nghiên cứu nhu cầu tham quan các làng nghề tại khánh hòa của du khách quốc tế - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA
KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN QUẢN TRỊ DU LỊCH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đề tài:

NGHIÊN CỨU NHU CẦU THAM QUAN CÁC LÀNG NGHỀ
TẠI KHÁNH HÒA CỦA DU KHÁCH QUỐC TẾ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Phùng Thanh Tú

Xin trân trọng cảm ơn!

Nha Trang, tháng 6 năm 2012

Tác giả

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Kết cấu của đề tài
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH
1.1 Một số khái niệm về du lịch
1.1.1 Du lịch
1.1.2 Khách du lịch
1.1.3 Phân loại khách du lịch
1.1.4 Khách du lịch quốc tế

2.1.2 Làng gốm Lư Cấm, Ngọc Hiệp, Nha Trang
2.1.3 Làng đúc đồng Diên Khánh
2.1.4 Làng nghề bánh tráng, bánh in Diên Khánh
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham quan các làng
nghề tại Khánh Hòa
2.2.1 Một số thông tin liên quan đến du lịch Khánh Hòa
2.2.2 Thông tin chung về kết quả điều tra nhu cầu tham quan của du khách
quốc tế đối với các làng nghề tại Khánh Hòa
2.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham quan các làng nghề
tại Khánh Hòa của du khách quốc tế
2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch làng nghề tại Khánh
Hòa
2.2.4.1 Những mặt tích cực
2.2.4.2 Những mặt hạn chế
Chương 3: Một số giải pháp nhằm khôi phục và phát triển các làng
nghề phục vụ du lịch Khánh Hòa
3.1 Định hướng phát triển du lịch làng nghề của tỉnh Khánh Hòa giai
đoạn 2012 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
3.2 Một số giải pháp phát triển du lịch làng nghề tại Khánh Hòa
3.2.1 Đối với sản phẩm tại làng nghề
3.2.2 Đối với nguồn nguyên liệu cho các làng nghề
3.2.3 Đối với cơ sở hạ tầng của làng nghề
3.2.4 Đối với nguồn nhân lực của làng nghề
3.2.4.1 Nguồn lao động trực tiếp
3.2.4.2 Nguồn lao dộng gián tiếp
3.2.5 Đối với các chương trình du lịch làng nghề
3.2.6 Chính sách quảng bá, xúc tiến du lịch làng nghề
3.2.7 Phát triển thị trường của các làng nghề
3.2.8 Đầu tư phát triển làng nghề
Hạn chế của đề tài

chức Lữ hành chính thức
3 WTO
World Tourism
Oragnization
Tổ chức Du lịch Thế giới
4 LN League of Nations Liên hiệp các quốc gia
5 UNSC
United Nations Statistical
Commission
Hội đồng Thống kê Liên
Hợp Quốc
6 NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn
7 THCS Trung học cơ sở
8 THPT Trung học phổ thông
9 CĐ Cao đẳng
10 ĐH Đại học
11 XHCN Xã hội chủ nghĩa
12
Sở
VHTTDL

Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

Hình 1.1 Tháp nhu cầu Maslow
Hình 1.2 Hành vi mua của người tiêu dùng du lịch
Hình 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

phẩm
Bảng 2.18 Địa điểm mua hàng của du khách quốc tế khi đến Khánh Hòa 1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Nền kinh tế thế giới đã và đang chứng kiến sự bùng nổ của các ngành
dịch vụ nói chung và ngành du lịch nói riêng. Du lịch đã và đang trở thành
một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. Không chỉ
chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập quốc dân, du lịch còn được xem là nhân tố
thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như giao thông vận tải, nông
nghiệp, công nghiệp chế biến,…Quan trọng hơn, du lịch còn là cầu nối giao

năm 2011).
Hiện nay, du lịch làng nghề đang là một hướng phát triển du lịch ở
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh những lợi ích về
kinh tế, xã hội, loại hình du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những
bản sắc văn hóa độc đáo của từng địa phương. Nắm bắt được xu thế đó, tại
Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh Khánh Hòa lần thứ XV cũng đã nhấn mạnh:
“Khánh Hòa cần phát triển mạnh ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi
nhọn tương xứng với tiềm năng và lợi thế của mình, để làm cho Khánh Hòa
trở thành địa điểm du lịch uy tín, hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế”.
Trong đó, tỉnh cũng đặc biệt chú trọng đến du lịch văn hóa và phát triển các
sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Toàn tỉnh hiện có hơn chục làng nghề truyền
thống, với khoảng 3.550 cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong các lĩnh
vực ngành nghề nông thôn. Một số làng nghề đã có truyền thống lâu đời như
đúc đồng, làm bánh bún (huyện Diên Khánh), dệt chiếu cói (thành phố Nha
Trang, thị xã Ninh Hòa), làm gốm (thành phố Nha Trang, huyện vạn Ninh),…
Mặt khác, khách du lịch mà đặc biệt là khách quốc tế ngày càng có
nhiều nhu cầu khám phá và tìm hiểu cuộc sống làng quê Việt Nam, tìm hiểu
3

phong tục tập quán, những làng nghề, nhà cổ,… Nhận thức được tiềm năng
to lớn này, một số doanh nghiệp lữ hành tại Nha Trang đã đưa vào một số
chương trình du lịch làng quê kết hợp với tìm hiểu các làng nghề, thăm nhà cổ
hay du ngoạn trên sông Cái,…nhằm làm phong phú thêm các điểm đến và thu
hút khách quốc tế.
Tuy nhiên, các làng nghề tại Khánh Hòa hiện nay đang đứng trước
nhiều khó khăn do thiếu thị trường tiêu thụ, quy mô nhỏ lẻ, thiếu vốn, kỹ
thuật còn thô sơ, tình trạng ô nhiễm môi trường,… Bên cạnh đó, chương trình
du lịch tại các làng nghề chưa nhiều, chưa thực sự tạo dấu ấn riêng và mang
tính chuyên nghiệp trong lòng du khách, doanh thu mang lại chưa cao,…tạo
ra nhiều thách thức cho việc phát triển du lịch làng nghề.

tích các kết quả nghiên cứu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia thành 3
chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nhu cầu của khách du lịch.
Chương 2: Nghiên cứu nhu cầu tham quan các làng nghề tại Khánh
Hòa của du khách quốc tế.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm khôi phục và phát triển các làng
nghề phục vụ du lịch tại Khánh Hòa. 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH
1.1 Một số khái niệm về du lịch
1.1.1 Du lịch
Từ Du lịch (Tourism) xuất hiện sớm nhất trong quyển Từ điển Oxford
xuất bản năm 1811 ở Anh với hai ý nghĩa là đi xa và du lãm.
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO) thì du
lịch là hành động du hành đến một nơi khác với một địa điểm cư trú thường
xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, nghĩa là không phải để
làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì du lịch bao gồm tất cả các
hoạt động của những người du hành, tạm trú, nhằm mục đích tham quan,
khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư
giãn; cũng như hành nghề trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm,
ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục
đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong
môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch tổ chức tại Roma, Italia từ

Khoa Du lịch và Khách sạn, trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
đã tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và
ở Việt Nam trong thời gian qua và đưa ra quan điểm “Du lịch là một ngành
kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao
đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu
về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác
của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã
hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”.
7

Như vậy các khái niệm trên đã làm rõ du lịch là một hoạt động có nhiều
đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức
tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại vừa có đặc điểm
của ngành văn hóa - xã hội.
1.1.2 Khách du lịch
Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “khách du
lịch” là nhân tố quyết định. Nếu xét trên góc độ thị trường thì “khách du lịch”
chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinh doanh du lịch là “cung thị
trường”. Tuy nhiên, để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở tin cậy các tổ
chức quốc tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch đã đưa ra một số định
nghĩa:
Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (LN) về khách du lịch nước
ngoài (năm 1937): “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú
thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ”.
Định nghĩa của Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức
(IUOTO) về khách du lịch quốc tế có hai điểm khác so với định nghĩa trên là
“Sinh viên và những người đến học ở các trường cũng được coi là khách du
lịch” và “Những người quá cảnh không được coi là khách du lịch trong hai
trường hợp, hoặc là họ hành trình qua một nước không dừng lại trong thời
gian vựt quá 24 giờ, hoặc là họ hành trình trong khoảng thời gian dưới 24 giờ

Thứ ba, thời gian lưu lại nơi đến ít nhất là 24 giờ (hoặc có sử dụng ít
nhất một tối trọ), nhưng không được quá một năm (cũng có quốc gia quy định
thời gian này ngắn hơn). Như vậy, những người lưu lại trong ngày (không sử
dụng một tối trọ nào) chỉ được thống kê là khách tham quan đối với nơi đến.
Tóm lại, các định nghĩa nêu trên về khách du lịch tuy ít nhiều có những
điểm khác nhau song nhìn chng chúng đều đề cập đến ba khía cạnh sau:
9

Thứ nhất, đề cập đến động cơ khởi hành (có thể đi tham quan, nghỉ
dưỡng, thăm người thân, kết hợp kinh doanh,… trừ động cơ lao động kiếm
tiền);
Thứ hai, đề cập đến thời gian (đặc biệt chú trọng đến sự phân biệt giữa
khách tham quan trong ngày và khách du lịch là những người nghỉ qua đêm
hoặc sử dụng một tối trọ);
Thứ ba, đề cập đến những đối tượng được liệt kê là khách du lịch và
những đối tượng không được liệt kê là khách du lịch như: dân di cư, khách
quá cảnh,…
1.1.3 Phân loại khách du lịch
Sau khi đã tìm hiểu về định nghĩa khách du lịch thì việc phân loại
khách du lịch sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu
và thống kê các chỉ tiêu về du lịch.
Ngày 4/3/1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), Hội
đồng thống kê Liên hợp quốc (UNSC) đã công nhận những thuật ngữ sau để
thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
Khách du lịch quốc tế bao gồm:
- Khách du lịch quốc tế đến: gồm những người từ nước ngoài đến du
lịch tại một quốc gia khác.
- Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài: gồm những người đang sống
trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài.
- Khách du lịch trong nước: gồm những người là công dân của một

doanh, từ đó việc kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ hiệu quả hơn.
1.1.4 Khách du lịch quốc tế
1.1.4.1 Khái niệm
11

Năm 1937, Ủy ban thống kê Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về khách
du lịch quốc tế như sau: “Du khách quốc tế là những người thăm viếng một
quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất
là 24 giờ”.
Pháp lệnh du lịch của việt Nam năm 1999 nêu rõ: “Khách du lịch quốc
tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam
đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
Từ khái niệm trên ta thấy rằng, những người được coi là khách du lịch
quốc tế bao gồm:
- Những người đi vì lý do giải trí, lý do sức khỏe, gia đình,…
- Những người tham gia các hội nghị, hội thảo của tổ chức quốc tế, các
đại hội thể thao,…
- Những người đi với mục đích kinh doanh công vụ (tìm hiểu thị
trường, kí kết hợp đồng,…)
Những người không được coi là khách quốc tế bao gồm:
- Những người đi sang nước khác hành nghề, những người tham gia
vào các hoạt động kinh doanh ở các nước đến.
- Những người nhập cư
- Các học sinh, sinh viên đến để học tập
- Những người dân ở vùng biên giới, những người cư trú ở một quốc
gia và đi làm ở một quốc gia khác.
- Những người thường xuyên qua một quốc gia và không dừng lịa cho
dù cuộc hành trình kéo dài trên 24 giờ.
1.1.4.2 Đặc điểm khách du lịch quốc tế
Khách du lịch quốc tế được xem là phân khúc quan trọng nhất của hoạt

tiếp bạn bè, xã hội…
13

4.

5. Nguồn: A.H. Maslov, A Theory of Human Motivation, Psychological
Review 50 (1943): 370-96
14

thuộc vào nhu cầu đặc trưng của con người (nhu cầu tự khẳng định bản
thân,…). Nhu cầu đặc trưng là nhu cầu cơ bản chi phối các loại nhu cầu khác.
Ngay cả nhu cầu thiết yếu (nhu cầu sinh lý) của khách du lịch cũng phụ thuộc
vào nhu cầu đặc trưng (nhu cầu tinh thần) của họ.
Theo tác giả Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh (1995) thì “nhu cầu
du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người, nhu cầu này
được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và
các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định nhận thức, giao
tiếp)”.
1.2.1.2 Các loại nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch rất đa dạng, thỏa mãn nhu cầu du lịch cũng đồng nghĩa
với thỏa mãn tất cả các nhu cầu của khách trong hoạt động du lịch, có nhiều
cách phân loại nhu cầu du lịch nhưng phổ biến nhất gồm có 5 loại:
Thứ nhất, nhu cầu vận chuyển
Nhu cầu vận chuyển là những đòi hỏi tất yếu về các phương tiện, dịch

nếu là đòi hỏi thường nhật thì thường mang tính nề nếp, khuôn mẫu trong
những điều kiện và môi trường quen thuộc; còn lưu trú tại nơi du lịch thì
không những đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà còn đòi hỏi thỏa mãn những yếu
tố tâm lý, tinh thần khác của du khách.
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu lưu trú là hệ thống các cơ sở lưu trú như:
khách sạn, nhà nghỉ, làng du lịch, resort (khu nghỉ dưỡng tổng hợp), tàu du
lịch, bãi cắm trại, homestay (nhà dân cho khách thuê ở cùng), Dưới đây là
một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu lưu trú của khách du lịch:
- Khả năng thanh toán của khách;
- Hình thức tổ chức chuyến đi, thời gian và hành trình lưu lại;
16

- Mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi;
- Giá cả, chất lượng, chủng loại, vệ sinh, thái độ phục vụ của nhân
viên,…tại các cơ sở lưu trú;
- Các đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của khách (độ tuổi, giới tính, sức
khỏe, thói quen tiêu dùng,…);
- Các hiện tượng tâm lý xã hội phổ biến (phong tục, tập quán, truyền
thống, tôn giáo - tín ngưỡng, bầu không khí tâm lý xã hội,…).
Thứ ba, nhu cầu ăn uống
Nhu cầu ăn uống cũng là một trong những nhu cầu thiết yếu của du
khách. Đó là những đòi hỏi về các hàng hóa, dịch vụ ăn uống mà khách cần
thỏa mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình.
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu ăn uống của khách gồm hai bộ phận cơ
bản là các dịch vụ phục vụ ăn uống (nhà hàng, quán rượu, khách sạn, quán ăn
bình dân,…) và các sản phẩm ăn uống.
Thông thường trong quá trình kinh doanh ăn uống cần đặc biệt chú ý
đến một số vấn đề như: giá cả, chất lượng, vệ sinh, an toàn, quy trình phục vụ,
chủng loại sản phẩm,… Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu ăn
uống của khách:

- Khả năng thanh toán của khách;
- Mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi;
- Mức độ hấp dẫn, độc đáo của các tài nguyên du lịch, của các đối
tượng thỏa mãn nhu cầu này;
- Các đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của khách (đặc biệt phải chú ý đến
thị hiếu, thẩm mỹ, trình độ học vấn, văn hóa, nghề nghiệp, giai cấp,…);
- Các hiện tượng tâm lý xã hội phổ biến (phong tục, tập quán, truyền
thống, tôn giáo - tín ngưỡng, bầu không khí tâm lý xã hội,…).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status