MỤC LỤC
i
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Thuận Thành năm 2011 45
Bảng 3.2: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thuận Thành 45
Bảng 4.1: Tình hình tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, 2008-2012 52
Bảng 4.2: Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 53
Bảng 4.3: Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị theo lĩnh vực, 2008-2012
55
Bảng 4.4: Tình hình khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị ở cấp xã được giải quyết theo lĩnh
vực, 2008-2012 58
Bảng 4.5: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND cấp xã giải quyết, 2008-2012 61
Bảng 4.6: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết nhưng công
dân vẫn tái tố, tái khiếu 63
Bảng 4.7: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo đã được UBND xã, thị trấn giải quyết không đảm
bảo trình tự, thủ tục 65
Bảng 4.8: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức tham gia giải quyết khiếu nại, tố
cáo của các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 67
Bảng 4.9: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tố cáo của
các xã, thị trấn trong huyện năm 2012 68
Bảng 4.10: Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 72
Bảng 4.11: Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị, 2008-2012 73
Bảng 4.12: Đơn thư khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị phân theo từng lĩnh vực, 2008-
2012 76
Bảng 4.13: Số vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị được UBND huyện giải quyết
80
Bảng 4.14: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND huyện giải quyết 83
Bảng 4.15: Kết quả thực hiện xử lý và thu hồi diện tích đất theo quy định của pháp luật về
đất đai phát sinh theo từng năm phải thực hiện trong toàn huyện 85
Bảng 4.16: Kết quả thực hiện thu hồi tiền xuất toán đối với các khoản thu, chi tài chính trái
pháp luật và giảm trừ giá trị quyết toán XDCB phát sinh theo từng năm phải thực hiện
Biểu đồ 9: Tổng hợp vụ việc khiếu nại, tố cáo được UBND huyện giải quyết 84
Biểu đồ 10: Trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức làm công tác tiếp nhận, xử lý đơn
thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp huyện 88
Biểu đồ 11: Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức làm công tác tiếp nhận, xử lý
đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp huyện 89
iii
PHẦN I:
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong
Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi
quyền lực của bộ máy Nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của
cán bộ, công chức. Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những
có vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ
giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm phát huy quyền
dân chủ của nhân dân, gắn với việc xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng
trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập
quốc tế.
Những năm gần đây cùng với quá trình CNH thì quá trình đô thị hóa
đang diễn ra rất nhanh chóng, từ đó nảy sinh những vấn đề bức xúc trong đời
sống nhân dân ở nông thôn đòi hỏi phải giải quyết. Trong quá trình công
nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, nông dân bị thu hồi đất để
chuyển giao cho doanh nghiệp do phát triển công nghiệp, du lịch và đô
thị mà không kiếm được kế sinh nhai, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm của
nông dân. Môi trường tự nhiên ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng, các giá
trị của văn hóa truyền thống văn hóa cộng đồng ngày càng bị mai một… thay
vào đó là vấn đề tai tệ nạn xã hội ở nông thôn ngày càng gia tăng. Tất cả
Ngoài ra, có một số vụ khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính sách xã
hội, xử lý thi hành kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
2
Trước thực tiễn đó, nhận thức được tầm quan trọng của công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân góp phần vào ổn định an ninh, chính trị
và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương huyện Thuận Thành, tôi mạnh dạn
chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”
1.2. Mục tiêu
1.2.1. Mục tiêu chung
Từ nghiên cứu tình hình thực tiễn, kết hợp với những lý luận Luận văn
đưa ra các biện pháp khắc phục tồn tại, hạn chế để nâng cao hiệu quả trong
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trên địa bàn huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn về hiệu quả đối với
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
- Đánh giá thực trạng hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong những năm vừa
qua;
- Đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân trên địa bàn huyện trong thời gian tới. .
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu cụ thể tình hình và hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân ở UBND các xã, thị trấn, UBND huyện và một số cơ quan hành
chính Nhà nước trên địa bàn huyện Thuận Thành;
- Nghiên cứu về tâm tư, nguyên vọng của người dân khi thực hiện việc
khiếu nại, tố cáo thông qua phiếu điều tra.
3
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Khiếu nại
Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị. Nhà nước thực hiện quyền
quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Trong quá trình tiền hành
các hoạt động quản lý, các cơ quan nhà nước ban hành các quyết định quản lý
theo thẩm quyền để thực hiện quyền lực nhà nước, buộc mọi người phải tuân
theo. Các văn bản, quyết định có tác động đến một người hay một nhóm
ngườu nhất định. Tuy vậy, văn bản hay quyết định đó có sai sót hoặc do cán
bộ, công chức thi hành công vụ có hành vi vi phạm của công dân, cơ quan, tổ
chức nên khiếu nại phát sinh.
5
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi
nhận tại Điều 74, Hiến pháp năm 1992. Đó là hiện tượng phát sinh trong đời
sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một
hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là
không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Dưới góc độ pháp lý, khiếu
nại được hiểu là: “Việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức
theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình”
(Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại).[1]
Người bị khiếu nại
Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết
định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại. (Khoản 5, Điều 2, Luật Khiếu
nại).[1]
Người giải quyết khiếu nại
Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Tố cáo
7
Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân cơ quan, tổ chức.
Như vậy, những việc làm trái pháp luật không phải chỉ cán bộ, công chức
nhà nước mà còn cả cơ quan, tổ chức, những hành vi trái pháp luật thường bị
công dân phát hiện và báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn
chặn, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm.
Mục đích của người tố cáo nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền lợi
ích hợp pháp của tập thể và công dân.
Quyền tố cáo của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Tố
cáo và nhiều văn bản pháp luật khác. Ở góc độ pháp lý, tố cáo được hiểu: “Là
việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của
nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. (Khoản
1, Điều 2, Luật Tố cáo).[2]
Người bị tố cáo
Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo. (Khoản
5, Điều 2, Luật Tố cáo).[2]
Người giải quyết tố cáo
Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết tố cáo. (Khoản 6, Điều 2, Luật Tố cáo).[2]
Giải quyết tố cáo
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố
cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo. (Khoản 7, Điều 2, Luật
Tố cáo).[2]
8
Thẩm quyền giải quyết tố cáo
- Giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan, đảm bảo đúng pháp luật;
- Giải quyết xong trước hoặc đảm bảo thời gian so với quy định của
Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo;
- Tiết kiệm tài lực, nhân lực của cơ quan giải quyết và chi phí, tiền của,
thời gian đi lại của người khiếu nại, tố cáo;
- Để cho người khiếu nại, tố cáo sự hài lòng về kết quả đã giải quyết;
hạn chế việc tái tố, khiếu nại lần 2; hạn chế việc khiếu nại, tố cáo vượt cấp
góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội và phát triển kinh
tế, văn hóa ;
- Thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kiến nghị với Đảng và
Nhà nước hoàn hiện cơ chế, chính sách đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội.
2.1.2. Vai trò của công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
2.1.2.1. Vai trò của công tác tiếp công dân
- Tiếp công dân là giai đoạn đầu của công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo, đóng vai trò quan trọng như là một khâu then chốt góp phần giải quyết có
hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, qua đó bảo vệ
lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Tiếp công dân là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố
mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Giữ chặt mối liên hệ với dân
chúng và lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của
10
Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”. Làm tốt công tác tiếp công dân và giải
quyết khiếu nại, tố cáo là một hình thức biểu hiện trực tiếp của mối quan hệ
giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Cơ quan Nhà nước phải tiếp công dân tốt thì nhân dân mới thấy rõ
Đảng và Nhà nước luôn giữ chặt mối liên hệ với nhân dân, luôn lắng nghe ý
kiến của nhân dân, quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ
giữa nhân dân với Đảng càng được củng cố hơn.
Do đó việc quan tâm làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố
sách, có căn cứ để xác định xem việc tồn tại chính sách có hợp lý hay không,
kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách và tìm kiếm các
biện pháp quản lý thích hợp và hiệu lực để thực thi chính sách đó.
- Tiếp công dân tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền tự do, dân
chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc, xung đột trong xã hội.
Khiếu nại, tố cáo là một phương thức thể hiện quyền dân chủ của nhân
dân và là một trong những phương thức để nhân dân thực hiện quyền giám sát
đối với bộ máy Nhà nước và công chức Nhà nước. Làm tốt công tác tiếp công
dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo chính là tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện
quyền tự do, dân chủ tạo nên một xã hội hài hòa, xã hội công dân.
Khi người dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm mới đến cơ quan nhà nước để khiếu nại, tố cáo. Nếu cơ quan nhà nước
không tiếp dân và giải quyết kịp thời sẽ tạo nên bức xúc của người dân đối
với cơ quan nhà nước. Nếu sự những bức xúc đó không được giải quyết sẽ
phát sinh các vấn đề lớn về mặt xã hội; người dân dễ bị kích động bởi các thế
lực thù địch, có các hoạt động chống đối Đảng và Nhà nước.
12
2.1.2.2. Vai trò của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Hoạt động khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là
một trong các biện pháp đảm bảo pháp chế XHCN nói chung và quản lý hành
chính nhà nước nói riêng. Đây là một hình thức đặc biệt quan trọng để nhân
dân lao động trực tiếp tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Công
dân không chỉ có quyền khiếu nại, tố cáo mà còn có nghĩa vụ thực hiện quyền
khiếu nại, tố cáo. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ này đóng vai trò quan
trọng trong việc xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân;
- Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân góp phần quan trọng vào
ổn định tình hình an ninh, chính trị, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
- Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân đóng vai trò quan trọng
trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thông qua công tác
luật cán bộ, công chức bị khiếu nại. Hành vi khiếu nại phải là của người bị tác
động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ
luật buộc thôi việc. Trong khi đó, chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là cá
nhân, tức là chỉ bao gồm công dân và người nước ngoài. Cá nhân thực hiện
hành vi tố cáo có thể chịu tác động trực tiếp hoặc không chịu tác động của
hành vi vi phạm pháp luật. Bởi vậy, khi tham gia vào quá trình giải quyết
khiếu nại, tố cáo thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể khiếu
nại, tố cáo cũng khác nhau. Nếu chủ thể khiếu nại thực hiện không đúng pháp
luật quyền khiếu nại của mình thì họ sẽ mất cơ hội được yêu cầu Nhà nước
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn nếu chủ thể tố cáo thực hiện
quyền của mình không đúng quy định của pháp luật như tố cáo nặc danh, mạo
danh thì tố cáo của họ không được giải quyết.
14
- Thứ hai, về đối tượng: Trong khi đối tượng của khiếu nại là quyết
định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, những quyết định và hành vi
này phải có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu
nại. Thì đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáo
những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Có nghĩa là hành vi vi phạm
pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người tố cáo có thể không. Chính sự khác nhau này đã dẫn
đến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục giải quyết, về quyền và nghĩa vụ của
chủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo… Cụ thể:
Về thẩm quyền, khiếu nại được giải quyết lần đầu tại chính cơ quan có
thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật là đối tượng của
hành vi khiếu nại. Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định
giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại của mình lên
cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa
2.1.3.1. Bản chất, đặc điểm của khiếu nại
- Khiếu nại phát sinh khi quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại
bị xâm phạm, người khiếu nại yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo
vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm;
- Khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực
tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của
16
cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ
quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại khi
họ cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm bởi quyết
định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc. Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể kết luận là có sự vi phạm hay không
sau khi đã xem xét một cách khách quan và thận trọng nội dung vụ việc cùng
những tài liệu và chứng cứ có liên quan;
Như vậy, khiếu nại là quyền, là hành vi của các chủ thể như cơ quan
nhà nước, tổ chức và cá nhân, còn hoạt động giải quyết khiếu nại là hoạt động
mang tính quyền lực nhà nước, chỉ được thực hiện bởi người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định. Quyền khiếu nại của công dân xuất hiện trong mối liên hệ với quá trình
thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Quá trình công dân thực hiện quyền
khiếu nại chính là quá trình cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
các tài liệu, chứng cứ về sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
từ phía cơ quan và người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước;
Bởi người khiếu nại không được sử dụng quyền lực nhà nước trong lĩnh
vực giải quyết khiếu nại nên họ không thể tự mình khôi phục lại những quyền
và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, do đó họ phải đề nghị cơ quan nhà nước
hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành giải quyết khiếu nại
của họ theo thủ tục mà pháp luật quy định. Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại một mặt sử dụng những tài liệu,
bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền
18
trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc
một số đối tượng cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính” (Khoản 8, Điều
2, Luật Khiếu nại) [1]. Như vậy, quyết định hành chính là đối tượng của khiếu
nại hành chính chỉ bao gồm quyết định hành chính cá biệt, được thể hiện
thành văn bản và do cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước ban hành. Tuy nhiên, trong thực tiễn, quyết định hành
chính do người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước khác ban hành
cũng là đối tượng khiếu nại, mặc dù chưa được quy định trong Luật Khiếu
nại, Luật Tố cáo (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Chẳng hạn, Toà
án nhân dân ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự phiên
toà hoặc các quyết định liên quan tới việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công
chức cũng là đối tượng khiếu nại… Việc xác định một quyết định hành chính
có phải đối tượng khiếu nại hay không, không chỉ giúp người khiếu nại thực
hiện quyền khiếu nại đúng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình mà còn giúp cho cơ quan giải quyết khiếu nại giải quyết nhanh
chóng, kịp thời, đúng pháp luật;
Hành vi hành chính là đối tượng khiếu nại được hiểu là: “hành vi của
cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước khi thực hiện nghĩa vụ, công vụ theo quy định của pháp
luật”(Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại) [1]. Hành vi đó thực hiện hoặc không
thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chẳng hạn, việc cơ quan cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ chối không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo yêu cầu hợp pháp của công dân thì hành vi không thực hiện
nhiệm vụ của cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đối tượng
khiếu nại;
19
Quyết định kỷ luật cũng là đối tượng của khiếu nại, được hiểu là:
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, cơ quan, tổ chức. Quy định này đã chỉ rõ hành vi bị tố cáo không chỉ là
hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại mà còn bao gồm cả những hành vi vi
phạm pháp luật đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá
nhân. Từ đó, có thể thấy trách nhiệm của Nhà nước ta trong việc quản lý đất
nước, không chỉ là khắc phục những hành vi gây thiệt hại mà trước đó phải
phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm có thể xảy ra, tránh
những thiệt hại cho xã hội. Việc tố cáo của công dân cũng theo đó mà đòi hỏi
Nhà nước phải có biện pháp giáo dục, xử lý kịp thời, thậm chí là áp dụng các
biện pháp nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến
lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân;
Như vậy, khi thực hiện quyền tố cáo là công dân đã thực hiện quyền
làm chủ của mình trong việc xây dựng và củng cố bộ máy nhà nước làm cho
bộ máy nhà nước ngày càng phát huy hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản
lý xã hội; hay nói rõ hơn thực hiện quyền tố cáo chính là việc tỏ rõ trách
nhiệm của công dân không chỉ trong việc giám sát hoạt động quản lý của Nhà
nước để xây dựng bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh mà còn
đối với cả việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước để đây thực sự
là những “người đại biểu của nhân dân”, góp phần ngăn chặn, tiến tới loại trừ
những hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu quần chúng của
một bộ phận cán bộ công chức nhà nước. Tuy nhiên, công dân thực hiện
quyền tố cáo thường bị đặt vào tình thế bất lợi, thường bị hành hung, đe dọa,
ức hiếp, trả thù. Chính bởi vậy mà trong những năm qua Luật Khiếu nại, tố
21
cáo năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 và ngày 11.11.2011,
Quốc hội đã thông qua Luật Tố cáo quy định đầy đủ, chi tiết và chặt chẽ hơn
về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người có thẩm
quyền giải quyết tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền
công dân của mình.