1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ,
chỉ dẫn nhiệt tình của thầy cô, anh chò hướng dẫn. Nhân đây cho phép tôi
được gởi lời cảm ơn sâu sắc đến:
• Ban chủ nhiệm khoa Nuôi Trồng Thuỷ Sản, các thầy cô trong bộ môn Hải Sản
đã tạo cơ hội, thời gian cho chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
• Th.s Đào Văn Trí - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển nuôi biển
Sông Lô, Th.s Nguyễn Đòch Thanh đã hướng dẫn nhiệt tình và tạo mọi điều kiện tốt
nhất giúp hoàn thành đề tài.
• Các anh, chò kó sư, cán bộ công nhân viên của Trung tâm Nghiên cứu và phát
triển nuôi biển - Sông Lô, đã tận tình chỉ dẫn chu đáo trong suốt thời gian thực tập tại
Trung tâm.
• Cảm ơn các anh chò trong trung tâm đã giúp đỡ về trang thiết bò nghiên cứu, đo
đạc, các cơ sở vật chất khác, giúp tôi hoàn thiện đề tài.
Nha Trang, tháng 11 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Võ Thò Thu Em
2
thích hợp trong ương nuôi ấu trùng. Đồng thời giúp hoàn thiện và ổn đònh
quy trình sản xuất giống nhân tạo, nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng
nguồn giống chất lượng tốt cho người nuôi. Ngoài ra nâng cao hiểu biết về
đặc điểm sinh học, sinh thái của đối tượng này.
Do thời gian và trình có hạn nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót
tránh khỏi, mong được sự góp ý của quý thầy cô, các anh chò hướng dẫn
cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện.
4
PHẦN 1 : TỔNG LUẬN
I.MỘT VÀI HIỂU BIẾT VỀ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
1.Phân loại, phân bố:
1.1. Phân loại:
Các loài gần với tôm Chân Trắng: Litopenaeus setiferus, Litopenaeus
stylirostris. Ở Châu Á, tôm Chân Trắng gần giống với tôm he Trung Quốc
(Penaeus chinensis) và tôm thẻ của Việt Nam (Penaeus merguiensis) thân
không có đốm vằn, chân bò màu trắng ngà…[16]
2.2. Đặc điểm sinh thái:
Trong tự nhiên tôm Chân Trắng phân bố ở nơi đáy cát, độ sâu 0 - 72
m nước, nhiệt độ nước ổn đònh từ 25 - 32
o
C, độ mặn từ 28 - 34 ppt, pH từ
7.7 - 8.3. Tôm trưởng thành phần lớn sinh sống ở ven biển gần bờ, tôm con
ưa sống ở khu vực cửa sông, nơi giàu sinh vật phù du.
Tôm Chân Trắng thích nghi tốt với sự thay đổi đột ngột của môi
trường sống. Thích nghi với độ mặn 5 - 50 ppt, thích hợp nhất 10 - 40 ppt,
khi độ mặn dưới 5 ppt hoặc trên 50 ppt tôm bắt đầu chết dần. Thích nghi
với nhiệt độ: 25 - 32
o
C. Tôm chết dần khi nhiệt độ giảm dưới 9
o
C và chết
sau 2 giờ khi nhiệt độ tăng lên 41
o
C.[16]
2.3.Tính ăn :
Là loài ăn tạp, thức ăn của tôm Chân Trắng cần một tỷ lệ thích hợp
các thành phần dinh dưỡng như protid, glucide, lipid, Vitamin và muối
khoáng… Dinh dưỡng thiếu hoặc không cân đối sẽ ảnh hưởng đến tốc độ
sinh trưởng của tôm. Khả năng chuyển hoá của tôm rất cao, có nhu cầu
protein thấp hơn các loài tôm he khác.[4]
2.4. Đặc điểm sinh sản:
khoảng 25 – 30
o
C, tốt nhất 27 – 29
o
C. Ở nhiệt độ thấp hơn 25
o
C (trừ một
vài loài chòu nhiệt thấp như P. chinesis, P. sertiferus) đều bất lợi cho tôm,
làm tôm giảm ăn, sinh trưởng chậm. Nhiệt độ cao trong khoảng 30 – 33
o
C
7
tôm sinh trưởng nhanh, thời gian lột xác nhanh nhưng dễ bò nhiễm bệnh.
Nhiệt độ lớn hơn 34
o
C sẽ gây nguy hiểm cho tôm. Riêng yếu tố độ mặn có
thể thấy mức độ ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm ít hơn so
với nhiệt độ. [1].
1. Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn lên tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng
Theo FAO, chất lượng nước tốt nhất sử dụng cho tôm Chân Trắng
sinh sản nhân tạo phải được xử lý qua tia cực tím và duy trì ở nhiệt độ 28 –
29
o
C, độ mặn 30 – 35 ppt sẽ cho tỷ lệ đẻ tôm mẹ cao. Khi ấp nở nên cho
trứng vào bể với mật độ ấp 4.000 trứng /m
3
nước, lúc này cần duy trì nhiệt
độ từ 29 – 32
34
o
C thời gian phát triển của 3 loài Penaeus plebejus, Metapenaeus
8
macleayi và M. bennetae đều giảm. Ở giai đoạn M,ø Z kích thước giảm thang
nhiệt độ 19
o
C, 34
o
C và tăng ở nhiệt độ 24
o
C, 29
o
C.[20]
Theo Zein- Eldin và Aldrich theo dõi tốc độ sinh trưởng PL tôm
Penaeus aztecus thấy chiều dài và khối lượng tăng mạnh ở nhiệt độ 25-
32
o
C, giảm mạnh ở nhiệt độ 11
o
C và 18
o
C ở bất kỳ điều kiện độ mặn nào.
Nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của nhiệt độ lên tốc độ tăng trưởng mạnh
hơn nhiều so với ảnh hưởng của độ mặn. [20]
Theo tổ chức FAO : mặc dù tôm Chân Trắng có thể sống ở khoảng
nhiệt độ dao động rộng nhưng khoảng thích hợp là 23 – 30
o
C và 30 ppt.[20]
Theo nghiên cứu Rajya Lakshm và Chandara (1987) thí nghiệm về
sinh trưởng của ấu trùng Penaeus monodon. Trong điều kiện nhiệt độ từ 28
9
–32
o
C, cho thấy tốc độ sinh trưởng theo độ mặn được sắp xếp theo thứ tự
15ppt >20 ppt >0 ppt [20].
Zein- Eldin và Aldrich (1995), nghiên cứu về độ mặn ảnh hưởng lên
PL tôm Penaeus aztecus. Ởû nhiệt độ 25-32
o
C với các thang độ mặn từ 2-
35ppt, tốc độ tăng trưởng về chiều dài ở các thang dộ mặn tăng dần 35ppt,
tuy nhiên mức độ tăng không rõ ràng.[20]
Trong báo cáo của William A.Bray et Addison L.Lawrence (1992)
đã nhận đònh rằng: nhiệt độ từ 27 – 29
o
C được xem là nhiệt độ phát triển
bình thường của tôm. Nếu dưới 29
o
C làm giảm khả năng sinh trưởng và
phát triển của hầu hết các loài tôm. Bàn luận về yếu tố độ mặn ông cho
rằng: độ mặn từ 28 - 36 ppt là khoảng thích hợp cho hầu hết các loài tôm.
[18]
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến ấu
trùng tôm ở Việt Nam :
Theo Đoàn Văn Đẩu và cộng tác viên (1989) trong nghiên cứu kó
thuật, công nghệ sản xuất tôm giống các loài tôm biển thuộc giống tôm he.
PL
8
(giờ)
253±10.23 245±9.25 240±8.56 231±6.87
Tỷ lệ sống (%) 34.67±10.65
45.78±9.98
55.06±9.81
63.35±8.34Bảng 2 : nh hưởng của độ mặn đến phát triển của ấu trùng
Độ mặn thí nghiệm (ppt).
Chỉ tiêu
25 – 26 27 - 28 29 - 30 31 - 32
Thời gian biến thái từ
trứng đến Nauplius.(
giờ)
25±4.16 23±5.04 19±3.03 17±2.3
Thời gian biến thái từ Z
1
–
PL
8
(giờ)
được độ mặn với biên độ lớn (0.5 - 45 ppt); nuôi được trong nước ngọt; chòu
được nhiệt độ thấp (nhỏ hơn 15
o
C). Do đó có thể nuôi vào mùa đông, đặc
biệt dễ nhân giống và thuần hoá. Vì vậy hạn chế được các vấn đề liên
quan đến việc thu gom tôm bố mẹ hoặc hậu ấu trùng ở ngoài tự nhiên.[7]
Là đối tượng rộng muối, rộng nhiệt. Do đó mô hình nuôi chúng
phong phú như nuôi tôm thương phẩm tôm Chân Trắng ghép với cá nước
ngọt trong ao nuôi cá ở Trung Quốc, hoặc nuôi tôm Chân Trắng ở ruộng
lúa [10]. Trung Quốc đã thử nghiệm nuôi tôm trong ao nước ngọt hoàn toàn
và cho kết quả nuôi tốt. Như vậy qua kinh nghiệm nuôi của các nước nuôi
tôm Chân Trắng trước nước ta. Chúng ta có thể nghiên cứu điều kiện tự
nhiên của Việt Nam xem có phù hợp để nuôi đối tượng này với nhiều hình
thức khác nhau trong môi trường nước ngọt, mặn, lợ hay không.
Các nước Châu Á dẫn đầu về sản xuất tôm nuôi của thế giới. Riêng
tôm he Chân Trắng chiếm 42% sản lượng toàn cầu, tương đương với tôm
Sú. Tôm Chân Trắng đã đạt 33% sản lượng tôm nuôi của Châu Á năm
2003 chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan và Inđônexia. Mặc dù hiện nay tôm
Sú vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong sản xuất tôm nuôi ở Châu Á với
khoảng 50% sản lượng, nhưng dự đoán trong 2 năm tới, hầu hết các nứơc
12
Châu Á sẽ mở rộng việc nuôi tôm Chân Trắng. Trong số 390.000 tấn tôm
nuôi ở Trung Quốc năm 2003 có khoảng 60% là tôm Chân Trắng. Năm
2004 Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển nuôi tôm, tăng sản lượng lên trên
400.000 tấn chủ yếu tôm Chân Trắng. Thái Lan, Inđônêxia, Philippines,
Ấn Độ phát triển mạnh đối tượng này.[17]
Việt Nam đa dạng hoá các loài tôm nuôi bằng việc nuôi tôm Chân
Trắng, năm 2003 nước ta đã sản xuất 15.000 tấn, năm 2004 đạt hơn 40.000
năng suất bình quân 6 tấn/ha/vụ [15].
3.Tình hình sản xuất tôm giống
Nguồn giống người nuôi sử dụng chủ yếu là di nhập từ Mỹ, Trung
Quốc, Đài Loan. Tuy nhiên việc di nhập không được kiểm dòch chặt chẽ
nên xảy ra nhiều hiện tượng tôm chết do nguồn giống không đảm bảo sạch
bệnh[7]. Từ thực tế như vậy, để chủ động được nguồn giống đạt chất lượng,
đáp ứng được nhu cầu sản xuất của người dân và hoàn thiện qui trình sản
xuất giống nhân tạo đối tượng này. Năm 2002 đã bắt đầu nghiên cứu sâu
hơn về đối tượng này qua đề tài Bộ Thuỷ sản giao cho Viện nghiên cứu
nuôi trồng Thuỷ sản III: ‘’ Áp dụng kó thuật sản xuất giống và cơ sở khoa
học phục vụ quy hoạch vùng nuôi tôm Chân Trắng’’. Nhằm hoàn thiện qui
trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm Chân Trắng, đồng thờitrên
cơ sở qui hoạch vùng nuôi đối tượng này một cách hợp lý.
Đáp ứng nguồn giống cho người nuôi, các nứơc đã tiến hành sản xuất
giống nhân tạo, thể hiện ở bảng sau:
14Bảng 3: Sản xuất giống các loài tôm và tôm Chân Trắng ở các nước
Châu Á năm 2002 [16].
Nước và lãnh
thổ
Số trại giống
tôm Chân
Trắng
Số trại
giống
tôm
khác
15
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Đòa điểm: Tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nuôi biển - Sông Lô-
Nha Trang.
Thời gian: từ ngày 30/ 08 đến 20/ 11/ 2005.
II. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu trên trứng và ấu trùng của tôm Chân Trắng (Litopenaeus
vannamei (Boone, 1931)), trứng và ấu trùng được lấy từ Viện nghiên cứu
Nuôi trồng Thủy sản III - 33 Đặng Tất – Nha Trang.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Chuẩn bò thiết bò và dụng cụ thí nghiệm:
§ Xô nhựa (5L), số lượng 9 cái.
§ Bể composite có thể tích 300L, số lượng 9 cái.
§ Hộp lồng, số lượng 18 cái
§ Phòng thí nghiệm (có mái che).
§ Các dụng cụ cần thiết khác.
Cách bố trí dụng cụ và chuẩn bò thí nghiệm:
Vệ sinh bể và phòng thí nghiệm bằng cách, dùng xà phòng để chà bể
và phòng. Tiếp theo rửa lại bằng nước ngọt cho sạch hết xà phòng. Để bể
khô sau đó tạt chlorine (50 - 100ppm), đậy bạt khoảng vài ngày tiếp tục
rửa bể bằng nước ngọt cho hết mùi chlorine. Tiếp theo phun phormon, đậy
bạt để vài ngày, rửa lại bằng nước ngọt (hết mùi phormon). Qua khâu vệ
sinh như vậy chúng ta cấp nước vào bể để tiến hành thí ngiệm được.
Đo pH: bằng máy đo pH
Đo độ mặn: bằng Sali kế
Đo nhiệt độ bằng nhiệt kế
4.Phương pháp xác đònh sự phát triển, tốc độ sinh trưởng của trứng và
ấu trùng:
4.1 Trứng
Quan sát trứng từ lúc đẻ ra đến lúc nở, bằng kính hiển vi để xác đònh
tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của trứng
Chuẩn bò thò nghiệm: Nứơc được lấy từ bể đẻ, sau đó cho vào 9 hộp
lồng (đã được vệ sinh sạch), đặt các hộp lồng vào khay. Điều khiển nhiệt
độ ở các thang 26 - 27
o
C, 28 - 29
o
C, 30 - 31
o
C, bằng cách cho nước sôi vào
các khay, khi nhiệt độ nước trong các hộp lồng hạ xuống dưới mức thí
nghiệm.
Đối với thí nghiệm về ảnh hưởng của độ mặn đến sự phát triển của
trứng: được bố trí ở các mức 26 ppt, 28 ppt, 30 ppt, pha đô mặn theo công
thức ở mục V.
4.2. Ấu trùng
Các thang nhiệt độ: 26 - 27
o
C, 28 - 29
o
C, 30 - 31
o
C; độ mặn là Hình 4: Cân chân không 19
Cách lấy mẫu để cân: Thu mẫu trong bể thí nghiệm (khoảng 50-100
con) sau đó cho mẫu vào giấy thấm cho hết nước từ đó lấy ấu trùng cho
vào cân để cân. Đếm số con cân được sau đó tính được trọng lượng trung
bình của một ấu trùng (chỉ cân ấu trùng ở Postlarvae1, 5, 10).
+ Tỷ lệ sống: Xác đònh ở các giai đoạn Zoea1, 3; Mysis 1, 3;
Postlarvae 1, 5, 10.
5. Chăm sóc và quản lý:
* Mật độ ương nuôi: 125 Nauplius/L
• Chế độ cho ăn: theo bảng 4
Thức ăn tổng hợp(mg/l)
Giai đoạn
Tảo tươi
(*10
4
tb/ml/lần)
Tảo khô
Lansy Frippak
không thêm nước tuy nhiên đến Postlarvae ta thêm nước ngọt nhằm giảm
độ mặn đến 28 ppt.
20
Nước cấp vào phải đảm bảo các yếu tố môi trường phù hợp với môi
trường trong bể thí nghiệm.
6.Phòng và trò bệnh: phòng bệnh là chính, quan trọng nhất phaiø giữ vệ
sinh thật tốt trong suốt quá trình ương nuôi.
Các loại bệnh thường gặp ở tôm Chân Trắng trong quá trình ương
nuôi: bệnh do nấm, vi khuẩn, protozoa, virus gây ra.
IV. BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM:
1. Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn đến tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở ø của trứng:
Dụng cụ thí nghiệm: hộp lồng, kính hiển vi.
Bố trí theo sơ đồ khối 1:
Tỷ lệ nở
Thay đổi độ mặn
Mật độ 100 trứng/hộp lồng
Độ mặn: 32ppt
pH: 7.2 – 7.7
Hộp lồng
Nhận xét và kết luận 21
Cách xác đònh tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở:
Tỷ lệ thụ tinh xác đònh bằng việc quan sát sự phân cắt của trứng dưới
kính hiển vi. Công thức tính ở mục V
2. Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng,
thời gian chuyển giai đoạn của ấu trùng :
Thể hiện theo sơ đồ khối 2: mỗi lô thí nghiệm lặp lại 3 lần
Thời gian chuyển giai đoạn
Tỷ lệ sống
Tốc độ tăng trưởng
Thay đổi độ mặn
Mật độ 125N/L
Độ mặn: 32ppt
pH: 7.2 – 7.7
Mật độ 125 N/L
Nhiệt độ:29 – 30
o
C
pH: 7.2 – 7.7
Nhận xét va økết luận 22
Bảng 6: Mật độ ương nuôi.
Bể 1 2 3
Mật độ(N
4
/L) 125 125 125
∑ số trứng thụ tinh
x 100%∑ khối lượng
• Khối lượng/ con =
∑ số con
* Công thức pha độ muối:
V
1
N
1
=V
2
N
2
23
Với: V
1
,N
1
: Thể tích và nồng độ muối của nước biển
V
2
1
=
N
1
Ấu tr
ùng
Tr
ứng
26
-
27
o
C 28
-
29
o
C 30
-
31
o
C
26 ppt 28 ppt 30ppt
K
ết luận, đánh giá kết quả thử nghiệm
1
đến
N
5
dinh dưỡng bằng noãn hoàng. Nauplius bơi đứt đoạn (bơi không liên tục)
và không đònh hướng. Các giai đoạn phụ này được phân biệt dựa vào số
lượng gai đuôi. 25
Giai đoạn Zoea (Protozoea):
Sau 36÷48 giờ, Nauplius lột xác chuyển sang giai đoạn Zoea. Ở giai
đoạn này cơ quan tiêu hoá tương đối hoàn chỉnh, ấu trùng bắt đầu sử dụng
thức ăn ngoài, chủ yếu là phytoplankton. Phương thức bắt mồi là ăn lọc.
Ấu trùng có tính hướng quang mạnh, bơi liên tục và có đònh hướng. Cơ thể
ấu trùng tạm chia thành: phần đầu, phần ngực, phần bụng và phân biệt dựa
vào sự phát triển của gai lưng và gai bên hông tại các đốt trên phần bụng.
Thời gian của mỗi giai đoạn phụ là 24 - 28 giơ.ø Thời gian chuyển giai
đoạn nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiệt độ, chất lượng nước, số lượng,
chất lượng thức ăn và tình trạng sức khỏe của ấu trùng. Sự khác biệt về
hình thái của mỗi giai đoạn phụ như sau:
Hình 9: Ấu trùng Zoea
Zoea 1 có kích thước gấp đôi Nauplius, chiều dài thân xấp xỉ 1.0 mm,
xuất hiện điểm mắt. Hệ thống tiêu hoá chạy dọc từ miệng đến hậu môn ở
cuối sau cơ thể, có thể nhìn thấy thức ăn trong ruột. Phần ngực có 6 đốt