BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HÀNG HÓA
HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều đơn vị và cá nhân. tôi xin ghi nhận và bày
tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Ích Tân người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy. cô
trong khoa quản lý đất đai.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Hoằng Hoá,
các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng NN – PTNT, phòng tài nguyên và môi
trường, phòng thống kê và UBND các xã đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp
số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cám ơn sự cổ vũ. động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh. chị đồng nghiệp,
bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Hà Nội. ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Ngọc
1.3.2. Hàng hóa, sản xuất hàng hóa 21
1.3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa 22
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.4. Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 23
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới 23
1.4.2. Ở Việt Nam 26
1.4.3. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
ở tỉnh Thanh Hóa 28
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG 30
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 30
2.2. Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến sản
xuất nông nghiệp hàng hoá 30
2.2.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 30
2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 30
2.2.4. Định hướng và các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng
đất theo hướng sản xuất hàng hoá đến năm 2020 31
2.3. Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1. Thu thập số liệu 31
2.3.2. Phương pháp chọn điểm 31
2.3.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu, tài liệu 32
2.3.4. Phương pháp và chỉ tiêu tính hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 32
2.3.5. Phương pháp minh họa trên bản đồ 35
2.3.6. Một số phương pháp khác 35
3.6.3. Hoàn thiện hệ thống chính sách tác động đến hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp 90
3.6.4. Một số giải pháp khác 91
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 92
1. Kết luận 92
2. Kiến nghị 93
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2 CN-TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
3 CN-XDCB Công nghiệp, xây dựng cơ bản
4 CPTG Chi phí trung gian
5 GTGT Giá trị gia tăng
6 GTSX Giá trị sản xuất
7 HQĐV Hiệu quả đồng vốn đầu tư
8 HTX Hợp tác xã
9 LĐ Lao động
10 LUT Loại hình sử dụng đất
11 TM-DV Thương mại, dịch vụ
12 UBND Uỷ ban nhân dân
Hoá đến năm 2020 89
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Hoằng Hoá 36
Biểu đồ 3.1. Cơ cấu kinh tế huyện qua 3 năm (2011- 2013) 49
Biểu đồ 3.2. Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của huyện Hoằng Hoá 59
II.2 115
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết đề tài
Sau hai mươi năm đổi mới, mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
khá mạnh theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm 1998 là
46,3% và đến năm 2005 còn 20,5%; nhưng nhìn chung Việt Nam vẫn là một
nước nông nghiệp với 67% lao động nông nghiệp và 1/3 kim ngạch xuất khẩu
là từ nông nghiệp. “Nông nghiệp là nền tảng để ổn định kinh tế - xã hội”, là
một ngành quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam về phương diện việc làm
và an ninh lương thực. Trong Báo cáo tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng, đã chỉ rõ định hướng phát triển ngành nông nghiệp là: “Phải luôn coi
trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một
nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển mạnh và bền vững, có năng
hợp trong điều kiện cụ thể trên địa bàn huyện.
- Đề xuất được các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá.
2.2. Yêu cầu
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, bảo đảm
độ tin cậy và phản ánh đúng thực tiễn trên địa bàn nghiên cứu.
- Các giải pháp phải hợp lý về mặt khoa học. Đánh giá với các chỉ tiêu phù
hợp với các điều kiện của huyện. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
a. Đất nông nghiệp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, định nghĩa về
đất. Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời
do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất, đó là: sinh vật,
đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng,
1999). Sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm
và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Nhà
nông học người Anh V.R William đã đưa ra khái niệm: “Đất là lớp mặt tơi xốp của
lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây” (Lê Văn Minh, 2005).
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một
thái, nguồn nước. Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả
và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc Hùng, 2007).
- Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát
triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí,
nước và dinh dưỡng. Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí
là các yếu tố khí hậu (Hà Thị Thanh Bình và cộng sự, 2002). Chính vì thế, khí hậu
là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản
lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ
địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng
vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5
0
C, lượng mưa trung bình từ 1.500
- 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm. Trong khi đó, ở miền nam,
khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,5
0
C, lượng mưa trung
bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm. Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam
có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên chúng ta có thể đa dạng hoá các loại cây
trồng, vật nuôi. Chính vì thế, sử dụng đất cũng đa dạng và giảm được rủi ro và có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
thể trồng các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại
cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu như ở
trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp
lơ xanh ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn
gốc ôn đới thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt
Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây
thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới cho thấy gần 20% diện tích đất đai Châu Á
bị suy thoái do những hoạt động của con người. Hoạt động sản xuất nông nghiệp là một
nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất thông qua quá trình thâm canh tăng vụ đã phá
huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng (ESCAp/FAO/UNIDO (1993).
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ
thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người nông dân
ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao,
thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp phần tạo tiền đề mạnh mẽ
cho quá trình sản xuất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho
một đơn vị diện tích đất.
* Yếu tố kinh tế, xã hội
- Yếu tố con người
Con người là chủ thể của quá trình lao động, là nhân tố tác động trực tiếp tới
đất và hưởng lợi từ đất. Con người với bàn tay và khối óc của mình có thể tạo ra
những phương thức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả.
Theo thông tin của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đưa ra trong
định hướng phát triển Nông nghiệp Việt Nam: Khi dân số còn thấp, trình độ và nhu
cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn chế, hiệu quả không
cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo. Ngược lại,
ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất
nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao
hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
đất kém hơn (Trần Đình Đằng, Trần Việt Dũng và Hồ Văn Vĩnh, 2000). Việc đảm
bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Việt Nam đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới.
Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, nay đã xuất khẩu
được trên 4 triệu tấn gạo hàng hoá đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Nền nông
nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa
dạng, hướng ra xuất khẩu (Lê Văn Minh 2005).
Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín dụng
nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông
thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của những
người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá,
người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin
thị trường, sức mua Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông
nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học,
thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước,
không khí và đất. Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật
thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm
bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Đặng Kim Sơn và cộng sự, 2002).
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo ổn
định và lâu dài. Trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành, sửa đổi và bổ sung
những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất
nông nghiệp nông thôn. Luật đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003)
đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất. Đây là một chính sách khuyến
khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát
triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả (Nguyễn Văn Nam, 2005).
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng Hiến pháp, pháp luật công
nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được
quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều
đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự
bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải
được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ
tương lai. Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường. Vì
vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi
trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản
xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và
hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
1.2. Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Quan điểm về hiệu quả
Trong thực tế, các thuật ngữ “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không có hiệu
quả” hay là “sản xuất kém hiệu quả” thường được sử dụng phổ biến trong sản xuất. Vậy
hiệu quả là gì? Đến nay, các nhà nghiên cứu xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, đã đưa
ra nhiều quan điểm về hiệu quả, có thể khái quát như sau:
- Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc “Tiết kiệm và phân phối một
cách hợp lý”, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng đó là sự tăng trưởng kinh tế thông qua
tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng được
yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội (Nguyễn Văn Bích, 2007);
- Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể
tăng một loại hàng hoá mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác. Một nền kinh
tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều
nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc “Khi sản xuất có
hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên giới hạn khả năng sản
xuất” (Nguyễn Văn Bích, 2007).
- Quan điểm khác lại khẳng định “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan hệ
mục đích của đơn vị sản xuất từ đó đánh giá theo những giác độ khác nhau cho phù
hợp. Tuy vậy, mọi quan niệm về hiệu quả kinh tế đều toát lên nét chung nhất đó là
vấn đề tiết kiệm các nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa.
1.2.2. Phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là hiệu quả do tổ chức và bố trí sản xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
hợp lý để đạt được lợi nhuận cao với chi phí thấp hơn, là tiêu chí được quan tâm
hàng đầu, khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác. Có khả năng lượng hoá
bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính (Lê Ngọc Dương, Trần Công Tá, 1999).
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều
tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được
một trong hai yếu tố hiệu quả hay hiệu quả phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa
phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực
đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả
kinh tế.
- Hiệu quả xã hội: Là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người
với con người, có tác động tới mục tiêu kinh tế. Hiệu quả xã hội được thể hiện bằng
các chỉ tiêu định tính hoặc định lượng.
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và
tổng chi phí bỏ ra (Phạm Duy Ưng, Nguyễn Khang, 1993).
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu bằng khả năng tạo
việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995).
- Hiệu quả môi trường: là hiệu quả đảm bảo tính bền vững cho môi trường
trong sản xuất và xã hội. Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được nhân loại quan
tâm, được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật.
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá
học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường.
- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào và theo
nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định.
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những
người sống bằng nông nghiệp. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải tuân theo
quan điểm sử dụng đất bền vững.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần
thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất để trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Các nhân tố
ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
- Điều kiện tự nhiên: bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa
hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước…Chúng có ảnh hưởng một
cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc
Hùng, 2007).
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, … quyết định
đến chất lượng đất và sử dụng đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất.
+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện
quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh
vật sinh trưởng và phát triển.
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng
là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi.
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ,
nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,… sẽ quyết định đến khả năng
- Yếu tố tổ chức, kỹ thuật: đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong
quy hoạch sử dụng đất, một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội. Quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện
kinh tế - xã hội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng,
vật nuôi cho phù hợp. Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng, gia
súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao.
1.2.5. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất
nông nghiệp.
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: