BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU HẰNG
MỘT SỐ ðẶC ðIỂM BỆNH LÝ BỆNH VIÊM RUỘT TIÊU
CHẢY DO ESCHERICHIA COLI Ở ðÀ ðIỂU TỪ 0 – 3
THÁNG TUỔI NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU ðÀ ðIỂU
BA VÌ - HÀ NỘI, BIỆN PHÁP ðIỀU TRỊ LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : THÚ Y
Mã số : 60.62.50
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. PHẠM NGỌC THẠCH
HÀ NỘI - 2010
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
i
nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn tập thể cán bộ thuộc bộ môn Nội - chẩn - Dược - ðộc
chất, bộ môn Bệnh lý, bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiềm, phòng thí nghiêm
trung tâm Khoa Thú y - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, bộ môn Vi
trùng - Viện Thú y Quốc gia, ñã nhiệt tình giúp ñỡ, tạo ñiều kiện thuận lợi
nhất ñể tôi hoàn thành ñề tài nghiên cứu.
ðặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến thầy hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Phạm Ngọc Thạch bộ môn Nội - Chẩn - Dược ñộc chất - khoa Thú y -
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã trực tiếp hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong
quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi luôn biết ơn gia ñình, bạn bè và các em sinh viên ñã ñóng góp công
sức, ñộng viên, giúp ñỡ tôi hoàn thành ñề tài nghiên cứu và luận văn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2010
Tác giả Trần Thị Thu Hằng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
iiiMỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn……………………………………………………………………ii
Mục lục……………………………………………………………… …….iii
Danh mục bảng……………………………………………………………….vi
Danh mục hình…………………………………………………………… viii
Danh mục viết tắt…………………………………………………………….ix
1. ðẶT VẤN ðỀ 1
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.3.1. ðiều tra tình hình mắc bệnh trên ñàn ñà ñiểu từ 0-3 tháng tuổi từ
năm 2006 – 2010 28
3.3.2. Theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi bị viêm
ruột tiêu chảy do E.coli 28
3.3.3. Theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu ở ñà ñiểu từ 0 – 3
tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 29
3.3.4. Xác ñịnh tổn thương bệnh lý ñường tiêu hóa ở ñà ñiểu từ 0 - 3
tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 30
3.3.5. Xây dựng phác ñồ ñiều trị thử nghiệm 30
3.3.6. Xử lý số liệu 30
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1. Tình hình mắc bệnh trên ñàn ñà ñiểu nuôi tại trạm nghiên cứu ñà ñiểu
Ba Vì 32
4.1.1. Tình hình chăn nuôi ñà ñiểu tại trạm nghiên cứư ñà ñiểu Ba Vì 32
4.1.2. Tình hình mắc bệnh trên ñàn ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi 33
4.2. Các chỉ tiêu lâm sàng ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi bị viêm ruột tiêu
chảy do E.coli 36
4.2.1. Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi
bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 36
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
v4.2.2. Biểu hiện lâm sàng ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi bị viêm ruột tiêu
chảy do E.coli 39
4.3. Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi bị
viêm ruột tiêu chảy do E.coli 42
4.3.1. Một số chỉ tiêu sinh lý máu ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi bị viêm
ruột tiêu chảy do E.coli 42
Bảng 4.8. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình 46
của hồng cầu ở ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do
E.coli 46
Bảng 4.9. Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở ñà ñiểu từ 0 – 3
tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 47
Bảng 4.10. ðộ dự trữ kiềm trong máu và hàm lượng ñường huyết ở ñà ñiểu
0 – 3 tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 50
Bảng 4.11. Hoạt ñộ men sGOT và sGPT trong máu ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng
tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 52
Bảng 4.12: Hàm lương protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết
thanh ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do
E.coli. 53
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
viiBảng 4.13. Hàm lượng natri và kali trong huyết thanh ở ñà ñiểu từ 0 – 3
tháng tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 55
Bảng 4.14. Bệnh tích ñại thể của ñà ñiểu 0 – 3 tháng tuổi bị viêm ruột tiêu
chảy do E.coli 57
Bảng 4.15. Tổn thương bệnh lý vi thể ñường ruột ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng
tuổi bị viêm ruột tiêu chảy do E.coli 59
Bảng 4.16. Kết quả ñiều trị thử nghiệm bệnh viêm ruột tiêu chảy do E.coli
ở ñà ñiểu từ 0 – 3 tháng tuổi 62
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
viiiDANH MỤC HÌNH
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
11. ðẶT VẤN ðỀ
Trong những năm vừa qua, trên thế giới chăn nuôi ñà ñiểu ñang trở thành
một hướng phát triển kinh tế mới, ñà ñiểu ñược coi là vật nuôi của thế kỷ
XXI. ðà ñiểu là loại gia cầm có khả năng thích ứng cao, ñề kháng tốt với một
số bệnh nguy hiểm của gia cầm, tạp ăn, dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao, yêu cầu
chuồng trại ñơn giản, thích hợp với chăn nuôi gia ñình và trang trại. Nhu cầu
nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ ñà ñiểu của các nước trên thế giới ngày
càng tăng. Riêng thị trường châu Âu nhu cầu thịt ñà ñiểu cao gấp 3 - 4 lần khả
năng cung cấp. Cho ñến nay không chỉ ở châu Phi và ở Úc mà một số nước
như Trung Quốc, ðài Loan, Nga, cũng bắt ñầu chăn nuôi ñà ñiểu.
Ở Việt Nam, chăn nuôi ñà ñiểu mới phát triển nhưng ñã ñem lại hiệu quả
kinh tế cao. Năm 1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt dự
án xây dựng cơ sở nghiên cứu, phát triển chăn nuôi ñà ñiểu Ba Vì và nhập
150 ñà ñiểu (ostrich) gốc châu Phi 3 - 4 tháng tuổi từ Úc. Sau 13 năm nghiên
cứu và chuyển giao vào sản xuất, ñến nay chăn nuôi ñà ñiểu ñang phát triển ở
nhiều tỉnh thành khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam. Các sản phẩm chế biến từ
ñà ñiểu ñã ñược giới thiệu và bán trên thị trường, chăn nuôi ñà ñiểu trở thành
ngành sản xuất hàng hoá quy mô lớn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.
Tuy nhiên ñà ñiểu là một ñộng vật mới nhập, trong quá trình nuôi thích
nghi ñã xuất hiện một số bệnh trong ñó có bệnh ñường tiêu hoá gây nhiều
thiệt hại cho người chăn nuôi. Kết quả nghiên cứu bước ñầu của một số tác
giả cho rằng nguyên nhân gây bệnh ñường tiêu hoá thường do trực khuẩn
Escherichia coli (E.coli). Khi phân lập vi khuẩn ở những ñà ñiểu mắc bệnh ở
ñường tiêu hoá, các nghiên cứu cho thấy E.coli chiếm tới 83,81%.
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại ñà ñiểu
ðà ñiểu nuôi ngày nay ñược thuần hoá từ ñà ñiểu hoang dại (Châu Phi).
Loài chim chạy này có mặt trên trái ñất từ rất sớm. Theo tư liệu khảo cổ học
về ñộng vật có xương sống của Trung Quốc (Trần Công Xuân, 2000), ñà ñiểu
xuất hiện từ trước kỷ nguyên thứ ba, phân bố trên khắp các ðại lục lớn. Một
số tác giả căn cứ vào thuyết trôi lục ñịa cho rằng: các loài ñà ñiểu xuất phát từ
một tổ tiên chung, phân tán rộng rãi khắp phía nam bán cầu, sau ñó tiến hoá
thành các gia ñình chim chạy ngày nay sau khi lục ñịa bắt ñầu tách ra vào
cuối kỷ phấn trắng ñể tạo ra các châu lục Á, Âu, Mỹ, Phi, như hiện nay. Tuy
nhiên các công trình nghiên cứu về giải phẫu, sinh hoá và di truyền ñã bác bỏ
giả thuyết trên và nhấn mạnh rằng chúng hoàn toàn khác biệt. Những tranh
luận ñó vẫn còn kéo dài và chưa ñi ñến kết luận và sáng tỏ.
Hiện nay ñà ñiểu ñược xếp vào một bộ: Bộ Struthioniformes và chia làm
5 phụ bộ như sau:
+ Phụ bộ Struthiones: ñại diện là Ostrich (họ ñà ñiểu Phi – Struthiodae)
+ Phụ bộ Rheae: tiêu biểu là chim Rhea (họ ñà ñiểu Nam Mỹ - Rheidae)
+ Phụ bộ Bromai: tiêu biểu là chim Emu (họ ñà ñiểu Úc – Bromaiidae)
+ Phụ bộ Carurari: tiêu biểu là chim chạy Carrowary (họ ñà ñiểu Nam
Thái Bình Dương – Casuaridae)
+ Phụ bộ Aprterygen: tiêu biểu là chim Kiwi. Tuy nhiên gia ñình này
chưa ñược công nhận rộng rãi do chúng không có ñầy ñủ của các
Struthionifomes khác.
Trong hệ thống phân loại ñộng vật, ñà ñiểu châu Phi (Ostrich) thuộc:
Lớp chim : Aves
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
4Bộ: Struthioniformes
Phụ bộ: Struthiones
trọng lượng 110 – 120kg. Cổ ñà ñiểu dài và cong chiếm 1/3 chiều cao của
chúng, chính vì vậy chúng có thể quan sát dễ dàng ñược xung quanh và ăn các
loại lá cây ở trên cao. Mỏ của ñà ñiểu rộng và dẹp có hai lỗ mũi, trong thời
tiết nóng chúng thường mở rộng lỗ mũi ra ñể làm mát. Mỏ không cứng lắm
nên không phải là cơ quan tự vệ hay tấn công (Phùng ðức Tiến, 2009).
ðà ñiểu có ñôi chân rất khoẻ nâng ñỡ cơ thể và là một lợi thế lớn nhất của
loài này. Mỗi chân chỉ có 2 ngón, ngón chân to tương ứng với ngón giữa của
các loài chim khác và có vuốt dài khoảng 7cm. Khi gặp nguy hiểm chúng có
thể làm sát thương ñối thủ với cú ñá dũng mãnh. Do có ñôi chân khoẻ mạnh
nên ñà ñiểu có thể ñạt tốc ñộ chạy tới 70km/giờ qua ñoạn ñường dài vài km.
ðà ñiểu có cặp mắt rất tinh, có thể nhìn ñược ở khoảng cách 3km. Do có
chiếc cổ ngểnh cao và cặp mắt tinh nên chúng có thể quan sát ñược tầm xa và
rộng. Vì lý do này trong tự nhiên ta có thể thấy các loài ñộng vật khác như linh
dương và ngựa vằn thường ở gần ñà ñiểu - ở ñó chúng thấy an toàn hơn. Mắt ñà
ñiểu có “màng nitric” bao bọc con ngươi và trong thời tiết xấu với bộ lông mi
dày và dài sẽ bảo vệ tốt ñược mắt khỏi bụi và cát.
Thính giác của ñà ñiểu cũng rất phát triển. Lỗ tai rộng có thể phát hiện
ñược những âm thanh nhỏ nhất vì thế hỗ trợ ñược hệ thống tự vệ.
Khứu giác và vị giác ở ñà ñiểu phát triển kém hơn.
Hộp sọ ñà ñiểu “xốp” nên bảo vệ não rất kém. Con trưởng thành hộp sọ
chỉ ngang bằng với trứng của một con gà và nặng khoảng 30 - 40g. Ở một số
loài ñỉnh ñầu bị trụi còn một số loài khác thì có lông tơ.
ðà ñiểu không có diều nhưng thực quản của chúng rất phát triển và có
khả năng co giãn lớn. Mặc dù chúng có túi khí nhưng không biết bay, cơ ngực
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
6và ñôi cánh không phát triển. Cánh của ñà ñiểu ñóng vai trò rất quan trọng
trong tự vệ và quạt khi trời nóng. Con trống còn sử dụng ñôi cánh trong vũ
7xuống, bắt ñầu ñập cánh. Giữa những con trống thường nổ ra những tranh
chấp khi lựa chọn con mái. Sau ñó con trống nằm ép sát xuống ñất và bắt ñầu
ñập cánh “bơi chèo”, uốn cổ thành hình chữ “S”, vươn ñầu trên nền và liên
tục gại ñầu vào phao câu. Trong cùng thời gian ñó, con mái cũng ra hiệu cho
thấy biểu hiện sự mong ñợi và chúng tiến lại gần con trống, con mái gục ñầu
về phía mặt ñất, hạ thấp ñôi cánh ñang duỗi dài và nhẹ nhàng nhấc ñuôi lên.
Quá trình giao phối mất khoảng vài chục giây.
Sau mỗi ñợt giao phối thường con trống và 3 - 4 con mái rời khỏi ñàn và
tìm cho mình một lãnh thổ riêng. Con trống có nhiệm vụ canh gác, nhất là vào
ban ñêm và ñe doạ ñối thủ xâm nhập bằng những tiếng gầm, hú to. Bán kính
lãnh thổ của chúng có thể rộng tới 800m.
Mặc dù về cơ bản ñà ñiểu là loài ña thê nhưng có nhiều trường hợp ñơn
thê vẫn xảy ra. Theo quy luật thì vài con mái theo một con trống, trong ñó có
một con mái là chính còn những con khác là phụ theo cấp bậc sinh hoạt giới
tính. Trong thời gian 20 - 30 ngày, con mái chính ñẻ 10 - 20 quả trứng, còn
những con mái phụ ñẻ 5 - 8 quả. Vào ban ñêm, con trống chịu trách nhiệm ấp
trứng và quan sát tổ còn ban ngày là con mái chính - màu lông xám của nó
khó quan sát thấy hơn và do ñó khó bị những thú ăn thịt khác phát hiện hơn
(Phùng ðức Tiến, 2009).
Quá trình ấp trong tự nhiên kéo dài khoảng 6 tuần. Những con non nở ra
ñược bố mẹ dạy cho cách kiếm mồi. ðến 16 - 18 tháng tuổi, mặc dù chưa
trưởng thành nhưng chúng ñược sống ñộc lập. ðà ñiểu sống ñược vài chục
năm và tuổi thành thục sinh dục vào năm tuổi thứ 4 - 5.
ðà ñiểu có nhiều khả năng thích nghi với các ñiều kiện khí hậu khác
nhau. Chúng sinh sống tốt trong các ñiều kiện môi trường thay ñổi như ñã
thích nghi với môi trường ở Australia, châu Á, thậm chí ñược nuôi ở tất cả
các vùng châu Âu. ðặc biệt, chúng ñã thích nghi ñược với khí hậu giá lạnh
tính ñặc trưng của ñà ñiểu là chúng ăn phân của chúng thải ra ngoài môi
trường. Chính vì vậy, khi trong ñàn có con mắc bệnh ñường tiêu hoá, khả
năng lây nhiễm trong ñàn là rất cao (Phùng ðức Tiến, 2009).
ðà ñiểu có tính bầy ñàn rất cao, thể hiện là chúng luôn có xu hướng hợp
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
9ñàn khi phân ra các ô chuồng khác nhau, chúng thường xuyên ñi lại ở các
ñường biên ven ô cạnh nhau. Khi ngủ, chúng tập trung lại ở những vị trí gần
nhau nhất. Giấc ngủ gián ñoạn và không ñồng loạt, luôn thấy một vài cá thể tỏ
ra rất tỉnh táo ñể cảnh giới. Nếu một con nào ñó ñột nhiên hoảng loạn chạy
lập tức cả bầy chạy theo và lan truyền sang cả dãy ô nối tiếp, hiện tượng ñó
thường làm cho chúng dẫm ñạp lên nhau và va ñập vào hàng rào gây chấn
thương. Do vậy, người nuôi dưỡng phải hiểu rõ tập tính này ñể hạn chế tối ña
những chấn ñộng ñột ngột gây hoảng loạn ở ñà ñiểu.
2.1.3. ðặc ñiểm tiêu hoá của ñà ñiểu
ðà ñiểu thuộc lớp chim vì thế về mặt giải phẫu học của hệ thống tiêu hoá
có những ñặc ñiểm chung và có những nét ñặc trưng riêng.
ðà ñiểu là loại dạ dày ñơn, chúng không có diều mà chỉ có thực quản
phình to một cách ñặc trưng. Trong biểu mô có rất nhiều tuyến và quá trình
tiết chất nhầy giúp thức ăn di chuyển vào bên trong. Thành thực quản có hệ
thống cơ rất chắc (cơ tròn). Dạ dày to lớn của ñà ñiểu bao gồm một phần
tuyến và một phần cơ (mề). Khác với hầu hết các loài chim, chức năng tiêu
hoá của men hay dịch vị nằm trong giới hạn một vùng ở bờ cong lớn của dạ
dày. Diện tích vùng này là 1×5×24cm, chiếm 25% diện tích bên trong dạ dày.
Trong phần dạ dày tuyến, quá trình tiêu hoá thức ăn phụ thuộc vào hoạt ñộng
của các enzyme tiêu hoá (pH = 2,8), vào ñến dạ dày cơ thức ăn tiếp tục ñược
tiêu hoá và ñược nghiền với sự hỗ trợ của ñá, sỏi mà chúng ñã nuốt vào. Dạ
dày cơ của ñà ñiểu trưởng thành có thể chứa tới 1,5kg ñá (Horbanczuk, 2002).
Ở ñà ñiểu, sự kéo dài phần ruột sau nhất là sự phát triển của manh tràng
là một biến ñổi ñặc trưng của bộ máy tiêu hoá ñể thích ứng với loại thức ăn
chính của chúng là thức ăn thô xanh.
Khác với nhiều loại gia cầm, ñà ñiểu có khả năng tiêu hoá tốt thức ăn thô
xanh, (40 – 45% xơ trung tính trong khẩu phần). Nhờ ñó góp phần quan trọng
trong việc chăn nuôi ñà ñiểu bởi nó ñược cung cấp ñáng kể nguồn năng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
11lượng, protein, axit amin, vitamin và khoáng chất thông qua quá trình tiêu hoá
vi sinh vật. Mặc dù vậy, trong chăn nuôi thâm canh người ta không thể bỏ qua
vai trò dinh dưỡng hàng ñầu của nguồn năng lượng, protein, axit amin có
trong khẩu phần thức ăn tinh.
Theo Hasting (1991) sinh lý tiêu hoá của ñà ñiểu dường như rất khác so
với các loài gia cầm khác. Do ñó, việc hiểu rõ ñặc ñiểm tiêu hoá và trao ñổi
chất cũng như ñặc ñiểm bệnh lý bệnh viêm ruột ở ñà ñiểu rất cần thiết ñể áp
dụng các biện pháp phòng trị thích hợp cho hiệu quả cao.
2.2. Tình hình chăn nuôi ñà ñiểu
2.2.1. Xu thế phát triển chăn nuôi ñà ñiểu trên thế giới
Chim ñà ñiểu ñã có mặt trên trái ñất rất lâu nhưng chúng chỉ ñược thuần
hoá cách ñây 150 năm từ nhiều vùng ñất khác nhau trên thế giới. Lúc ñầu
chăn nuôi ñà ñiểu chỉ dừng ở mục ñích lấy lông. Cuối thế kỷ XVIII, ñầu thế
kỷ XIX việc dùng lông ñà ñiểu trên trở nên thịnh hành, nhu cầu lông ñà ñiểu
tăng cao làm ñộng lực thúc ñẩy một số nước ở Nam Phi mở trang trại nuôi ñà
ñiểu. Từ ñó phong trào nuôi ñà ñiểu dần lan rộng và trải qua những bước
thăng trầm. Vào những năm ñầu tiên của thế kỷ XX, tổng ñàn ñà ñiểu ñược
nuôi trên thế giới ước tính khoảng 700.000 con. ðại chiến thế giới lần thứ
nhất xảy ra làm thị trường tiêu thụ ñà ñiểu giảm. Vì vậy, tổng số ñà ñiểu trên
thế giới sau năm 1914 chỉ còn 120.000 con. Sau ñó số lượng ñà ñiểu dần ñược
Như vậy, từ khi nhập ñà ñiểu với số lượng ít cho ñến nay số lượng ñà
ñiểu của trung tâm không ngừng ñược tăng lên và ñã cung cấp ñầy ñủ chuyển
giao con giống thử nghiệm nuôi ở nhiều vùng trong cả nước như: Hà Giang,
Thái Nguyên, Hà Tây, Khánh Hoà, ðồng Nai, Bắc Giang, cho kết quả rất
khả quan. Tính ñến hết năm 2007, Trung tâm ñã ñưa vào sản xuất 7.333 con
giống với 47 trang trại ở 30 tỉnh thành thuộc 3 miền Bắc – Trung – Nam. Các
sản phẩm từ ñà ñiểu như thịt, da, mỡ, xương, tiết, vỏ trứng ñã ñi vào ñời sống
xã hội góp phần ñáp ứng yêu cầu thực phẩm bổ dưỡng, chất lượng cao cho
người tiêu dùng.
Hiện nay, Trung tâm dưới sự chỉ ñạo của Bộ NN&PTNT, Bộ Khoa học
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
13và Công Nghệ, Viện Chăn nuôi ñang tiếp tục ñẩy mạnh nghiên cứu và chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật với hy vọng ñặt nền móng vững chắc cho sự phát triển
ngành chăn nuôi ñà ñiểu ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
2.2.3. Hiệu quả kinh tế chăn nuôi ñà ñiểu
Nuôi ñà ñiểu không khó, vì thức ăn của chúng rất ñơn giản và sẵn có (ngũ
cốc, rau, cỏ, cám và thức ăn tổng hợp của gà). Khả năng thích nghi của chúng
cũng rất cao, có thể sống trong ñiều kiện khí hậu khắc nghiệt từ -10
o
C ñến trên
40
o
C. Từ 9 - 11 tháng tuổi, ñà ñiểu ñã cho thu hoạch, mỗi con có trọng lượng
100 - 110 kg, trừ mọi chi phí, người nuôi có thể lãi từ 1 - 1,5 triệu ñồng/con.
Còn nếu ñầu tư nuôi ñà ñiểu sinh sản thì lãi hơn. Một ñà ñiểu mẹ ñẻ 40 - 50
trứng/năm, tỷ lệ ấp thành công là 20 - 25 ñà ñiểu con. Tính ra, mỗi năm, một
con ñà ñiểu mẹ có thể cho 2 - 2,5 tấn thịt hơi; một ñời ñà ñiểu mẹ kéo dài 10
nhiễm khác nhau bao gồm cả những ñộng vật có vú, bệnh nhiễm khuẩn do
thức ăn, những bệnh do vi khuẩn, do vi nấm, do virus và do ký sinh trùng.
2.3.1. Bệnh do vi khuẩn.
Các vi khuẩn gây bệnh ở ñà ñiểu thường là E.coli, Cl. perfringens,
Streptococcus, Mycobacterium, Salmonella spp (Tully và cs, 2000).
Theo Tully và cs (2000), vi khuẩn E.coli là nguyên nhân gây bệnh viêm
ruột tiêu chảy ở ñà ñiểu.
Khi nghiên cứu bệnh do vi khuẩn gây ra ở ñà ñiểu, Bormann và cs, 2002
cho rằng: vi khuẩn Clostridium perfringens, C.chauvoei, C.sordellii và
C.colinum ñều có liên quan ñến các bệnh Clostridium ở ñà ñiểu. ðộc tố Cl.
perfringens gây giảm số lượng, tốc ñộ phát triển tế bào thận của ñà ñiểu.
Uzal và cs (2002) ñã xác ñịnh ñộc tố β của vi khuẩn C. perfringens type
C gây viêm ruột ở ñà ñiểu.
Matsumoto và cs (2002) cho rằng 99,6% Cl. perfringens có khả năng
bám dính vào lớp mucin của ruột ñà ñiểu, ñó là nguy cơ gây bệnh viêm ruột
tiêu chảy ở ñà ñiểu.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
152.3.2. Bệnh do vi nấm
Nhiễm vi nấm có lẽ nằm trong số những bệnh truyền nhiễm thường gặp
nhất ở ñà ñiểu non. Các yếu tố như nhà ấp bị ô nhiễm, ñiều kiện môi trường,
không khí ô nhiễm nặng, chất thải hay thức ăn, stress, suy giảm miễn dịch, và
ñiều trị kháng sinh kéo dài thường là những tiền ñề cho các loại bệnh do vi
nấm phát triển (Shivaprasad, 1998).
Theo Katz và cs (1996) aspergillosis là loại bệnh nấm ñặc biệt quan
trọng gây tổn hại về mặt kinh tế trong chăn nuôi ñà ñiểu. Bước quan trọng
nhất khi kiểm soát bùng phát aspergillosis là tìm ñược ra nguồn lây nhiễm và
liên tục phòng tránh nhiễm bào tử nấm.