Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện cam lộ, tỉnh quảng trị năm 2019 - Pdf 22

A - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản
xuất hàng hoá. Trong gần hai thế kỉ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hình
thức tổ chức sản xuất khác nhau. Cho đến nay, qua quá trình phát triển của thực tiễn, ở
một số nơi các hình thức sản xuất theo mô hình tập thể và quốc doanh, cũng như xí
nghiệp tư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn không tỏ ra hiệu quả. Trong khi đó,
hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình KTTT phù hợp với đặc thù của nông nghiệp
nên đạt hiệu quả cao và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới. Việc
hình thành và phát triển KTTT là một quá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ
yếu mang tính sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá có quy mô từ nhỏ đến
lớn. Hiện nay ở nước ta, hình thức KTTT đang phát triển nhanh về số lượng với nhiều
thành phần kinh tế tham gia. Sự phát triển của KTTT đã góp phần huy động nguồn vốn
ở trong dân, tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo,
tăng thêm nông sản hàng hoá. Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng
giống tốt, làm dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng…
Tỉnh Quảng Trị nằm ở dải đất miền Trung với diện tích 4.739 km
2
, bao gồm các
kiểu địa hình như: núi, gò đồi, đồng bằng, đồng thời lại tiếp giáp với biển Đông, do đó
Quảng Trị có rất nhiều thuận lợi để phát triển KTTT đem lại hiệu quả kinh tế cao. Cam
Lộ là một huyện gồm cả đồng bằng và miền đồi núi, nằm gần như trung tâm tỉnh
Quảng Trị, đây là một huyện thuần nông của tỉnh Quảng Trị có nhiều tiềm năng để
phát triển sản xuất nông nghiệp. Huyện Cam Lộ có tổng diện tích 367,4 km
2
, trong đó
diện tích đất nông nghiệp - lâm nghiệp là 28.300 ha; địa hình của huyện có thể chia
làm hai khu vực chính: khu vực đồng bằng phía ở Đông và khu vực gò đồi đất dốc
phân bố chủ yếu ở phía Tây. Cơ sở hạ tầng cũng được nâng cấp và hoàn thiện hơn nên
có điều kiện hình thành và đang phát triển các loại trang trại phù hợp với điều kiện tự
nhiên, KT - XH. Mặc dù KTTT của huyện Cam Lộ mới phát triển trong những năm

tình hình phát triển KTTT của tỉnh, bên cạnh đó còn nêu lên những thành tựu đạt được
và một số khó khăn, hạn chế. Tuy nhiên, những vấn đề mà tác giả trình bày vẫn chưa
cụ thể, còn khái quát.
- “Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Quảng Trị” của Nguyễn Văn Hai trên báo điện
tử nhân dân, đã đề cập đến hiệu quả và hướng phát triển bền vững KTTT của tỉnh, nêu
lên một số mô hình trang trại điển hình.
2
- “Tập trung phát triển kinh tế trang trại vùng gò đồi của một số xã miền Tây
huyện Cam Lộ” của Hội nông dân tỉnh Quảng Trị.
- “Đẩy mạnh phát triển kinh tế nông hộ theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa
bàn Cam Lộ tỉnh Quảng Trị”.
Phần lớn các công trình nghiên cứu trên đều chưa đề cập đến một cách cụ thể về
thực trạng và giải pháp phát triển KTTT ở huyện Cam Lộ.
5. Quan điểm nghiên cứu
5.1. Quan điểm hệ thống
Mỗi hệ địa sinh thái là một hệ thống động lực tự điều chỉnh, gồm nhiều thành phần
cùng tồn tại trong một không gian có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại tạo nên
một hệ thống hoàn chỉnh. Trong đó mỗi đơn vị cấu trúc đều giữ một chức năng nhất
định, chúng vừa có sự liên quan phụ thuộc giữa các thành phần cấu tạo nên từng địa
tổng thế, vừa có quan hệ với các địa tổng thể cùng cấp và các cấp cao hơn phân hóa ra
nó hay cấp thấp hơn do nó phân hóa ra. Do vậy, khi nghiên cứu về KTTT cũng cần đặt
nó trong mối quan hệ với các loại hình thức tổ chức sản xuất KT - XH khác vì KTTT
là một bộ phận của hệ thống các ngành KTQD.
5.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Khi nhìn nhận mọi hợp phần cấu thành nên lãnh thổ tự nhiên phải được đặt trong
mối quan hệ tương tác lẫn nhau và liên quan đến sự hình thành tính đa dạng về tự
nhiên lãnh thổ để hiểu chính xác các mối quan hệ phát triển. Cho nên, trong nghiên
cứu lãnh thổ không được xem nhẹ và bỏ qua một thành phần nào mà cần phải phân
tích tổng hợp các thành phần của lãnh thổ. Quan điểm này được vận dụng nhằm phân
tích các thành phần để đi đến phác họa một cách tổng thể tự nhiên của vùng, cùng các

6.4. Phương pháp dự báo
Đây là một phương pháp được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu Địa lí, nhất là
Địa lí KT - XH, nghĩa là đưa ra các dự báo về tiềm năng, xu hướng phát triển trong
tương lai khi nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề nguồn lực cũng như hiện trạng của lãnh thổ
đề từ đó có hướng điều chỉnh hay khắc phục.
4
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị thì nội dung đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về kinh tế trang trại.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng
Trị.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Cam Lộ,
tỉnh Quảng Trị.
5
B - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm về trang trại
- Trang trại là cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp của một hay một nhóm nhà
kinh doanh. Ở Việt Nam, trang trại là cơ sở sản xuất nông nghiệp gắn với hộ gia đình
nông dân.
- Theo GS.TS Bùi Minh Vũ - nghiên cứu viên cao cấp của viện khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam: “Trang trại là một cơ sở sản xuất trong nông nghiệp, bao gồm cả
nông, lâm, ngư nghiệp mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của một người chủ độc
lập, sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ
lớn cùng phương thức tổ chức quản lí sản xuất tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao, hoạt
động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của
cơ chế thị trường”.
1.1.2. Khái niệm về kinh tế trang trại
Về KTTT, có nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau:

+ Mỗi quốc gia có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, trong đó thị trường nông
nghiệp đầu vào, đầu ra đều là hàng hoá.
+ Nhà nước công nhận và khuyến khích phát triển KTTT.
- Điều kiện đủ đối với KTTT:
+ Có một bộ phận dân cư có nguyện vọng, sở thích hoạt động sản xuất nông sản
hàng hoá, hoạt động kinh doanh trang trại.
+ Người chủ phải có trình độ kiến thức quản lí KTTT sản xuất hàng hoá.
+ Có tiềm năng về tư liệu sản xuất kinh doanh như vốn đất đai, thiết bị… Vốn
sản xuất bao gồm vốn tự có, vốn đi vay trong đó vốn tự có phải chiếm phần lớn và có
đủ vốn thì các ý đồ của người chủ mới có khả năng thực thi. Còn đất đai là điều kiện
quan trọng, là tiền đề cho việc hình thành trang trại, không có đất đai thì không thể coi
là sản xuất nông nghiệp. Những điều kiện trên không đòi hỏi phải thật đầy đủ đồng bộ,
hoàn chỉnh ngay từ đầu mà có sự biến động và phát triển qua từng giai đoạn.
Ở Việt Nam, sự ra đời của hình thức KTTT gia đình được bắt nguồn từ các chính
sách đổi mới kinh tế nói chung và chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn nói riêng
trong những năm gần đây.
7
Với chính sách đổi mới của Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy mọi tiềm
năng để vươn lên, dần hoà nhập vào nền kinh tế thị trường. Dưới tác động của các quy
luật của các thị trường hàng hoá, một số bộ phận nông dân đã không chịu sống cảnh no
đủ gia đình mà có ý chí vươn lên làm giàu bằng cách khai thác các ưu thế của đất đai,
đồng vốn quay vòng. Sự hấp dẫn của lợi nhuận thị trường khiến họ đã sản xuất dư thừa
để cung ứng cho thị trường. Chính đó là con đường xuất hiện và hình thành các trang
trại, lúc đầu mới chỉ là lẻ tẻ bộ phận trong một số vùng, địa phương, sau nhanh chóng
lan toả, nhân rộng ra thành phong trào làm KTTT. Nghị quyết 06 ngày 10/11/1998 của
Bộ chính trị đã viết: “Ở nông thôn hiện nay đang phát triển mô hình trang trại nông
nghiệp, phổ biến là các trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá
với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất
kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận trang trại ngoài lao động của gia đình còn có thể
thuê thêm lao động để sản xuất kinh doanh với quy mô diện tích đất canh tác xung

điều hành sản xuất hợp lí và thường xuyên tiếp cận thị trường.
- Phương thức khai thác đất đai bằng chính sức lao động trực tiếp và kinh nghiệm
sản xuất nông nghiệp của gia đình.
- KTTT mang bản chất kinh tế hai mặt của kinh tế hộ nông dân: vừa là đơn vị sản
xuất mang tính chất gia đình (lao động gia đình là trụ cột, là yếu tố để phân biệt trang
trại gia đình với các loại hình trang trại khác), vừa mang dáng dấp của một loại hình
doanh nghiệp tư nhân một chủ.
- KTTT còn có đặc trưng thể hiện sự phát triển cao hơn về chất so với kinh tế nông
hộ. Điểm khác chủ yếu giữa kinh tế nông hộ với KTTT là mục tiêu và quy mô sản xuất
hàng hóa. Sản xuất hàng hóa là đặc trưng của bản chất KTTT.
1.4. Tiêu chí để xác định kinh tế trang trại
Theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của
Bộ NN&PTNN quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận KTTT thì cá nhân,
hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn
KTTT phải thỏa mãn điều kiện sau:
Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
- Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.
+ 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
9
- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu
đồng/năm trở lên.
Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản
lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.
1.5. Phân loại trang trại
Có nhiều cách để phân loại trang trại:
- Phân theo quy mô đất đai, được chia làm 3 loại: trang trại quy mô nhỏ (2 - 5 ha),
trang trại quy mô vừa (5 - 10 ha), trang trại có quy mô lớn (10 - 30 ha) và trang trại
quy mô rất lớn (>30 ha).

quê để canh tác.
1.6. Vai trò của việc phát triển kinh tế trang trại
Ở những nước phát triển, các trang trại là mô hình phát triển chủ yếu, có vị trí đặc
biệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp, có vai trò to lớn và quyết định
trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng sản xuất ra phần lớn sản phẩm nông nghiệp
trong xã hội, tiêu thụ sản phẩm cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho
chế biến và thương nghiệp.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, vai trò và hiệu quả phát triển của KTTT phải
được đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt: hiệu quả về mặt kinh tế, hiệu quả về mặt xã
hội và hiệu quả về mặt bảo vệ môi trường.
Phát triển KTTT có vai trò vô cùng to lớn, cụ thể:
Vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, góp phần đưa sản xuất nông
nghiệp tiến lên CNH - HĐH.
KTTT là một bước phát triển mới của nền sản xuất xã hội, là nhân tố mới ở nông
thôn, là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực kinh tế hộ nông dân, là sự đột phá
trong bước chuyển qua sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tạo ra sức sản xuất mới, có khả
năng và đã tạo ra khối lượng lớn về nông sản hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu.
KTTT làm ra sản phẩm để bán theo yêu cầu của thị trường nên kích thích sản xuất
và đòi hỏi cạnh tranh để tồn tại, phát triển. Do đó, các trang trại phải nâng cao năng
xuất lao động, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh… Muốn
vậy, các trang trại phải biết đầu tư quy mô sản xuất hợp lí, đầu tư khoa học công nghệ,
11
máy móc thiết bị, tăng cường quản lí… Như vậy, KTTT đã góp phần thúc đẩy nhanh
việc sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn.
Sự tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trại phải sử dụng máy móc để sản xuất, cơ
giới hóa khâu làm đất và vận chuyển sản phẩm, cơ khí hóa khâu thu hoạch, khâu bơm
nước tưới, chủ động nguồn nước tưới, điện… Vì vậy, KTTT đã tạo điều kiện để đưa
nông nghiệp đi dần vào CNH - HĐH, tạo tiền đề đi lên sản xuất hàng hóa lớn.
Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong

động thời vụ.
KTTT đòi hỏi đầu tư lớn để sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường
trong và ngoài nước nên có tổng doanh thu lớn, nộp thuế cho Nhà nước khá nhiều.
Ngoài việc góp phần làm giàu đất nước, KTTT đã mở ra khả năng làm giàu cho các
hộ gia đình nông dân. Kết quả và hiệu quả KT - XH rõ nét nhất là các chủ trang trại đã
biến những vùng kinh tế trù phú, mang đậm tính chất sản xuất hàng hóa quy mô lớn,
đầu tư cao, phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống và sinh hoạt của
nông dân, tận dụng sức lao động, tạo việc làm cho dân để phát triển sản xuất nông -
lâm - ngư nghiệp, tạo thêm nhiều của cải vật chất cho xã hội, làm giàu đất nước, cho
chính bản thân của mình.
Vai trò sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai.
Bên cạnh lợi ích về kinh tế còn có lợi ích về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường. Phát triển KTTT đã góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên
nông nghiệp như đất, mặt nước, thời tiết, khí hậu, đưa đất đai hoang hóa vào phát triển
sản xuất, nhất là vùng trung du, miền núi và ven biển. Ngoài ra, trang trại còn góp
phần tăng nhanh diện tích rừng bao phủ, bảo vệ môi trường sinh thái thông qua việc
trồng và bảo vệ rừng, tận dụng mặt nước nuôi trồng thủy sản…
1.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại
1.7.1. Vị trí địa lí
Vị trí địa lí có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển KTTT. Trước hết được thể
hiện ở việc hình thành cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại phục vụ cho việc vận chuyển
hàng hóa nông sản của các trang trại. Vị trí địa lí còn là lợi thế so sánh để thu hút vốn
đầu tư cũng như điều kiện để đa dạng hóa các hoạt động sản xuất của trang trại. Chúng
ta có thể nhận thấy, khi một trang trại ra đời, ngoài các điều kiện tự nhiên, KT - XH…
thì điều mà một trang trại cần quan tâm là vị trí địa lí, nơi có thể phát triển loại hình
trang trại nào?
13
1.7.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Đất đai, khí hậu, nguồn nước, địa hình… với tư cách là tài nguyên nông nghiệp sẽ
quyết định đến các loại hình trang trại phù hợp với từng khu vực, từng vùng cụ thể và

phát triển KTTT.
d. Nguồn nước
Nước có vai trò rất lớn trong quá trình phát triển KTTT vì đối tượng sản xuất của
các trang trại là các cơ thể sống nên nước là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của sinh vật.
Những khu vực có nguồn nuớc phong phú còn là điều kiện thuận lợi để hình thành
và phát triển trang trại nuôi trồng thủy sản, đảm bảo tốt công tác thủy lợi, tưới tiêu cho
cây trồng. Trong khi đó những vùng hạn chế về nguồn nước sẽ gây khó khăn về thủy
lợi, năng suất cây trồng, vật nuôi…
e. Sinh vật
Đối tượng sản xuất của các trang trại là cây trồng, vật nuôi. Bất kì một hình thức
sản xuất nông nghiệp nào cũng đều phải dựa vào hệ thống cây con. Vì vậy, sự đa dạng
của cây trồng, vật nuôi tạo nên sự phong phú và đa dạng trong từng loại hình trang
trại.
Việc sử dụng, khai thác hợp lí các điều kiện tự nhiên vốn có vào phát triển KTTT
sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Trồng cây gì, nuôi con gì và nuôi trồng như thế
nào để mang lại hiệu quả cao trên khu vực đó là vấn đề mà các trang trại cần hướng
đến.
1.7.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân cư và nguồn lao động
Dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất và tiêu thụ nông sản
của các trang trại.
Chất lượng của lao động được coi là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại. Sự tập trung, phân bố của dân cư có
ảnh hưởng đến việc tiêu thụ các sản phẩm nông sản của trang trại và quá trình vận
chuyển nông sản.
Các phẩm chất, truyền thống sản xuất, tiêu dùng và truyền thống văn hóa của dân
cư cũng ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất của các trang trại.
15
b. Cuộc cách mạng KHKT trong nông nghiệp

a. Đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn
Đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn có tác động rất lớn tới sự
phát triển nông nghiệp nói chung và KTTT nói riêng, nhất là trong xu thế phát triển
nông nghiệp dựa trên nền tảng của KTTT.
Hệ thống các chính sách như đất đai, thuế, vốn, công nghệ, môi trường… tác động
trực tiếp vào quá trình hình thành và phát triển của các trang trại. Đồng thời các chính
sách quản lí, điều hành của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các
trang trại hoặc là kìm hãm hoặc là thúc đẩy.
b. Vốn đầu tư
Nguồn vốn có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển và phân bố của các trang
trại. Nguồn vốn tăng nhanh, được phân bố và sử dụng có hiệu quả sẽ có tác dụng đối
với việc tăng trưởng và mở rộng sản xuất của các trang trại.
Việc sử dụng nguồn vốn để đầu tư và áp dụng mạnh mẽ khoa học kĩ thuật, công
nghệ vào sản xuất sẽ thúc đẩy KTTT phát triển.
Tuy nhiên, do mang các đặc điểm của nông nghiệp: phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên, thường mang tính chất bấp bênh… nên việc thu hút đầu tư đối với các trang
trại đang còn là vấn đề hết sức khó khăn.
Tóm lại, KTTT chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố, trong các nhân tố trên thì
nhân tố KT - XH đóng vai trò quyết định đến sự phát triển KTTT, còn nhóm nhân tố tự
nhiên là cơ sở tiền đề quan trọng để phát triển KTTT.
1.8. Thực tiễn phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam và ở Quảng Trị
1.8.1. Phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Theo số liệu của Bộ NN&PTNN, tính đến giữa năm 2012, cả nước có khoảng
160.103 trang trại, bình quân mỗi tỉnh có 2.541 trang trại, chủ yếu tập trung ở Đồng
bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng.
Số trang trại của nước ta mỗi năm tăng thêm khoảng 8.700 trang trại từ năm 2000 đến
2012. KTTT phát triển nhanh ở những địa phương có nhiều quỹ đất nông, lâm nghiệp
và diện tích mặt nước chưa sử dụng hay vùng kinh tế năng động.
Hiện nay, cơ cấu các loại trang trại có sự chênh lệch: 47,2% trang trại trồng trọt
nông nghiệp; 29,1% trang trại nuôi trồng thủy sản; 13,3% trang trại chăn nuôi; 0,7%

tư một lượng vốn lớn để mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh. Năm 2012, bình
quân mỗi trang trại được đầu tư hơn 295 triệu đồng.
18
Trong những năm qua, mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế
giới và suy giảm kinh tế trong nước, các trang trại vẫn tiếp tục được đầu tư đáng kể. Ở
khu vực miền Đông Nam Bộ, có trang trại được đầu tư 1,14 tỉ đồng/năm, các trang trại
ở Tây Nguyên cũng có vốn đầu tư từ 269 đến 300 triệu đồng/năm. Ngoài nguồn vốn tự
có (khoảng 85%), các chủ trang trại còn vay tiền từ ngân hàng, huy động vốn của
người thân để mở rộng và phát triển.
Trang trại phát triển đã thu hút một lượng lao động đáng kể vào làm việc, nhất là ở
vùng nông thôn, miền núi. Nếu như năm 2001, các trang trại đã thu hút được 374.701
lao động vào làm việc, thì đến năm 2007 số lượng này tăng lên là 488.277, năm 2009
đạt con số trên 510.000 lao động và năm 2012 là 536.302 lao động, trong đó lao động
của chủ trang trại chiếm khoảng 40%, còn lại là lao động thuê ngoài. Với nhiều địa
phương khi đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, thì các trang
trại đã góp phần tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người dân, đặc biệt là ở khu vực
đồng bằng sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ. Lao động làm thuê
được trả công trung bình là 50.000 đồng/ngày. Ở những trang trại cao su, hồ tiêu, cà
phê hay nuôi trồng thủy sản còn được trả cao hơn và được thưởng thêm.
Như vậy, KTTT những năm qua đã có bước phát triển tốt, đây là một bước phát
triển mới của kinh tế hộ gắn với mục tiêu sản xuất hàng hoá quy mô lớn, góp phần
thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng
tăng nhanh tỉ trọng sản xuất hàng hoá, tạo ra các vùng sản xuất tập trung làm tiền đề
cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, đưa công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ
vào nông thôn, tăng tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh
thái.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, KTTT cũng đang gặp những khó khăn. Đó là
vấn đề ruộng đất, mở rộng quy mô canh tác. Hiện nay, giá đất, nguyên vật liệu xây
dựng cơ sở hạ tầng cao, nhiều nông dân không có tiền để đầu tư. Thị trường tiêu thụ
sản phẩm bấp bênh, nhất là vào vụ thu hoạch rộ, người nông dân thường bị tư thương

nên đã khai thác tốt nguồn vốn đầu tư trong dân. Tính đến năm 2012 đã chi ra trên
51,2 tỉ đồng, trong tổng số vốn hiện có thì vốn chủ trang trại lên tới 30 tỉ đồng, vốn
vay ngân hàng là 21,2 tỉ đồng, bình quân 1 trang trại có vốn đầu tư gần 60 - 80 triệu
đồng.
Nhìn chung, quy mô trang trại ở Quảng Trị chưa lớn so với bình quân chung của cả
nước, nhưng bước đầu KTTT đang tạo đà phát triển kinh tế ở nông thôn, thực hiện
20
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn toàn diện hơn, mạnh mẽ hơn. Tuy
có nhiều trang trại đang ở thời kỳ xây dựng cơ bản, mới hình thành chưa lâu song
KTTT đã tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá tương đối lớn. Theo kết quả điều
tra năm 2012 tổng thu nhập của kinh tế trang trại đạt 26,7 tỉ đồng, tỉ suất hàng hoá của
KTTT đạt gần 82,6% quả là khá cao so với nhiều địa phương trong cả nước.
Tuy nhiên, thực trạng phát triển KTTT ở nhiều vùng còn bộc lộ những hạn chế cần
tháo gỡ, đó là: sự thiếu quy hoạch, kế hoạch đồng bộ với phát triển KT - XH gắn với
xây dựng mô hình KTTT, tính tự phát còn cao. Một số trang trại đang sử dụng đất
chưa được nhà nước giao quyền sử dụng lâu dài, dẫn đến chủ trang trại chưa yên tâm
bỏ thêm vốn đầu tư để khai thác có hiệu quả quỹ đất. Quy mô trang trại còn nhỏ, chỉ
mới đạt 2,7 ha/1 trang trại trồng cây nông nghiệp, 35 ha/1 trang trại lâm nghiệp và
3ha/1 trang trại nuôi trồng thuỷ sản và mới chỉ có 3,2 lao động làm việc trong 1 trang
trại trong khi đó, bình quân toàn quốc là 6,2 lao động/1 trang trại. Tỷ suất hàng hoá
mới đạt 82,6% (toàn quốc là 92,6%). Vốn đầu tư cũng hạn chế mới đạt 59,4 triệu
đồng/1 trang trại, trong khi bình quân cả nước đạt 136,5 triệu đồng/1 trang trại. Việc
tiếp thu tiến bộ khoa học kĩ thuật ở các trang trại còn chậm, nuôi trồng thuỷ sản theo
lối quảng canh, hiệu quả thấp. Trình độ quản lí, kĩ thuật của nhiều chủ trang trại còn
thấp, lực lượng lao động hầu hết là trình độ phổ thông, giản đơn. Sản phẩm hàng hoá
chưa nhiều, tiêu thụ ở dạng thô, giá cả bấp bênh, cơ sở hạ tầng ở nhiều vùng còn quá
yếu kém. Mặt khác, cấp uỷ và chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức và chưa
thực sự tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển KTTT ở Quảng
Trị.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở

Huyện Cam Lộ mang sắc thái của vùng chuyển tiếp địa hình từ dãy Trường Sơn
thấp dần ra biển, độ cao địa hình từ 50 - 400 m với ba tiểu vùng rõ rệt:
- Vùng núi thấp ở phía Tây - Tây Bắc gồm các xã Cam Thành, Cam Tuyền có địa
hình nghiêng về phía Đông, độ dốc lớn, thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp.
- Vùng gò đồi gồm các xã Cam Chính, Cam Nghĩa mang sắc thái tiểu vùng cao
nguyên, đây là vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài ngày.
- Vùng đồng bằng dọc theo hai bờ sông Hiếu thuộc các xã Cam An, Cam Thanh,
Cam Thủy, Cam Hiếu và thị trấn Cam Lộ, thích hợp cho phát triển các cây công
nghiệp ngắn ngày và cây lương thực.
 Sự phân hóa địa hình thành các dạng nối tiếp nhau tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển liên hoàn các thế mạnh về nông - lâm - ngư nghiệp dưới hình thức các trang
trại một cách có hiệu quả. Khu vực núi thấp, gò đồi có thể phát triển các trang trại
trồng cây lâu năm, trang trại chăn nuôi… Khu vực đồng bằng phát triển các trang trại
trồng cây hằng năm, trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ… Mặt khác, địa hình có
có sự chia cắt gây khó khăn cho việc khai thác các trang trại trên quy mô lớn, xây
dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, mạng lưới điện…
22
b. Khí hậu
Khí hậu của huyện Cam Lộ chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu Đông Trường Sơn.
Qua phân tích số liệu theo dõi nhiều năm của trạm khí tượng Đông Hà, khí hậu Cam
Lộ có những đặc trưng sau:
- Nhiệt độ trung bình 24
0
- 25
0
C, tháng thấp nhất là 18,9
0
C (tháng 1, 2), tháng cao
nhất 30,3
0

độ sâu từ 6m - 30m có mạch nước ngầm liên thông thuận lợi cho việc đào giếng,
khoan giếng dùng trong sinh hoạt hoặc phục vụ sản xuất.
 Với mạng lưới thủy văn dày đặc đã tạo thuận lợi cho việc cung cấp nước cho
các trang trại trong mùa khô.
23
d. Đất đai
Đất ở huyện Cam Lộ chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng, chiếm 84% diện tích, tiếp đến
là 69,7% diện tích đất tự nhiên, đất tự nhiên có tầng đất dày phù hợp phát triển cây
trồng ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế.
Diện tích đất nông nghiệp chiếm 80% diện tích tự nhiên của huyện.
Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Cam Lộ năm 2008, 2012
(ĐVT: %)
Các loại đất 2008 2012
Đất trồng cây hàng năm 9,72 11,29
Đất trồng cây lâu năm 8,14 9,35
Đất lâm nghiệp 62,49 59,38
Đất nuôi trồng thủy sản 0,31 0,38
Đất khác 19,34 19,6
Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Cam Lộ
Năm 2008 Năm 2012
 Đất nông nghiệp của huyện lớn là điều kiện rất thuận lợi để phát triển các trang
trại với quy mô lớn.
2.1.3. Kinh tế - xã hội
a. Kinh tế
Cam Lộ là huyện thuần nông với xuất phát điểm thấp nên kinh tế còn gặp nhiều
khó khăn. Tuy nhiên, bằng những nỗ lực của mình, trong những năm gần đây kinh tế
của huyện đã đạt được những thành tựu quan trọng. Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh
tế đạt 9,1%, trong đó: nông - lâm - thủy sản 7,2%; công nghiệp - xây dựng 8,5%; thương
mại - dịch vụ 10,9%. Thu nhập bình quân đầu người trên một năm là 14,4 triệu đồng.
Sản xuất công nghiệp: Với quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp thì trên địa bàn

năm trước 2.675 tấn; sản lượng lạc: 1386,3 tấn, đạt 76,6% kế hoạch, tăng so với năm
trước 485,3 tấn.
Thương mại - Dịch vụ: Phát triển ổn định, các hộ kinh doanh, buôn bán chấp hành
đúng pháp luật và các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước; lưu thông hàng hóa thông
suốt, kịp thời, đảm bảo phục vụ nhu cầu của nhân dân, nhất là các dịp lễ Tết. Tổ chức
đấu giá gần 200 lô quầy và chuyển các hộ kinh doanh sang Chợ Sòng tại xã Cam
Thanh để kinh doanh ổn định. Hiện năm 2012 có 2.001 cơ sở kinh doanh về lĩnh vực
thương mại, tăng 10% so với cùng kì năm trước. Doanh thu thương mại, dịch vụ ước
thực hiện 146.290 triệu đồng, tăng 10,9% so với cùng kì năm trước.
b. Dân số và nguồn lao động
Dân số: Dân số trung bình của huyện năm 2012 có 44.720 người, chiếm khoảng
7,4% dân số toàn tỉnh. Tốc độ tăng dân số 5 năm giai đoạn 2006 - 2009 là 1,07% (giai
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status