiều chủ tàu sau khi du nhập đợc lới mới làm ăn có hiệu
quả nhng cũng rất nhiều gia đình phải vay mợn tiền để sắm nghề mới nhng làm
ăn kém hiệu quả dẫn đến nợ nần, phá sản làm cho tình hình an ninh trật tự làng cá
mất ổn định.
Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc khai thác thuỷ sản bằng nghề
lới Rê ở Đồ Sơn và trên cơ sở đó đề xuất một số hớng phát triển nghề khai thác
lới rê của địa phơng này là một yêu cầu thực tiễn đặt ra .
Đề tài: Đánh giá hiện trạng và đề xuất hớng phát triển nghề lới rê ở Đồ
Sơn đợc thực hiện nhằm mục tiêu:
1. Đánh giá thực trạng của nghề lới rê ở Đồ Sơn về các vấn đề
- Ng trờng, nguồn lợi;
- Tầu thuyền khai thác;
- Ng cụ Khai thác;
- Sản phẩm khai thác;
- Hiệu quả kinh tế.
20
-
21
0
01
15
vĩ độ Bắc và 106
0
23
50
đến 107
0
45
kinh độ Đông. Hải Phòng tiếp giáp
với tỉnh Quảng Ninh về phía Bắc, Thái Bình về phía Nam, Hải Dơng về phía Tây
và phía Đông ăn thông với Vịnh Bắc bộ.
Hải Phòng tuy không lớn nhng có đầy đủ các đặc điểm tự nhiên và đa dạng
các tài nguyên của cả hai vùng tự nhiên và phát triển kinh tế theo hớng tổng hợp.
Hơn nữa ở vị trí chuyển tiếp lục địa và biển lại có đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ nh
những chuyển tiếp nối vùng lộng và vùng khơi, Hải Phòng có lợi thế phát triển toàn
diện ngành thuỷ sản từ khai thác đến nuôi trồng, chế biến, hậu cần dịch vụ.
1.2. Đặc điểm tự nhiên
Ng trờng nghề cá Hải Phòng nằm trong Vịnh Bắc bộ thuộc khu vực nhiệt
đới gió mùa, ma nhiều. Nhiệt độ thấp vào những tháng mùa Đông có thể xuống
chỉ có khả năng khai thác ở vùng biển ven bờ. Hàng năm, ng trờng có độ sâu 50
m nớc trở vào ở Hải Phòng có hàng ngàn tàu thuyền địa phơng và tàu thuyền của
các tỉnh lân cận thờng xuyên đến khai thác.
Bảng 1.1: Cơ cấu tàu thuyền khai thác của ngành thuỷ sản Hải Phòng [4]
Loại tàu thuyền
Tổng số Khai thác khơi Dịch vụ
sttđịa phơng
Chiếc Mã lực CV Chiếc Mã lực
CV
Chiếc Mã lực CV
1
Huyện An Hải 132 2.111 4 375 16 586
2
Huyện Cát Hải 694 14.325 14 1600 21 992
3
T.X Đồ Sơn 312 8.800 15 6218 5 490
4
Huyện Kiến Thụy 490 8.741 9 - 0 -
5
Huyện Thuỷ Nguyên
điển hình khai thác ở đây, thập kỷ 70 là thời kỳ của nghề vây và vó ánh sáng, trong
đó các HTX nh: Cát Bà, Đồ Sơn, Cao Minh, Gia Lộc, Phù Long, Thuỷ Nguyên là
những đơn vị khai thác rất hiệu quả. Thập kỷ 80 là thập kỷ của khai thác tôm suất
khẩu, nghề lới rê trôi ba lớp và xăm đáy tôm phát triển, sang thập kỷ 90 sau khi
mở rộng thị trờng xuất khẩu tiểu ngạch với Trung Quốc, nghề lới rê và nghề câu
phát triển mạnh.
Những năm gần đây phát triển nghề chụp mực và nghề lới rê trôi. Cơ cấu
nghề nghiệp khai thác của Hải Phòng đợc thể hiện trong bảng dới đây:
Bảng 1.3: Cơ cấu nghề khai thác của thành phố Hải Phòng
TT Tên nghề Số lợng đơn vị nghề Tỷ lệ %
1 Họ lới Kéo 334 9,0
2 Họ lới Rê 1.087 29,3
3 Họ lới vó + mành 48 1,3
4 Họ Câu 502 13,6
5 Họ cố định 1.085 29,3
6 Chụp mực + Nghề khác 647 17,5
14 Qua bảng 1.3 cho thấy cơ cấu nghề nghiệp của nghề cá Hải Phòng hội tụ
đầy đủ những nghề đánh bắt trong các loại nghề ở Việt Nam. Nhng tỷ lệ giữa các
loại nghề lại không đồng đều, riêng nghề lới rê là nghề có u thế chiếm tới 29,3
%.
1.5. Năng suất và sản lợng khai thác [6 ]
Sản lợng khai thác của thành phố Hải Phòng trong gần 4 thập kỷ thay đổi
không nhiều mặc dù số lợng lao động tăng lên gấp 2 lần và tổng công suất tàu
thuyền tăng 8 lần. Đáng chú ý là năm 1996 tổng công suất tàu thuyền tăng 4,4 lần
so với năm 1976 nhng sản lợng năm đó chỉ đạt bằng năm 1976 là 16.500 tấn.
Trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay, cùng với chơng trình đóng tàu khai
- Do cơ chế quốc doanh hiện tại cha phát huy năng lực hoạt động của
Thuyền trởng và thủy thủ đoàn, cha gắn trách nhiệm của thuỷ thủ đoàn và con
tàu;
- Mẫu tàu cha phù hợp với quy trình công nghệ và giá thành còn quá lớn so
với giá trị thật của nó. Với sản lợng khai thác hết sức khiêm tốn không đủ bù chi
phí sản xuất.
1.6.2. Nghề cá nhân dân
Nghề cá nhân dân của Hải Phòng chiếm 99 % số lợng tàu thuyền và
khoảng 93 % tổng công suất, chiếm gần 99% lao động làm nghề cá và khai thác
sản lợng chiếm đến 90 %. Trong nghề cá nhân dân đã xuất hiện nhiều công ty
trách nhiệm hữu hạn, xí nghiệp t nhân. Các doanh nghiệp này phần lớn hoạt động
có hiệu quả, đóng góp đáng kể cho ngân sách địa phơng, tạo ra nhiều công việc
với những thu nhập cho ng dân.
1.7. Cơ sở hạ tầng và hậu cần dịch vụ [6 ]
Hải Phòng có hệ thống cảng cá khá hiện đại với tổng chiều dài đã xây dựng
khoảng trên 800 m. Hệ thống cảng cá của Hải Phòng có khả năng tiếp nhận tàu cá
cỡ lớn nhất nớc ta. Đó là cảng cá Cát Bà, cảng cá Ngọc Hải- Đồ Sơn, Cảng cá
Bạch Long Vĩ.
Hải Phòng có nhiều bến cá là nơi ra vào trú đậu chủ yếu tàu thuyền đánh cá
nhỏ của ng dân. Hệ thống lớn nhất là trên Vịnh Cát Bà có thể chứa đợc hàng
ngàn tàu thuyền, có 38 vị trí trú bão là các vùng cửa cống, cửa sông, áng vịnh nhỏ,
vị trí neo đậu hẹp, độ sâu thuỷ triều cạn:
- Các huyện: Cát Hải, quận Hải An, thị xã Đồ Sơn : 18 vị trí
- Huyện Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng : 20 vị trí
16
Ngoài ra tàu thuyền còn có chỗ trú lớn nh Ninh Tiếp, khu vực Bạch Đằng
(nam Phà Rừng)
Khả năng cung cấp dịch vụ của các xí nghiệp quốc doanh là rất hạn chế, do
khả năng bao tiêu sản phẩm hết sức khiêm tốn. Lĩnh vực này do trên 100 đầu nậu,
dịch vụ
Tổng số
ngời
1 Huyện Cát Hải 657 1.247 885 2.132
2 Huyện Thuỷ Nguyên 850 2.710 740 3.450
3 Huyện Tiên Lãng 244 875 210 1.085
4 Huyện An Hải 207 524 390 914
5 Thị xã Đồ Sơn 1.820 1.508 1.100 2.608
17
6 Huyện Kiến Thụy 719 1.442 544 1.986
Toàn thành phố 4.417 8.306 3.869 12.175
Lực lợng lao động khai thác thuỷ sản trực tiếp tập trung ở bốn trung tâm
lớn là Huyện Thuỷ Nguyên, huyện Kiến Thụy, thị xã Đồ Sơn và huyện Cát Hải.
Lực lợng lao động dịch vụ phục vụ nghề cá tập trung ở hai trung tâm du lịch là
huyện Cát Hải và thị xã Đồ Sơn vì số này ngoài phục vụ nghề cá còn có thể làm
phục vụ du lịch.
Riêng các làng cá ở Huyện Thuỷ Nguyên do ngoài nghề đi biển ra ng dân
không còn đất nông nghiệp hay kiếm đợc công việc khác nên số lao động làm
nghề khai thác cao nhất thành phố.
1.8.2. Tổ chức sản xuất và phân phối lợi nhuận
Trong cơ chế thị trờng hiện nay, việc thuê mớn nhân công lao động là tất
yếu. Nghề cá Hải Phòng cũng sử dụng lao động thuê mớn, nhất là trong quá trình
khai thác. Lao động thuê mớn làm nghề khai thác ở Hải Phòng rất đa dạng: họ là
họ hàng cùng làng xã, ngời từ nơi khác đến.
Đối với lao động dịch vụ, ng dân do tận dụng đợc sức lao động của gia
đình nên không phải đi thuê mớn. Do vậy, cách trả công lao động và phân chia lợi
nguận đối với lao động đối với loại hình này mang tính chất gia đình.
1.8.3. Chuyên nghề và kiêm nghề
chuồn, cá trích. Nghề lới rê thu ngừ đã đợc phát triển ở các khu vực này, nhng
gần đây do hiệu quả một số nghề nh câu vàng cá ngừ, lới vây hay lới kéo khá
hơn nên một số tàu đã chuyển nghề.
Đối tợng khai thác chủ yếu của lới rê xa bờ là cá ngừ vằn có kích thớc từ
250 450 mm, cá ngừ chấm có chiều dài từ 220 380 mm, cá thu có chiều dài từ
240 600 mm và cá nục heo có chiều dài từ 280 480 mm. Ngoài ra còn một số
đối tợng khai thác khác nh cá ngừ chù, cá vền, cá đuối, cá mập, cá cờ
Lới rê trôi khai thác các loài cá nổi di c xa nên ng trờng đánh bắt của
loại nghề này thay đổi theo mùa. Nhiều tàu lới rê khu vực miền Trung di chuyển
ra vịnh Bắc Bộ nơi có độ sâu từ 20 60 m đánh bắt cá thu vào các tháng 113 âm
lịch, các tàu khác khai thác cá ngừ và cá Nục heo ở vùng biển miền Trung nơi có
độ sâu từ 80 1000 m. Từ tháng 4 đến tháng 8, số tàu này thờng hoạt động ở vùng
biển từ Đà Nẵng đến Vũng Tàu. Các tháng có sản lợng cao thờng từ tháng 12 1
và từ tháng 7 8 hàng năm.
Đối với các tàu lới rê khai thác kiêm nghề, ng trờng hoạt động chủ yếu
19
là vùng ven bờ từ Quảng Ngãi - Khánh Hoà. Mùa vụ khai thác tập trung từ tháng
10 đến tháng 5 âm lịch hàng năm, thời gian còn lại, các tàu này chuyển sang nghề
lới kéo, lới rê tầng đáy hoặc câu vàng cá ngừ. Đội tàu lới rê ở khu vực Đông
Nam Bộ hoạt động khá ổn định và thờng ít di chuyển ng trờng khai thác hơn
các tàu lới rê ở miền Trung.
3. Ng trờng, nguồn lợi Vịnh Bắc Bộ [ 2 ]
Trong Vịnh Bắc Bộ có khoảng gần 1000 loài cá biển, nhng số lợng cá thể
mỗi loài ít. Trên 100 loài cá trong số trên có giá trị kinh tế cao. Cá nổi và cá gần
đáy chiếm u thế hơn cá đáy. Mùa hè có một số loài cá biển di c vào Vịnh ( cá
ngừ) và mùa Đông chúng di c ra khỏi Vịnh. Trữ lợng cá là 776.000 tấn, khả năng
khai thác là 378.000 tấn/năm. Vịnh Bắc Bộ là một ng trờng lớn ở nớc ta, gồm
có 6 khu vực đánh bắt cá quan trọng:
3.1. Khu biển Hải phòng - Quảng Ninh: Kéo từ Nam Hà đến Huyện Khâm
H×nh 1.2: Ng trêng khai th¸c ë vÞnh B¾c Bé
21
4. Ng trờng, nguồn lợi của nghề lới rê Đồ Sơn [1 ], [10 ]
4.1. Ng trờng
Nghề lới rê chủ yếu khai thác ở những ng trờng có độ sâu từ 25 - 50 m
nớc, đòi hỏi dòng chảy thuỷ triều lớn. Do lới rê chủ yếu khai thác các ng trờng
có chất đáy là bùn, cát, cát bùn, đáy là rạn đá hoặc san hô.
Đây là loại ng cụ khai thác các đối tợng sống ở tầng nớc gần sát đáy ít di
chuyển cũng nh di c, vì vậy để khai thác có hiệu quả đối tợng này thì lới cần
phải di chuyển trong nớc và quét qua vùng c trú của cá để đánh bắt. Ng dân đã
và cá con. Cá lợng Nhật là đối tợng khai thác của nghề lới rê, lới kéo đáy và
nghề câu.
Hình 1.4 : Cá lợng Nhật (Nemipterus japonicus)
Cá mối Vạch (Saurida undosquamis): Cá mối Vạch phân bố rộng khắp ở
các vùng biển nớc ta trong đó có ng trờng Vịnh Bắc Bộ, nơi có chất đáy là bùn,
bùn cát; địa hình đáy bằng phẳng. Vùng phân bố tập trung có độ sâu từ 51 100
m. Ban đêm cá mối sống phân tán, ban ngày tập trung thành đàn lớn ở đáy biển, là
đối tợng khai thác của nghề lới rê, nghề lới kéo đáy. Mùa đẻ kéo dài từ tháng
10 4, khi đi đẻ tập trung thành đàn di chuyển vào gần bờ và xung quanh đảo.
Thức ăn chính là cá cá con, tôm và mực.
Hình 1.5: Cá mối Vạch (Saurida undosquamis)
23
Cá Trác đỏ: ( Priacanthus hamrur): Thân hình bầu dục hơi dài, rất dẹp hai
bên, đầu to vừa phải, cao, mõm ngắn, mắt rất to, đờng kính mắt bằng chiều dài
đầu. Chiều dài thân gấp 2 lần chiều cao thân, miệng rộng co ruỗi đợc, vẩy nhỏ
phủ toàn đầu và thân, gốc vây lng thuộc phần tia cứng dài hơn nhiều phần tia
mềm, hai vây bụng rất gần nhau, gai của vây bụng rất lớn, vây đuôi lõm vào rất to,
toàn thân màu đỏ, càng về phía sau lng càng thẫm, càng về phía bụng càng nhạt
và có pha màu trắng bạc, các vây màu tối có viền đen.
Kích thớc khai thác 260 - 300 mm, khai thác bằng lới kéo đáy, rê. Mùa vụ
khai thác quanh năm.
Hình 1.8: Tôm sú ( Penaeus Monodon )
25 5. Nhận xét về thực trạng nghề cá Hải Phòng
- Nghề cá ở Hải Phòng nói chung có quy mô nhỏ, tàu thuyền bé công suất
trung bình chỉ đạt 26,88 CV/tàu, hoạt động chủ yếu ở vùng nớc ven bờ, nơi có độ
sâu < 50 m;
- Các nghề có số lợng tàu thuyền cao là nghề rê, nghề chụp mực, nghề
xăm, đáy, nghề câu;
- Số lợng tàu có công suất lớn khai thác xa bờ làm giảm áp lực khai thác
ven bờ còn rất hạn chế, các đơn vị khai thác xa bờ khai thác kém hiệu quả;
- Số lợng tàu có công suất nhỏ lớn và chỉ tập trung khai thác ven bờ nên
hiệu quả khai thác kém do nguồn lợi bị suy giảm. Trong số này số lợng tàu khai
thác rê trôi 3 lớp và nghề câu có số lợng chiếm tới 74,74% tổng số tàu thuyền;
- Nguồn lợi cá biển Vịnh Bắc Bộ đa loài nhng số lợng cá thể trong một
loài không lớn do vậy đầu t đóng mới phơng tiện lớn có công suất cao khai thác
sẽ kém hiệu quả;
- Trong những năm gần đây nguồn lợi Tôm sú đã mang lại hiệu quả kinh tế
khá cao cho nghề khai lới rê. Đó là nhờ có chơng trình thả tôm sú giống ra biển
để tái tạo nguồn lợi hàng năm của ngành thuỷ sản Hải Phòng, tuy vậy quy mô khai
thác và ng cụ khai thác là vấn đề cần phải nghiên cứu để tránh khai thác quá mức
nhằm bảo vệ và tái tạo nguồn lợi;
- Sau khi thực hiện hiêp định nghề cá vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung
Quốc các tàu cá khai thác vùng ngoài vịnh Bắc bộ có xu thế ngày càng vào gần bờ
hơn đây là nguyên nhân làm cho áp lực khai thác ven bờ ngày càng cao;
- Hầu hết các Quận, Huyện có nghề cá ở Hải Phòng đều không có Phòng,
ban Thủy sản, chỉ duy nhất có Huyện Cát Hải có Phòng Thủy sản. Việc quản lý
thủy sản đợc sáp nhập với Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn hoặc
09 71 Đề tài khai thác kiêm nghề
2003
02 07 Đề tài khai thác kiêm nghề
2004
02 09 Đề tài khai thác kiêm nghề
2005
02 09 Chơng trình khảo sát lới rê
Tổng
21 145
2. Khu vực nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu thuộc vùng biển Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía Tây đờng
phân định Vịnh Bắc bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc . Tập trung ở 3 khu vực
chính là khu vực cồn 18 ( ngoài cửa sông Hồng), khu vực xung quanh đảo Long
Châu và Bạch Long Vĩ và khu vực đảo Thợng Mai, Hạ Mai tỉnh Quảng Ninh. Tập
trung vào 2 khu vực phía Tây đờng phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và
Trung Quốc. Hai khu vực này nằm ở vùng đánh cá chung và vùng dàn xếp quá độ
theo hình dới đây:
27 H×nh 2.1 : Khu vùc nghiªn cøu
§. B¹ch Long VÜ
28
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu khoa học
phần III
kết quả nghiên cứu
1. Thực trạng tàu thuyền, nhân lực khai thác ở thị xã Đồ Sơn
1.1. Tàu thuyền khai thác
Theo thống kê tháng 5-2005 hiện thị xã Đồ sơn có 312 chiếc tàu khai thác
thuỷ sản với tổng cộng suất 8.800 CV ( trung bình công suất đạt 28,2 CV/tàu) các
phơng tiện này hiện tập trung ở các đơn vị nh sau:
- Xí nghiệp t nhân ( Hoàng Đức, Hoàng Long, Hoàng Tiến)
- Hợp tác xã Thuỷ sản: Duyên Hải 1 và Duyên Hải 2;
- Nghề cá nhân dân: Gồm các phờng Ngọc Hải, Vạn Sơn, Vạn Hơng và
xã Bàng La. Cơ cấu tàu thuyền theo bảng sau đây:
Bảng 3.1: Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất của thị xã Đồ Sơn [4 ]
TT
Tên đơn vị
Tổng
số tàu
< 33 CV 33- 89 CV
90- 300 > 300
1 Duyên Hải 1 3 - - 3 -
2 Duyên Hải 2 4 - - - 4
3 Hoàng Long 4 - - 2 2
4 Hoàng Đức 3 - - 3 -
5 Hoàng Tiến 2 - - 2 -
6 Hồng Hà 4 - - 4 -
7 P. Ngọc hải 136 53 75 8 -
8 P. Vạn Hơng 72 44 28 - -
liệu ( khai thác lới kéo càng tốn nhiều nhiên liệu hơn) nên có rất nhiều khó khăn.
Vỏ tàu bằng gỗ đóng theo mẫu truyền thống và đóng ngay tại địa phơng
với chiều dài nhỏ hơn 15 m. Máy tàu thờng đợc trang bị một đến 2 máy 15 CV.
Ngoài ra máy 15 CV còn đợc dùng để lai máy phát điện, cung cấp ánh sáng để
thu hút cá.
Trang bị hàng hải đã đợc trang bị phần lớn là máy bộ đàm, la bàn. Các tàu
có công suất lớn hơn 33 CV đợc trang bị máy định vị vệ tinh, một số tàu công
suất lớn hơn đợc trang bị máy đo sâu dò cá nhng hiệu quả sử dụng thấp chủ yếu
dùng để đo sâu.
31
1.2. Nhân lực làm nghề khai thác thuỷ sản
Đồ Sơn là khu du lịch của thành phố Hải Phòng, do đó đặc điểm của ng
dân ở vùng này, họ không gắn bó với nghề khai thác thuỷ sản mà trong gia đình họ
chỉ một vài ngời nam giới làm nghề khai thác, số còn lại làm dịch vụ lới chài và
dịch vụ du lịch. Chính vì đặc điểm này mà hiện nay, số lợng thanh niên vùng Đồ
Sơn- Hải Phòng là lực lợng thay thế cho lực lợng khai thác hiện tại không muốn
làm nghề biển, muốn đi học, hoặc ra thành phố kiếm nghề khác bởi các lý do sau
đây:
- Đi biển là nghề vất vả, cờng độ lao động cao, thu nhập thấp hơn và nặng
nhọc hơn so với các nghề khác trên bờ, thờng xuyên phải đối mặt với sự rủi ro
trên biển;
- Sản lợng và năng suất đánh bắt ngày càng giảm, do đó thu nhập từ nghề
khai thác không khuyến khích họ đi biển;
- Thanh niên ở các làng cá Hải Phòng có nhiều cơ hội để kiếm một công
việc khác có thu nhập cao hơn, cờng độ lao động ít nặng nhọc hơn;
Tuy vậy, trong vài năm trở lại đây sự phát triển du lịch ở Đồ Sơn có xu
hớng đi xuống do không thu hút đợc khách, khách du lịch đã chọn Cát Bà là nơi
đến. Do đó nghề dịch vụ du lịch ở đây phát triển chậm; đồng thời trong thời gian
qua sự phát triển mạnh du lịch và mặt trái của kinh tế thị trờng đã tác động lớn
Nghề ven bờ
Lới kéo
Lới rê
Chụp mực
N
Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu nghề khai thác ở Đồ Sơn
33
Qua biểu đồ trên đây ta thấy rằng số lợng tàu thuyền làm nghề khai thác
lới rê là 232 tàu chiến đến 60 % tổng số tàu thuyền của thị xã. Trong số các tàu
làm nghề khai thác lới rê có 76 tàu kiêm nghề chụp mực.
Trong số 232 tàu làm nghề lới rê thì Phờng Ngọc Hải có 115 tàu chiếm
49,56 %. Nh vậy Phờng Ngọc Hải là đơn vị mạnh về khai thác lới rê và chiếm
phần lớn trong cơ cấu nghề lới rê ở thị xã Đồ Sơn.
2. 2. Các mẫu lới rê ở Đồ Sơn
Trong thời gian gần đây, theo báo cáo của Phòng quản lý kinh tế Đồ Sơn và
Trạm khuyến ng liên huyện Đồ Sơn - Kiến Thụy thì hiện ng dân Đồ Sơn đang sử
dụng 03 loại lới rê có các thông số kỹ thuật khác nhau để khai thác thuỷ sản là:
Lới rê trôi 3 lớp khai thác cá tầng đáy, lới rê Hồng và lới rê trôi 1 lớp.
Qua khảo sát và quá trình đi thực tế trên biển cùng với ng dân Đồ Sơn thì
thực chất có 02 loại là: lới rê trôi 3 lớp tầng đáy ( có 02 mẫu lới thông dụng) và
mẫu lới rê trôi một lớp.
Một trong 2 mẫu lới rê trôi 3 lớp tầng đáy khai thác ở khu vực có cồn, dạn
đá đánh bắt đợc các loài cá có giá trị kinh tế cao nh cá Hồng, cá Song, cá phèn,
cá lợng và những loài cá đánh bắt đợc này có màu hồng nên ng dân quen gọi là
rê Hồng ( sau đây gọi là mẫu lới 2). Mẫu lới còn lại sau đây gọi là mẫu lới 1.
Có thể phân biệt 2 mẫu lới này nh sau:
- Điểm phân biệt của 2 mẫu lới rê này là mẫu lới 2 có số mắt lới ở chao