nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô nước ngoài - Pdf 22

Lời nói đầu
An toàn giao thông luôn là vấn đề thời sự, mối quan tâm to lớn của Đảng
và nhà nớc ta. Mặc dù đã có những biện pháp mạnh mẽ, đầu t thích đáng để
giảm bớt tai nạn giao thông, những vẫn còn đó những nối đau. Nhất là hiện
nay, đất nớc đang trong thời kỳ đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc nối
liền giao thông giữa các vùng trong cả nớc cũng nh giữa nớc ta với thế giới là
vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết.
Ngay từ sau khi kết thúc chiến tranh thống nhất đất nớc, việc xây dựng
cơ sở hạ tầng, đờng xá giao thông đã không ngừng phát triển một cách mạnh
mẽ, tạo nên một kết cấu hạ tầng vững chắc cho đất nớc, từ đó mà góp phần ổn
định đời sống kinh tế văn hoá cho nhân dân cũng nh đảm bảo cho công cuộc
quốc phòng an ninh bảo vệ tổ quốc Cùng với đà phát triển đó, các ph ơng
tiện giao thông vận tải cũng đã đợc đa vào sử dụng ngày một phong phú hơn
nh : máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ, ô tô, Tuy nhiên với sự cơ động nhanh, vận
chuyển lớn của mình thì ô tô vẫn là phơng tiện đợc phổ biến nhất.
Với sự phát triển chung của đất nớc thì số lợng cũng nh chủng loại ô tô ở
nớc ta đã rất đa dạng. Ôtô không chỉ còn là của riêng nhà nớc mà còn là của
cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp không chỉ là ô tô của ng ời dân, tổ chức
trong nớc mà còn của cả các cá nhân, tổ chức nớc ngoài hoạt động tại Việt
Nam. Việc xuất hiện rất nhiều các thành phần cũng nh các tổ chức sử dụng ô
tô nh thế đã gây lên sự phức tạp trong công tác quản lý. Đây lại là phơng tiện
rất dễ gây tai nạn và thiệt hại do nó gây lên rất lớn, không thể lờng trớc đợc.
Chính vì thế mà việc cần phẩi đảm bảo an toàn cho loại phơng tiện này là hết
sức quan trọng, nhằm giảm bớt những phần nào thiệt hại khi có rủi ro xảy ra,
đặc biệt là đối với những xe ô tô nớc ngoài, bởi những ngời sử dụng nó là
những ngời ngoài nớc, cha hiểu rõ về giao thông trong nớc, ngoài ra nếu
không đảm bảo tôt vấn đề này nó cũng có thể gây ảnh hởng tới vấn đề ngoại
giao của nớc ta.

1
Để đảm bảo an toàn cho mình, các chủ xe nớc ngoài thờng tham gia loại

con ngời ngày càng đợc cải thiện rõ rệt. Trong đó không thể không kể đến
ngành giao thông vận tải mà đặc biệt là giao thông đờng bộ, nhờ sự phát triển
của ngành giao thông vận tải mà hàng hoá đợc lu chuyển dễ dàng và nhanh
chong hơn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất
cũng nh sự phát triển của kinh tế nói chung. Vận chuyển đờng bộ bằng ô tô là
một hình thức vận chuyển rất phổ biến và hiệu quả. Ôtô đợc dùng ở mọi lúc,
mọi nơi trong mọi địa hình với khả năng vận chuyển lớn, là phơng tiện vẩn
chuyển đem lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, vận chuyển bằng ô tô cũng có nhiều
nhợc điểm bất cập nhất là trong quá trình vận chuyển nó mang tính nguy hiểm
cao hơn so với các phơng tiện khác.
Đáng lo hơn khi trong một số năm gần đây số lợng các phơng tiện ô tô
ngày càng tăng trong khi hệ thống đờng xá, cầu cống còn cha kịp phát triển
nh : đờng xá còn chật hẹp, nhiều đoạn bị h hỏng, cha tu sửa kịp và mang tính
tạm thời, nhiều đoạn đờng lại khá nguy hiểm nh các đoạn đờng đèo dốc,
những nơi có mật độ dân c đông đúc 90% là đ ờng khổ hẹp, cha tráng nhựa
hoặc bê tông với 8000 cầu và 150 phà có khả năng thông hành kém, quốc lộ
chính chỉ dài 15000 km. Với điều kiện địa lý phức tạp nh vậy, xác suất xảy ra
các vụ tai nạn giao thông ở nớc ta sẽ có khả năng lớn hơn rất nhiều.
Theo số liệu thống kê của cảnh sát giao thông, trong số các loại phơng tiện
giao thông đờng bộ thì mức độ gây tai nạn giao thông ở ô tô cao hơn mô tô.

3
Cụ thể, cứ 112 xe ô tô có 1 vụ tai nạn giao thông trong khi 526 xe mô tô mới
có 1 vụ tai nạn giao thông. Ô tô vẫn đợc xem là loại phơng tiện có giá trị lớn
đối với các cá nhân, các tổ chức doanh nghiệp, do vậy khi gặp phải tai nạn
thiệt hại mà chủ xe phải gánh chịu sẽ rất lớn, ảnh hởng trực tiếp tới quá trình
kinh doanh, gây khó khăn về mặt tài chính cho họ, nên việc bù đắp bằng tài
chính kịp thời là một nhu cầu hết sức cần thiết.
Nớc ta lại là nớc đang phát triển, hệ thống xe ô tô còn cha đợc đảm bảo
đầy đủ kỹ thuật an toàn, tinh thần trách nhiệm của chủ xe cha cao, phơng pháp

bảo hiểm cho mọi rủi ro bất ngờ xảy ra gây thiệt hại về vật chất của bản thân
chiếc xe đó, trừ những trờng hợp cố ý. Từ đó mà các chủ xe cũng nh bản thân
ngời tham gia giao thông bằng ô tô xe yên tâm hơn khi tham gia giao thông vì
đã có các nhà bảo hiểm lo cho họ nếu chẳng may gặp phải rủi ro không mong
muốn. Qua đây có thể thấy rằng, bảo hiểm vật chất xe ô tô là rất quan trọng và
cần thiết với bất kỳ chủ xe nào trong thời gian lu hành của mình, góp phần
khắc phục những rủi ro và bảo đảm tài sản cho các chủ xe, giúp họ nhanh
chóng ổn định đợc cuộc sống của mình.
2. Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe ô tô
Bảo hiểm vật chất xe ô tô là một hình thức chuyển giao tài trợ rủi ro,
trong đó ngời bảo hiểm chấp nhận gánh vác phần tổn thất tài chính khi rủi ro
xuất hiện. Thông qua việc bồi thờng một cách hợp lý, kịp thời, chính xác,
trung thực đã giúp cho các cá nhân và các tổ chức nhanh chóng khắc phục đợc
thiệt hại. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh gay gắt nh hiện nay,
bảo hiểm vật chất xe ô tô vẫn sẽ là chỗ dựa tinh thần, là lá chắn kinh tế cuối
cùng tạo sự ổn định sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng thể hiện tính cộng
đồng tơng trợ nhân văn sâu sắc. Những tác dụng chủ yếu của nghiệp vụ này
thể hiện:
2.1. Góp phần ổn định tài chính, sản xuất kinh doanh cho các chủ xe
Ô tô là một loại tài sản có giá trị lớn, thậm chí là rất lớn đối với mỗi cá
nhân và tổ chức. Chính vì vậy, nếu xảy ra tai nạn, ngời chủ sở hữu sẽ gặp phải
rất nhiều khó khăn để khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, thông qua việc tham gia
bảo hiểm, các chủ xe sẽ nhận đợc một khoản tiền bồi thờng đầy đủ, nhanh
chóng từ các nhà bảo hiểm, tình trạng khó khăn ban đầu về tài chính do rủi ro

5
gây ra sẽ nhanh chóng đợc giải quyết, nhờ đó các chủ xe có thể trang trải đợc
các chi phí bất ngờ phát sinh vợt quá khả năng tài chính của mình, sớm ổn
định đời sống và rút ngắn thời gian gián đoạn kinh doanh có thể xảy ra.
2.2. Tích cực ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông

Khi triển khai loại hình bảo hiểm này, công ty đã góp phần làm tăng
nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc bởi vì đa số ngời nớc ngoài, các tổ chức nớc
ngoài và các doanh nghiệp nớc ngoài đều đóng phí bằng đồng đô la, một đồng
tiền có giá trị lớn trên thế giới và cần thiết cho nền kinh tế nớc ta.
Hơn nữa, nhờ có dịch vụ bảo hiểm này, các nhà đầu t nớc ngoài sẽ yên
tâm đầu t vốn vào nớc ta, mang theo nguồn ngoại tệ lớn cho đất nớc.
Nh vậy, bảo hiểm vật chất xe ô tô nớc ngoài có rất nhiều tác dụng cả về
kinh tế và xã hội. Nó ngày càng khẳng định đợc tầm quan trọng của mình đối
với sự phát triển kinh tế đất nớc nói chung và sự phát triển của ngành bảo
hiểm nói riêng.
II- Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe ô tô
1. Đối tợng bảo hiểm
Đối tợng của bảo hiểm vật chất xe ô tô là bản thân chiếc xe. Tuy nhiên
các loại xe nh xe dùng để tập đua, tập lái, chạy thử không phải là đối tợng đợc
bảo hiểm nhng nếu có thoả thuận riêng thì có thể đợc bảo hiểm.
Đối tợng đợc bảo hiểm cần có điều kiện là đã đợc cấp giấy chứng nhận
đăng ký, có biển kiểm soát và đợc cấp giấy phép lu hành theo chê độ quy định
kiểm soát của công an và nhà nớc. Cơ quan bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm
chính về bản thân chiếc xe đó gồm: vỏ, máy, trang thiết bị Trong thời gian
lu hành xe phải đợc kiểm tra kỹ thuật định kỳ để đảm bảo an toàn khi tham
gia giao thông, còn ngời điều khiển xe phải có bằng lái phù hợp với loại xe đó.
Đối tợng bảo hiểm vật chất xe ô tô bao gồm tất cả các loại xe ô tô của
ngời Việt Nam và ngời nớc ngoài đang sống, làm việc tại Việt Nam, của các
tổ chức trong nớc và nớc ngoài đang hoạt động tại Việt Nam và của các doanh

7
nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp nớc ngoài đầu t vốn vào Việt Nam, đang
còn giá trị, đảm bảo đợc những điều kiện về mặt kỹ thuật và pháp lý cho sự lu
hành đồng thời có đầy đủ các loại giấy đăng ký xe, biển kiểm soát, giấy chứng
nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trờng, giấy phép lu hành xe do cơ

chiếc xe đợc bảo hiểm trong những trờng hợp sau đây:
Tai nạn do đâm va, lật đổ
Cháy, nổ, bão, lũ lụt, sét đánh, động đất, ma đá
Mất cắp toàn bộ xe
Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên
Ngoài việc đợc bồi thờng những thiệt hại vật chất xảy ra cho xe đợc bảo
hiểm trong những trờng trên , các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe
tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:
Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các
rủi ro đợc bảo hiểm.
Chi phí bảo vệ xe và kéo xe bị thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất.
Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm .
Tuy nhiên, trong mọi trờng hợp, tổng số tiền bồi thờng( bao gồm cả chi
phí) của công ty bảo hiểm không vợt qúa số tiền bảo hiểm đã ghi trên giấy
chứng nhận bảo hiểm.
2.2. Rủi ro loại trừ
Công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm và không chịu bồi thờng cho
những thiệt hại vật chất của xe xảy ra do:

9
Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lợng, hỏng hóc do khuyết tật
hoặc h hỏng thêm do sửa chữa.Hao mòn tự nhiên thờng đợc tính dới hình thức
khấu hao và thờng đợc tính theo tháng.
H hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị( kể cả máy thu thanh
điều hoà nhiệt độ), săm lốp h hỏng mà không do tai nạn gây ra.
Mất cắp bộ phận của xe
Ngoài ra để tránh những nguy cơ đạo đức giả lợi dụng bảo hiểm,
những hành vi vi phạm pháp luật, luật lệ an toàn giao thông hay một sô rủi ro
đặc biệt khác, những thiệt hại, tổn thất xảy ra bởi những nguyên nhân sau
cũng không đợc bồi thờng:

-Loại xe.
-Năm sản xuất.
-Mức độ mới cũ của xe.
-Thể tích làm việc của xi lanh.
v v
Một phơng pháp khác xác định giá trị của xe mà các công ty bảo hiểm
hay áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao, cụ thể:
Giá trị bảo hiểm = Giá trị ban đầu khấu hao + chi phí sửa chữa, đại tu.
Hiện nay trên thị trờng Việt Nam càng ngày càng có nhiều xe ô tô đời
mới đợc nhập từ nớc ngoài về. Do đó giá trị thực tế của xe nhập khẩu đợc tính
nh sau:
GTTT = CIF x (100% +T
S
T
NK
) x (100%+

T
S
T
TTDB
)
Trong đó:

11
+GTTT: Giá trị thực tế của xe.
+CIF: Giá CIF (bao gồm giá mua xe ô tô tại cửa khẩu nớc xuất khẩu
cộng với phí bảo hiểm cho chiếc xe vận chuyển từ nớc ngoài về Việt Nam
cộng với cớc phí vận chuyển )
+T


12
4. Phí bảo hiểm
4.1. Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh
nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phơng thức do các bên thoả thuận trong hợp
đồng bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm và chủ xe có thể thực hiện bảo hiểm theo biểu phí và
mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu do Bộ Tài Chính quy định hoặc có thể
thoả thuận với nhau theo biểu phí và mức trách nhiệm cao hơn hoặc phạm vi
bảo hiểm rộng hơn- biểu phí và mức trách nhiệm mà doanh nghiệp đã đăng
ký với Bộ Tài Chính.
4.2. Phơng pháp xác định phí bảo hiểm
Việc xác định chính xác phí bảo hiểm trong nghiệp vụ bảo hiểm vật
chất ô tô nói riêng và trong các nghiệp vụ bảo hiểm khác nói chung là rất
quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Có nh vậy mới hình thành
đợc quỹ bảo hiểm đủ lớn để bù đắp cho những thiệt hại bất ngờ xảy ra và
những thiệt hại mang tính thảm hoạ nhng đồng thời phí bảo hiểm cũng phải
phù hợp với khả năng tài chính của ngời tham gia.
Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tợng tham gia cụ thể, công ty
bảo hiểm thờng căn cứ vào những nhân tố sau:
Loại xe: do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có độ
rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất đợc tính riêng cho từng loại xe.
Thông thờng, các công ty bảo hiểm đa ra những biểu phí xác định phí bảo
hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại thành
các nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc,
chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa, sự khan hiếm của phụ tùng, trọng
tải xe. Đối với các xe hoạt động không thông dụng nh xe kéo Rơmooc, xe chở
hàng nặng do mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thờng đợc cộng thêm một
tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.


14
+ Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty.
Trờng hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung của công
ty thì áp dụng theo mức phí đặc biệt. Còn nếu mức phí đặc biệt cao hơn hoặc
là bằng mức phí chung tức là tình hình tổn thất của khách hàng cao hơn hoặc
bằng mức tổn thất chung thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung.
Cách tính phí bảo hiểm: giống nh cách tính phí bảo hiểm nói
chung, phí bảo hiểm đợc xác định cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe đợc xác
định theo công thức:
F = f +d
Trong đó:
+ F : phí thu mỗi đầu xe
+f : phí bồi thờng thiệt hại hay phí thuần( thực phí)
+ d : phụ phí (chi phí quản lý, chi đề phòng và hạn chế tổn thất, một
phần bổ xung cho quỹ dự phòng nghiệp vụ, nộp ngân sách cho nhà nớc và chi
khác)
Trong công thức trên f đợc xác định:
i
n
1i
ii
n
1i
C
T*S
f
=

=

+ Luật thuế của nhà nớc.
+ Chi phí quản lý và lãi dự kiến của công ty.
Chính vì phụ thuộc vào nhiều nhân tố nh vậy nên tỷ lệ phí đợc chia làm
2 loại:
R = R
1
+ R
2
Trong đó:
R
1
: tỷ lệ phí thuần
R
2
: tỷ lệ phụ phí
Khi xác định tỷ lệ phí thuần, công ty bảo hiểm thờng căn cứ vào tài
liệu thống kê của một số năm trớc đó:
x100
trước năm các trong thu phí số Tổng
trước năm các trong thường bồi tiền số Tổng
1
R
=

16
Bộ Tài Chính quy định biểu phí bảo hiểm vật chất xe ô tô nh sau:
Phạm vi bảo hiểm Phí bảo hiểm
Bảo hiểm toàn bộ 1.36% số tiền bảo hiểm
Bảo hiểm thân vỏ xe 2.27% số tiền bảo hiểm
Đối với những xe hoạt động mang tính chất thời vụ tức là chỉ hoạt động

Tỷ lệ phí bảo hiểm trên số
tiền bảo hiểm
Bảo
hiểm toàn bộ
Bảo hiểm
bộ phận
Xe mới đã sử dụng <3 năm hoặc gía trị
còn lại từ 70 % trở lên so với giá trị xe mới
1.36% 2.27%
Xe mới đã sử dụng từ 3 đến 6 năm hoặc
gía trị còn lại từ 50% đến 70% trở lên so với giá
trị xe mới
1.55% 2.45%
Xe mới đã sử dụng trên 6 năm hoặc gía trị
còn lại dới 50% so với giá trị xe mới
1.73% 2.64%
- Bảo hiểm bồi thờng theo giới hạn trách nhiệm:
Theo loại bảo hiểm này, chủ xe có thể tuỳ ý lựa chọn tham gia bảo
hiểm cho chiếc xe đợc bảo hiểm theo giá trị nhất định thấp hơn giá trị thực tế
của xe. Khi tính phí bảo hiểm cần lu ý đến các yếu tố sau: giá trị bảo hiểm,
giá trị còn lại, số tiền bảo hiểm để làm cơ sở tính tớn chính xác.
x80%)
GTTT
STBH - GTTT
(100% nbả co phí lệ Tỷ xSTBH hiểm obả Phí
+=
Trong đó:

18
STBH: là số tiền bảo hiểm

Từ 11 đến 20 xe có thể giảm tối đa 10% tổng số phí
Từ 21 đến 30 xe có thể giảm tối đa 15% tổng số phí
Từ 31 đến 50 xe có thể giảm tối đa 20% tổng số phí
* Hoàn phí bảo hiểm
Có những trờng hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm cả năm, nhng trong
năm xe không hoạt động vì lý do nào đó. Trong trờng hợp này, thông thờng
công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm trong những tháng xe không hoạt
động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại đợc tính nh sau:
lại hoàn lệ tỷ x
tháng 12
dộng hoạt không tháng số
xnăm cả phí lại hoàn phí
=
Mỗi công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau nhng thông thờng
tỷ lệ này là 80%.
Nếu chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm khi cha hết thời hạn hợp
đồng thì công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại
của hợp đồng theo công thức trên nhng với điều kiện là chủ xe cha có lần nào
đợc công ty trả tiền bồi thờng.
5. Giám định và bồi thờng tổn thất
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, giám định và bồi thờng đợc xem
là khâu quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh và uy tín của doanh
nghiệp bảo hiểm. Nh chúng ta đã biết, đặc thù của sản phẩm bảo hiểm là vô
hình và có chu trình sản xuất kinh doanh đảo ngợc. Tức là ngay tại thời điểm
mua, khách hàng không thể cảm nhận đợc ngay lợi ích hay tác dụng của sản
phẩm mà đơn giản chỉ nhận đợc lời hứa, lời cam kết của công ty bảo hiểm.
Chỉ đến khi nào có tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm phát sinh thì lúc đó sản
phẩm bảo hiểm mới phát huy tác dụng. Vì vậy, quản lý giám định tốt, đảm
bảo bồi thờng kịp thời đúng với tổn thất thực tế sẽ giảm thiểu những thiệt hại


21
+Tờ khai tai nạn của chủ xe.
+ Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy
chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trờng phơng tiện cơ
giới đờng bộ, giấy phép lái xe.
+Kết luận điều tra của công an hoặc bản sao hồ sơ tai nạn bao gồm: biên
bản khám nghiệm hiện trờng, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn,
biên bản giải quyết tai nạn, biên bản giám định tai nạn.
+ Bản án hoặc quyết định của toà án trong trờng hợp có tranh chấp tại toà
án.
+ Các biên bản xác định trách nhiệm của ngời thứ ba.
+ Các chứng từ xác định thiệt hại do tai nạn: chứng từ xác định chi phí
sửa chữa, thay mới phụ tùng, thuê cẩu kéo ..
Nguyên tắc bồi thờng :
Việc tính toán số tiền bồi thờng của cơ quan bảo hiểm cho các chủ xe
đợc dựa trên cơ sở thiệt hại thực tế của xe. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng khi
chủ xe cung cấp đầy đủ chứng từ hợp lệ. Thông thờng, việc tính toán số tiền
bồi thờng cho thiệt vật chất xe ô tô đợc xác định nh sau:
+ Trờng hợp xe tham gia bằng hoặc dới giá trị thực tế:
xecủa tế thực trị gía
hiểm obả tiền số
xtế thực hại thiệt thường bồi tiền số
=
+ Trờng hợp xe tham gia trên giá trị thực tế
Theo nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm, để tránh việc lợi dụng bảo
hiểm, công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận số tiền bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng
gía trị bảo hiểm . Tuy nhiên, nếu ngời tham gia bảo hiểm cố tình hoặc vô
tình tham gia lớn hơn gía trị bảo hiểm thì trong trờng hợp này số tiền bồi th-

22

- Khi bồi thờng phải trừ khấu hao đã sử dụng hoặc chỉ tính giá trị tơng đ-
ơng với giá trị của bộ phận trớc lúc xảy ra tai nạn. Nếu tổn thất xảy ra trớc
ngày 16 của tháng thì tháng đó không tính khấu hao, nếu từ ngày 16 trở về
cuối tháng thì phải tính khấu hao. Tuy nhiên trong thực tế việc tính khấu hao
chỉ áp dụng cho tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất một tổng thành nào đó.
Trờng hợp thiệt hại xảy ra có liên quan đến bên thứ ba, công ty bảo hiểm
sẽ bồi thờng cho chủ xe và yêu cầu chủ xe bảo lu quyền khiếu nại và chuyển
quyền đòi bồi thờng cho công ty bảo hiểm kèm theo toàn bộ hồ sơ chứng từ
có liên quan.
6. Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe ô tô
6.1. Khái niệm
Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe ô tô là một văn bản pháp lý qua đó bên
bảo hiểm cam kết bồi thờng cho bên đợc bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra gây tổn
thất cho chiếc xe và ngợc lại, bên đợc bảo hiểm cam kết trả khoản phí phù hợp
với mức trách nhiệm và rủi ro mà bên bảo hiểm đã nhận.
Nh vậy hợp đồng bảo hiểm vật chất xe ô tô cũng giống nh các hợp đồng
khác. Nó gồm có hai bên: Bên bảo hiểm chính là các công ty bảo hiểm sẽ đợc
nhận phí bảo hiểm để thiết lập quỹ tài chính và chịu trách nhiệm chi trả bảo
hiểm; bên đợc bảo hiểm là ngời tham gia bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm ký kết
và nộp phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe ô tô có thể đợc ký kết trực tiếp giữa ngời
tham gia bảo hiểm với bên bảo hiểm hoặc ký kết gián tiếp thông qua môi giới,
đại lý dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, nguyên tắc không trái với
các quy định của pháp luật, nguyên tắc bàn bạc thống nhất và nguyên tắc tự
nguyện.
6.2. Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm
6.2.1. Trách nhiệm của bên tham gia

24
- Ngời tham gia bảo hiểm, trớc hết, với t cách là ngời đi mua sản phẩm

Trích đoạn Các tồn tại và nguyên nhân Đối với công tác khai thác Đối với công tác bồi thờng Một số kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status