hợp đồng bảo hiểm - Pdf 22

Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, nhu cầu bảo hiểm cũng ngày
càng cao. Quá trình phát triển mấy trăm năm của bảo hiểm đã ghi nhận vai trò và
những đóng góp to lớn của bảo hiểm trong việc ổn định, thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế xã hội, vị thế của bảo hiểm càng đợc nâng cao trong các ngành kinh tế
quốc dân. Ngày nay, sự phát triển nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật,
quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá diễn ra nhanh chóng đã làm thay đổi sâu sắc bộ
mặt của ngành bảo hiểm. Những thách thức của thị trờng bảo hiểm là rất khó kiểm
soát, cạnh tranh ác liệt và những thay đổi lớn về cơ cấu kết hợp với nhau là những nét
đặc trng của hoạt động bảo hiểm.
ở Việt Nam hoạt động bảo hiểm phát triển khá mạnh trong vài năm gần đây từ
khi chúng ta chính thức mở cửa thị trờng bảo hiểm. Các lĩnh vực, các nghiệp vụ và
các sản phẩm bảo hiểm ngày càng đợc mở rộng, các hợp đồng bảo hiểm đợc kí kết
ngày càng nhiều. Tuy vậy, bảo hiểm Việt Nam vẫn cha phát triển tơng xứng qui mô
của nó và cũng cha có một qui chế pháp lý vững chắc, một hệ thống pháp luật hoàn
thiện tạo cơ sở pháp lý cho thị trờng bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và có
hiệu quả. Với mong muốn đợc đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về
vấn đề bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm, giúp cho các cán bộ pháp lý có thêm cách
nhìn mới và hiểu rõ hơn về bản chất và những vấn đề cơ bản của hợp đồng bảo hiểm
từ đó đề ra những hớng xây dựng luật cũng nh áp dụng các qui phạm pháp luật về
bảo hiểm một cách chính xác và hiệu quả tôi đã chọn đề tài Hợp đồng bảo
hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là đề tài còn rất mới mẻ và có rất nhiều vấn đề phức tạp.
Tuy đây cha phải là một công trình nghiên cứu hoàn thiện song tôi đã cố gắng đề cập
đến những vấn đề chủ yếu, then chốt nhất của hợp đồng bảo hiểm nói chung có gắn
với thực tiễn cho phù hợp.
Với trình độ và sự hiểu biết có hạn nên chắc chắn tôi không thể tránh khỏi
những sơ suất. Rất mong đợc bạn đọc và các thầy cô giáo góp ý để bản Luận văn của
tôi ngày càng hoàn thiện hơn.
1
Ch ơng I

Cho dù con ngời có chú ý đến biện pháp phòng ngừa nhng những rủi ro, tai nạn
vẫn có thể xảy ra nh động đất, núi lửa. Những thiệt hại do thiên tai gây ra không thể
buộc cá nhân hay tổ chức nào đó bồi thờng đợc vì không ai có lỗi. Biện pháp cứu trợ
lại kém hiệu quả đối với trờng hợp thiệt hại do thiên tai gây ra quá lớn. Hay trờng
hợp xảy ra thiệt hại nhng không tìm ra thủ phạm hoặc thiệt hại xảy ra do lỗi của
chính ngời bị thiệt hại khiến họ bị đẩy vào thế suy kiệt kinh tế.
2
Trong bối cảnh đó hình thức bảo hiểm ra đời để giải quyết cơ bản những hạn
chế đó. Biện pháp bảo hiểm đợc thực hiện thông qua hoạt động lập và sử dụng quĩ
bảo hiểm nhằm bù đắp thiệt hại, khắc phục hậu quả của các rủi ro. Vậy tại sao bảo
hiểm lại có khả năng khắc phục đợc những thiệt hại to lớn đó. Để trả lời câu hỏi này
ta tìm hiểu vai trò của bảo hiểm.
II. Vai trò của bảo hiểm
1. Bảo hiểm là công cụ để xử lý rủi ro, duy trì đời sống và hoạt động bình thờng
của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Hoạt động bảo hiểm đợc thực hiện theo phơng thức lấy ít của số đông bù cho
số ít đã tập trung đợc một lợng của cải cần thiết có khả năng bù đắp thiệt hại cho
các tổ chức và cá nhân gặp rủi ro thuộc diện đợc bảo hiểm. Chính vậy mà việc tham
gia bảo hiểm tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân trong xã hội có thể duy trì đời
sống và hoạt động bình thờng khi gặp rủi ro. Ngay cả khi thiệt hại quá lớn hay không
tìm thấy ngời gây thiệt hại thì bảo hiểm cũng đảm bảo đợc khả năng bồi thờng thiệt
hại. Và vì một thiệt hại khi xảy ra trong phạm vi bảo hiểm đã đợc chia sẻ cho nhiều
ngời cùng gánh chịu nên tác hại của hiểm hoạ không còn lớn nh khi chỉ có một số ít
ngời phải gánh chịu toàn bộ.
Vai trò to lớn của bảo hiểm trong đời sống, sản xuất kinh doanh thể hiện là:
+ Đem lại tâm lý an tâm về mặt tài chính trớc các nguy cơ xảy ra gây thiệt hại.
+ Nhanh chóng đợc bồi thờng tổn thất khi rủi ro gây thiệt hại.
+ Giúp doanh nghiệp, cá nhân tự tin trong việc mở rộng sản xuất, kinh doanh
hoặc tham gia vào lĩnh vực đầu t mới.
Quĩ bảo hiểm tập trung đợc coi là nguồn bảo đảm tài chính vững chắc cho các

2. Bảo hiểm nâng cao khả năng ngăn ngừa rủi ro và hạn chế hậu quả phát
sinh từ rủi ro đối với nền kinh tế và đời sống xã hội.
Trong nhiều loại hình bảo hiểm nh bảo hiểm thơng mại, lúc đầu là tập quán sau
đó trở thành qui tắc xử sự đợc pháp luật ghi nhận, những ngời tham gia bảo hiểm
(bên mua bảo hiểm) phải thực hiện những biện pháp để phòng ngừa rủi ro và hạn chế
hậu quả khi xảy ra rủi ro. Pháp luật của các nớc đều có các qui định về nghĩa vụ của
ngời tham gia bảo hiểm trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn
chế hậu quả. Nếu ngời tham gia bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ này thì tuỳ mức độ mà bị
bên bảo hiểm từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thờng bảo hiểm. Chính vì
vậy, khi tham gia quan hệ bảo hiểm, các tổ chức và cá nhân tích cực thực hiện các
biện pháp phòng tránh, hạn chế hậu quả của rủi ro.
3. Bảo hiểm là công cụ tập trung vốn
Quĩ bảo hiểm đợc hình thành trên cơ sở phí bảo hiểm do các tổ chức và cá nhân
tham gia bảo hiểm đóng và đợc sử dụng chi trả khi có sự kiện bảo hiểm. Do phơng
thức sử dụng quĩ nh vậy nên tạo ra khả năng tạm thời nhàn rỗi của vốn tiền tệ. Số vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi này đợc các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để tham gia các
quan hệ đầu t. Nh vậy, về phơng diện vốn, các quĩ bảo hiểm là những tụ điểm tài
chính cần đợc khai thác, sử dụng phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế.
Với tốc độ phát triển kinh tế hiện nay, bảo hiểm phải đóng vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ đầu t bằng cách cung cấp những sản phẩm bảo hiểm có chất lợng
cao và an toàn. Nhiều công trình đợc các cơ quan tài chính quốc tế và trong nớc cung
cấp tài chính đến 75-90%. Những ngời cho vay tiền muốn chuyển giao rủi ro càng
nhiều càng tốt và điều đó đòi hỏi bảo hiểm phải có khả năng đáp ứng. Trong tình
4
hình đó vai trò của bảo hiểm hay vai trò của chuyển giao rủi ro và sự phát triển thói
quen quản lý rủi ro trở lên ngày càng quan trọng.
Ngời ta cho rằng nền văn minh Âu Mỹ có thể phát triển mạnh và tồn tại lâu dài
trong điều kiện thiên nhiên và xã hội có nhiều hiểm hoạ nh hiện nay là do nền kinh tế
hàng hoá cùng với bảo hiểm ở đây đã sớm hình thành và phát triển mạnh hơn các nơi
khác. Trong khi ở nhiều nơi trên thế giới khái niệm bảo hiểm còn mới lạ thì ở các n-

Từ thế kỷ 14, bảo hiểm chính thức ra đời, đầu tiên là ở Phơ lo ren xơ, Genois và
Flauder. Xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm mà theo đó một nhà bảo hiểm cam kết với
5
một ngời đợc bảo hiểm qua việc nhận đợc một khoản phí, bồi thờng những thiệt hại
về tài sản mà ngời đợc bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển.
Khi đó ở Gene, vào năm 1336, thống đốc đã ra sắc lệnh về bảo hiểm. ở Bồ Đào
Nha, một chỉ dụ của Vua Ferdinand vào nửa thế kỷ sau thế kỷ 14, thiết lập bảo hiểm
tơng hỗ bắt buộc đối với chủ tàu 500 tấn trở lên. Còn ở Bruge (Bỉ) Uỷ ban
BETHUNE năm 1310, thiết lập phòng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm cổ xa nhất mà
ngời ta tìm thấy ghi ngày 22 tháng 4 năm 1329, hiện còn lu giữ ở Plorenxơ. Sự phát
triển của bảo hiểm hàng hải gắn cùng với sự phát hiện ra ấn Độ Dơng và đơng nhiên
cả việc tìm ra Châu Mĩ.
Vào thế kỷ 17, luật về bảo hiểm hàng hải đã ngày càng phong phú bởi các bộ
luật và sắc lệnh. Đặc biệt là cuốn sắc lệnh về hàng hải xuất bản năm 1680 theo
sáng kiến của Cobert. Tác phẩm này ấn hành vào năm 1680 mà hiện nay ta có thể
tìm thấy đợc, đã đa vào các nguyên tắc lớn của bảo hiểm hàng hải hiện đại, đã có ảnh
hởng rất rộng lớn tới nhiều bộ luật hàng hải.
Thế kỉ XVII, nớc Anh đã chiếm vị trí đáng kể trong buôn bán thế giới và cũng
là nơi hoạt động bảo hiểm phát triển nhất. Tiệm cà phê của Lloyds ở phố Tower
street sau này trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm, hiện nay vẫn đang là một
trong những hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới. Đến thế kỉ 20, các qui định của luật
hàng hải Anh ban hành năm 1906 dới tên gọi Luật bảo hiểm hàng hải đã ngự trị
bảo hiểm hàng hải thế giới.
Và từ bảo hiểm hàng hải, các loại hình bảo hiểm khác kế tiếp nhau ra đời xuất
phát từ nhu cầu đợc bảo hiểm của các thơng gia, ngời sản xuất và các tầng lớp dân c.
Có thể nói, hoạt động bảo hiểm phát triển sang nhiều lĩnh vực khác nhau: bảo hiểm
con ngời, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tín dụng,... Giai đoạn đầu bảo hiểm hàng hải rất
phát triển, nên thế giới có phân ra hai loại nghiệp vụ bảo hiểm: bảo hiểm hàng hải và
bảo hiểm phi hàng hải. Đến thế kỉ XVII, bảo hiểm nhân thọ ra đời và rất phát triển,
bảo hiểm lại đợc phân chia thành bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Hai

ngời tham gia bảo hiểm trả cho công ty bảo hiểm một khoản tiền (gọi là phí bảo
hiểm) để khi có tổn thất do thiên tai hoặc tai nạn gây ra thì họ sẽ đợc công ty bảo
hiểm bồi thờng. Chính vì có nhiều ngời đóng phí bảo hiểm nên sẽ tạo ra một quỹ lớn
và công ty bảo hiểm sẽ lấy số tiền từ quĩ này để bù đắp tổn thất cho một số ít ngời
tham gia bảo hiểm. Rõ ràng nếu chỉ có một số ít ngời tham gia bảo hiểm thì sẽ không
lập đợc thành một quỹ lớn và nếu nh rủi ro xảy ra nhiều quá mức thì cũng sẽ không
thể bù đắp đợc thiệt hại. Nên bảo hiểm bao giờ cũng có rất nhiều ngời tham gia và rủi
ro đó cũng không thể là những rủi ro mang tính khách quan. Bằng cách đóng phí bảo
hiểm để tạo ra quĩ lớn thì tổn thất của một ngời, một nhóm ngời hay một tổ chức sẽ
đợc chia nhỏ ra toàn thể cộng đồng những ngời tham gia bảo hiểm. Vì thế mà một
tổn thất lẽ ra rất nặng nếu chỉ có một ngời gánh chịu sẽ trở lên chịu đựng đợc đối với
ngời bị tổn thất nhờ có sự gánh đỡ của cộng đồng những ngời tham gia bảo hiểm.
Xét trên khía cạnh kinh tế, bảo hiểm là một mối quan hệ hợp đồng còn đứng
trên khía cạnh xã hội, bảo hiểm là hoạt động đảm bảo đời sống kinh tế cho các thành
viên trong xã hội trớc các nguy cơ bị mất an toàn về kinh tế do rủi ro gây ra.
Trong bảo hiểm luôn có ba nhân tố đó là: rủi ro - chuyển giao rủi ro - chia nhỏ
tổn thất.
- Rủi ro: là khả năng xảy ra một tổn thất.
Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro nh: do thiên tai, sự phát triển của sản xuất
có thể kéo theo sự thiệt hại lớn hơn khi rủi ro xảy ra; do ảnh hởng của môi trờng xã
7
hội: thất nghiệp,...; do sự phát triển của lực lợng sản xuất, khoa học kỹ thuật,... Bảo
hiểm chỉ xét đến mặt trái của sự phát triển khoa học kỹ thuật, sự phát triển của khoa
học kỹ thuật có thể giúp con ngời hạn chế hoặc kiểm soát một số rủi ro nhất định,
mặt khác nó cũng có thể là nguyên nhân làm cho mức độ tổn thất trở lên trầm trọng
đó là cha kể đến sự bất cẩn của con ngời.
- Chuyển giao rủi ro: có các cách chuyển giao rủi ro:
+ Chuyển giao rủi ro thông qua các biện pháp phi bảo hiểm. Ngời ta có thể thực
hiện thông qua việc ký kết hợp đồng qui định trách nhiệm của mỗi bên khi rủi ro xảy
ra.

có một bên thể hiện ý chí của mình mà không đợc bên kia chấp nhận cũng không thể
hình thành một quan hệ hợp đồng đợc. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống
nhất ý chí giữa các bên thì hợp đồng bảo hiểm mới hình thành. Cơ sở đầu tiên để
hình thành hợp đồng bảo hiểm là việc thoả thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên.
Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ đợc pháp luật công nhận và bảo
vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nớc. Các bên đợc tự do thoả
thuận để thiết lập hợp đồng, nhng sự tự do ấy phải đợc đặt trong giới hạn bởi lợi
ích của ngời khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng.
Thông thờng trong hợp đồng bảo hiểm có hai bên tham gia: bên bảo hiểm và
bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) cũng là bên đợc bảo hiểm. Còn trờng hợp
khác có ba bên tham gia khi hợp đồng đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba. Khi đó có
bên bảo hiểm - bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) - ngời thứ ba (bên đợc
bảo hiểm). Ngời thứ ba có các quyền và nghĩa vụ của ngời đợc bảo hiểm, trừ nghĩa
vụ đóng phí bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm gồm bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt
buộc.
Với hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, các bên tự do thoả thuận về các điều kiện
bảo hiểm và mức phí bảo hiểm. Có thể nói đây là loại hình bảo hiểm mà ý chí của
các bên có quyền định đoạt cao. Còn đối với hợp đồng bảo hiểm bắt buộc, các điều
kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm do pháp luật qui định.
II. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm
1. Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có phát sinh nghĩa vụ có điều kiện
Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng phát sinh hay chấm dứt hậu quả pháp lý phụ
thuộc vào sự kiện là điều kiện của hợp đồng. Khi sự kiện đó xảy ra thì hợp đồng phát
sinh hay chấm dứt hiệu lực. Sự kiện đợc coi là điều kiện của hợp đồng do các bên
9
thoả thuận khi xác lập hợp đồng. Nó phải là sự kiện có thể xảy ra nhng không chắc
chắn phải xảy ra trong tơng lai. Điều kiện làm phát sinh hay chấm dứt hợp đồng phải
hợp pháp. Có hai loại hợp đồng có điều kiện: loại thứ nhất là hợp đồng có điều kiện
phát sinh là hợp đồng đã đợc xác lập nhng chỉ phát sinh hiệu lực thật sự khi có sự
kiện đợc coi là điều kiện xảy ra. Hay nói cách khác hợp đồng đã đợc kí kết nhng cha

mà họ đợc ngời mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm vì lợi ích của mình. Nhng giữa ng-
ời đợc bảo hiểm và bên bảo hiểm lại gần nh không có mối quan hệ nào hoặc là có
nhng rất ít. Quan hệ giữa họ với bên bảo hiểm thờng bắt đầu khi bên bảo hiểm thực
hiện trách nhiệm vật chất và kết thúc khi bảo hiểm thanh toán bồi thờng xong cho
ngời đợc bảo hiểm.
10
B. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm
Đối với hợp đồng dân sự chủ thể của hợp đồng là những ngời tham gia vào
quan hệ hợp đồng đó. Phạm vi ngời tham gia vào hợp đồng bao gồm: cá nhân
(công dân Việt Nam, ngời nớc ngoài, ngời không quốc tịch), pháp nhân, hộ gia đình,
tổ hợp tác và trong trờng hợp đặc biệt là Nhà nớc.
Hợp đồng bảo hiểm gồm có hai chủ thể là bên bảo hiểm và ngời tham gia bảo
hiểm (ngời mua bảo hiểm) cũng đồng thời là ngời đợc bảo hiểm. Trong trờng hợp
hợp đồng đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba thì có ba bên tham gia hợp đồng là:
bên bảo hiểm - ngời tham gia bảo hiểm (ngời mua bảo hiểm) và ngời thứ ba (ngời đ-
ợc bảo hiểm).
I. Bên bảo hiểm
Bên bảo hiểm là tổ chức tham gia hợp đồng bảo hiểm thu phí bảo hiểm đồng
thời chịu trách nhiệm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra gây tổn thất cho đối tợng bảo hiểm.
Sự phát triển của bảo hiểm ở Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay gắn chặt với sự
lớn mạnh của công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt). Từ trớc cho đến năm 1993 Bảo
Việt đợc biết đến là bên bảo hiểm duy nhất, là ngời độc quyền về kinh doanh bảo
hiểm. Công ty bảo hiểm Việt Nam - tiền thân của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
ngày nay ra đời ngày 17 tháng 12 năm 1964 và chính thức đi vào hoạt động ngày
15/1/1965. Ngày đầu Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh ở Hải
Phòng. Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất - nhập
khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm đại lý giám định và xét bồi thờng cho các công ty bảo
hiểm nớc ngoài về hàng hoá xuất - nhập khẩu.
Từ năm 1975, Bảo Việt bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động xuất các tỉnh, thành

độc quyền của Bảo Việt là sự cạnh tranh gay gắt giữa nhiều chủ thể.
Các chủ thể đợc phép tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo Nghị định
này bao gồm:
- Các doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp Nhà nớc, công ty cổ phần,
công ty bảo hiểm tơng hỗ, công ty liên doanh bảo hiểm, chi nhánh của tổ chức bảo
hiểm nớc ngoài, công ty bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam.
- Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) là doanh nghiệp Nhà nớc,
có t cách pháp nhân, có chức năng chuyên kinh doanh tái bảo hiểm.
- Tổ chức môi giới bảo hiểm.
- Đại lý bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm muốn tiến hành hoạt
động kinh doanh bảo hiểm, phải đợc Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn
và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Thống kê về các công ty bảo hiểm tại Việt Nam:
- Từ 1965 đến hết 1993, Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất tại Việt
Nam.
- Năm 1995 công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh và công ty tái bảo hiểm
quốc gia đợc thành lập, thị trờng bảo hiểm Việt Nam bắt đầu có cạnh tranh.
- Từ 1996-1998 có thêm 7 công ty bảo hiểm và môi giới khác đợc thành lập,
trong đó có 3 công ty liên doanh bảo hiểm với nớc ngoài.
12
- Năm 1999, Việt Nam chính thức mở cửa thị trờng bảo hiểm cho các công ty
bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài hoạt động tại Việt Nam. Đã có 5 công ty bảo hiểm
mới đợc thành lập trong đó có 3 công ty 100% vốn nớc ngoài, 2 công ty liên doanh.
- Đến hết tháng 6 năm 2000, có tất cả 16 doanh nghiệp bảo hiểm tại thị trờng
Việt Nam (trong đó có 5 công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ (trong
đó Bảo Việt hoạt động trong cả hai lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân
thọ), 1 công ty tái bảo hiểm, 1 công ty môi giới và 10 công ty bảo hiểm phi nhân
thọ):

với hợp đồng đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba thì ngời đợc bảo hiểm là ngời thứ
ba.
13
III. Ngời thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm ngời thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm xuất hiện khi hợp đồng bảo
hiểm đợc kí kết vì lợi ích của ngời thứ ba.
Ngời thứ ba trong hợp đồng bảo hiểm là ngời vì lợi ích, quyền lợi của ngời đó
khiến ngời tham gia bảo hiểm kí kết hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng tạo ra hai mối quan hệ pháp lý: thứ nhất giữa ngời tham gia bảo hiểm
và bên bảo hiểm, thứ hai giữa bên bảo hiểm và ngời thứ ba.
Giao kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi ích của ngời thứ ba phải đáp ứng một số điều
kiện khi thì liên quan đến các bên giao kết, khi thì liên quan đến ngời thứ ba.
Trớc hết, giữa các bên giao kết phải có một hợp đồng, trong đó bên tham gia
bảo hiểm đã chuyển tất cả các quyền lợi của mình do hợp đồng mang lại cho ngời
thứ ba.
Đối với ngời thứ ba có hai vấn đề đặt ra:
- Có thể giao kết cho một ngời không xác định đợc không? Trờng hợp này có
thể đợc chấp nhận với điều kiện là ngời thứ ba hởng lợi phải có thể xác định đợc vào
ngày mà sự thực hiện hợp đồng có hiệu lực đối với họ. Vậy điều trở ngại cho sự hữu
hiệu của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm vì lợi ích của ngời thứ ba không phải là ng-
ời thứ ba không đợc xác định trong hiện tại mà vì ngời đó không thể xác định trong t-
ơng lai, hay nói cách khác đi không bao giờ có thể xác định đợc. Ví dụ: một tổ chức
xuất khẩu hàng hoá đem bảo hiểm hàng hoá gửi đi cho một thơng gia, nhng thay vì
ghi ngời đợc bảo hiểm là thơng gia nọ, tổ chức này lại ghi rằng ngời đợc bảo hiểm là
chủ sở hữu cuối cùng của hàng hoá với mục đích là để đề phòng khi hàng hoá bị mất
hay h hao dọc đờng thì ngời mua lại hàng hoá đó có thể đợc hởng tiền bồi thờng của
hãng bảo hiểm.
- Có thể thực hiện hợp đồng cho một ngời cha sinh ra đời không?
Sự giao kết cho một ngời thứ bao tơng lai phải coi là sự hữu hiệu nhng hiệu lực
của sự giao kết bị đình chỉ cho tới khi ngời thứ ba ra đời. Trong hợp đồng bảo hiểm

sẽ không bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm các tổn thất liên quan đến hành động cố
ý của ngời đợc bảo hiểm hay ngời đại diện của họ. Cần hiểu rằng không phải mọi
trách nhiệm đều đổ hết lên công ty bảo hiểm mà ngời tham gia bảo hiểm cũng phải
có trách nhiệm trong việc không để xảy ra rủi ro hoặc hạn chế hậu quả của rủi ro
trong phạm vi khả năng của mình do đó khi họ cố ý gây ra rủi ro để hởng bảo hiểm
thì đó là hành vi trục lợi và họ đã không thực hiện trách nhiệm của mình do vậy mà
chính họ phải gánh chịu rủi ro đó.
- Nguyên tắc bảo hiểm đối với rủi ro có tính ngẫu nhiên: điều đó có nghĩa là
những rủi ro đợc bảo hiểm không phải là những rủi ro xảy ra có tính tất yếu trên thực
tế. Những rủi ro đã biết trớc chắc chắn sẽ gây ra thiệt hại không thuộc sự kiện bảo
hiểm vì bảo hiểm chỉ có thể nhận bảo hiểm những rủi ro mang tính chất bất ngờ
không lờng trớc đợc. Điều 6 - Qui tắc bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ
tàu đối với tàu thuyền hoạt động trên sông hồ, vùng nội thuỷ (ban hành kèm theo
Quyết định 254/TCQD ngày 25/5/1990 của Bộ Tài chính) có qui định: Bảo Việt
không chịu trách nhiệm bồi thờng nếu tổn thất xảy ra do nguyên nhân tàu không đủ
khả năng hoạt động .
Trên thực tế nếu rủi ro phát sinh do hành vi của chính ngời tham gia bảo hiểm
thực hiện thì rủi ro đó phải đợc xem xét trong mối liên hệ với lỗi và động cơ của ngời
thực hiện hành vi mới đợc coi là rủi ro đợc bảo hiểm. Ví dụ, trong hợp đồng bảo
15
hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì Bảo Việt sẽ không chịu trách nhiệm
bồi thờng những tổn thất xảy ra do chủ xe (lái xe) vi phạm nghiêm trọng điều lệ giao
thông đờng bộ nh: xe không có giấy phép lu hành; lái xe không có bằng lái hoặc có
bằng lái không hợp lệ; lái xe uống rợu bia, sử dụng ma tuý hoặc các chất kích thích
khác trong khi điều khiển xe; xe chở chất cháy, chất nổ trái phép; xe chở quá trọng
tải hoặc số hành khách qui định; xe đi vào đờng cấm hoặc đi đêm không có đèn (theo
qui tắc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ban hành kèm theo Quyết
định 504/TCBH ngày 20/11/1991 của Bộ trởng Bộ Tài chính). Chỉ trong một số loại
bảo hiểm cá biệt, bên bảo hiểm mới chịu trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho ngời đợc
bảo hiểm khi rủi ro do chính hành vi của họ gây ra với lỗi cố ý. Điều này đợc qui

16
nhằm hạn chế bớt những rủi ro tơng đối rộng có thể xảy ra cho đối tợng bảo hiểm từ
đó mà giữ đợc phí bảo hiểm ở mức hợp lý. Bởi lẽ công ty bảo hiểm khi đa ra mức phí
bảo hiểm bao giờ cũng phải tính toán trên cơ sở xác suất xảy ra rủi ro. Nếu rủi ro
càng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và khi đó sẽ có rất ít ngời chịu đợc mức phí cao
nh vậy. Những điểm loại trừ làm giảm khả năng xảy ra rủi ro nên tất nhiên phí bảo
hiểm cũng đợc giảm xuống. Trong các hợp đồng bảo hiểm, những rủi ro xảy ra do
các nguyên nhân chiến tranh, bạo loạn thờng đợc liệt vào những điểm loại trừ vì
những rủi ro này có tính chất thảm hoạ tàn khốc và hậu quả rất lớn mà một mình
công ty bảo hiểm không thể gánh chịu (riêng đối với bảo hiểm hàng hải có ngoại lệ
là các rủi ro trên có thể trở thành rủi ro đợc bảo hiểm nếu ngời tham gia bảo hiểm có
thoả thuận bảo hiểm thêm những rủi ro này).
II. Tổn thất
Nhìn chung những rủi ro khi xảy ra đều gây tổn thất nhng cũng có khi rủi ro lại
không dẫn đến tổn thất. Sự kiện bảo hiểm là những rủi ro gây tổn thất cho đối tợng
bảo hiểm. Hơn nữa, tổn thất đó phải là hậu quả của rủi ro, rủi ro là nguyên nhân
chính, trực tiếp của tổn thất.
Tổn thất có thể hiểu là những thiệt hại, sự biến đổi theo chiều hớng tiêu cực của
đối tợng bảo hiểm. Một tổn thất khi muốn đợc bảo hiểm thì phải thoả mãn những
điều kiện chính: sự thiệt hại phải chắc chắn, phải cha đợc bồi thờng và phải là hậu
quả trực tiếp của các rủi ro đợc bảo hiểm.
Sự thiệt hại phải chắc chắn: điều đó không có nghĩa là bắt buộc thiệt hại đó phải
đã xảy ra, một sự thiệt hại tơng lai cũng có tính chắc chắn nếu nhất định sẽ xảy ra và
có thể ớc lợng đợc. Trái lại một sự thiệt hại không chắc chắn sẽ xảy ra hoặc chỉ có
tính cách giả định thì không thể đợc bồi thờng. Ví dụ một ngời kí hợp đồng bảo hiểm
để bảo hiểm tính mạng của mình, khi ngời này bị tai nạn nhng không chết ngay mà
theo kết quả giám định do công ty bảo hiểm tiến hành thì sau một tháng nữa ngời đó
chắc chắn sẽ chết. Trờng hợp này thiệt hại (tính mạng) cha xảy ra nhng cũng chắc
chắn và nh vậy phải đợc bồi thờng.
Sự thiệt hại phải cha đợc bồi thờng hoặc bồi thờng cha đủ. Có ba loại bảo hiểm

mất hẳn giá trị sử dụng. Tổn thất ở đây là mức độ lớn nhất không có khả năng khôi
phục lại. Tổn thất toàn bộ khác tổn thất toàn bộ ớc tính. Tổn thất toàn bộ ớc tính là
dạng tổn thất không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế hay vì chi phí cứu hàng, tu
bổ lại hàng hoá, tài sản có thể vợt quá giá trị bảo hiểm (giá trị của tài sản, hàng hoá
đó). Trong trờng hợp xác định tổn thất toàn bộ ớc tính thì chủ hàng (ngời đợc bảo
hiểm) có quyền tuyên bố từ bỏ hàng để đợc bồi thờng nh tổn thất toàn bộ. Ngời bảo
hiểm phải bồi thờng toàn bộ giá trị tài sản, hàng hoá đồng thời đợc quyền sở hữu
hàng hoá đó.
- Căn cứ vào các quyền lợi có mặt: có hai loại là tổn thất riêng và tổn thất
chung.
+ Tổn thất riêng: là tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ ngẫu nhiên gây ra chỉ
liên quan đến từng quyền lợi bảo hiểm riêng biệt. Tổn thất riêng chỉ gây ra thiệt hại
cho quyền lợi của một vài chủ hàng, chủ tài sản trong số rất nhiều chủ hàng, chủ tài
sản. Tổn thất riêng có thể là tổn thất bộ phận, có thể là tổn thất toàn bộ. Tổn thất
riêng rơi vào chủ hàng nào thì chủ hàng đó phải gánh chịu. Tổn thất riêng có thể đợc
bảo hiểm hoặc không đợc bảo hiểm tuỳ thuộc vào điều kiện bảo hiểm.
+ Tổn thất chung là những tổn thất về tài sản vật chất và những chi phí phát sinh
do hành động bảo vệ lợi ích chung của con ngời trong những tình huống, điều kiện
18
cấp bách để cứu tàu và hàng hoá. Tổn thất chung đợc phân bổ cho tất cả các quyền
lợi có mặt cùng gánh chịu bao gồm thiệt hại về vật chất và các chi phí có liên quan.
Các yếu tố xác định tổn thất chung:
Tình huống phải đặc biệt cấp bách, có nguy cơ thực sự đe doạ chuyến hàng.
Nguyên nhân của tổn thất phải do hành động hy sinh cố ý để bảo vệ lợi ích
chung của con ngời.
Tổn thất phải nhằm mục đích cứu vãn cả hành trình.
Tổn thất và chi phí bỏ ra phải hợp lý, phải phù hợp với hoàn cảnh.
Ví dụ: nh hành động hy sinh quyền lợi của một số ít để đảm bảo quyền lợi
chung của các chủ hàng trong hành trình.
Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu những hy sinh dới đây đợc coi là tổn

trị rất khó khăn, phức tạp. Bởi vậy bên bảo hiểm thờng chỉ nhận bảo hiểm đối với
những tài sản có thể xác định chính xác giá trị. Trong thực tế, các hợp đồng bảo hiểm
tài sản có đối tợng bảo hiểm thờng có giá trị lớn và nguy cơ bị rủi ro xâm hại cao.
Đối với những tài sản có giá trị quá lớn nh tàu biển, máy bay thì ngời ta có thể chỉ
bảo hiểm đối với một bộ phận của vật nh thân tàu, thân máy bay,... vì nh vậy thì
khách hàng mới có thể trả đợc phí bảo hiểm không quá cao và cũng đảm bảo khả
năng bồi thờng của công ty bảo hiểm.
Bảo hiểm tài sản phát triển mạnh trên thế giới và ở Việt Nam, các nghiệp vụ bảo
hiểm tài sản ngày càng đa dạng, mở rộng ứng với sự đa dạng của các đối tợng là tài
sản. Ví dụ trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới thì đối tợng bảo hiểm là chiếc xe cơ
giới.
Hiện nay ở Việt Nam phổ biến là các loại bảo hiểm tài sản sau:
- Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu.
- Bảo hiểm thân tàu, thuyền.
- Bảo hiểm về đầu t, xây dựng, lắp đặt.
- Bảo hiểm cây trồng, vật nuôi.
- Bảo hiểm về tín dụng.
- Bảo hiểm cháy.
- Bảo hiểm trộm cớp,...
2. Đối tợng bảo hiểm là con ngời
Con ngời là thành phần cơ bản của đời sống xã hội. Chính vì vậy, con ngời là
đối tợng của nhiều loại bảo hiểm và bảo đảm xã hội. Con ngời là đối tợng của bảo
hiểm đợc xem trên các phơng diện: tính mạng, sức khoẻ, khả năng hoạt động của con
ngời.
Vì đối tợng bảo hiểm là tính mạng, sức khoẻ của con ngời nên không thể xác
định đợc giá trị của đối tợng bảo hiểm.
ở Việt Nam hiện nay chỉ riêng Bảo Việt đã có tới 24 sản phẩm bảo hiểm con
ngời và đang có xu hớng mở rộng gồm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn con ng-
ời, bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật. Đặc biệt lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ là
lĩnh vực mới đang phát triển rầm rộ và đợc coi là sản phẩm khai thác chiến lợc, xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status