LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới, bảo hiểm là một ngành đã có từ rất lâu đời. Tại các nước
phát triển bảo hiểm đã cho thấy được vài trò qua trọng trong nền kinh tế và cả
trong đời sống của mọi người dân. Bảo hiểm không chỉ thực hiện việc huy động
vốn cho nền kinh tế mà nó còn góp phần đảm bảo ổn định tài chính cho các cá
nhân, gia đình, cho mọi tổ chức và doanh nghiệp để khôi phục đời sống và hoạt
động sản xuất kinh doanh mỗi khi gặp rủi ro. ở Việt Nam ngành bảo hiểm cũng
đã có hơn 40 năm hoạt động nhưng vẫn còn là một ngành rất mới. Nhưng theo
xu thế phát triển chung và nhu cầu của nền kinh tế, ngành bảo hiểm đã được
quan tâm phát triển một cách đúng đắn. Chỉ trong khoảng 5 năm trở lại đây bảo
hiểm mới dần trở nên quen thuộc đối với đa số người dân Việt Nam. Và ngành
bảo hiểm cũng ngày một chứng tỏ được tầm quan trọng của mình đối với ngành
kinh tế và đang dần đi vào cuộc sống của mỗi người dân.
Hiện nay, trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, vấn đề quan
trọng hàng đầu được đặt ra đó là việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông và vận
tải. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông và vận tải ở nước ta hiện nay vẫn còn
thấp kém chưa đáp ứng được sự gia tăng của các phương tiện giao thông. Vấn
đề tai nạn giao thông đang trở thành vấn đề quan tâm của tất cả mọi người mọi
nhà và toàn xã hội. Nhà nước ta đã có rất nhiều những biện pháp nhằm giảm
thiểu tổn thất do tai nạn giao thông và hỗ trợ những trường hợp bị tai nạn sớm
hồi phục sức khoẻ, phục hồi tài chính hoà nhập cuộc sống cộng đồng. Một trong
số những biện pháp đó là việc triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại
các doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó có nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Và khâu quan trọng nhất trong nghiệp vụ này là giải quyết khiếu nại. Trong thời
gian thực tập tại PJICO em thấy công tác này trong nghiệp vụ bảo hiểm vật chất
xe cơ giới được công ty thực hiện khá hiệu quả. Giải quyết khiếu nại trong
nghiệp vụ này có vai trò rất lớn, không chỉ với công ty mà quan trọng hơn là với
1
những người bị tai nạn. Công tác này được thực hiện càng hiệu quả thì tác dụng
của nó càng to lớn. Vì vậy em đã quyết định chọn đề tài “Nghiệp vụ bảo hiểm
vật chất xe cơ giới ở PJICO và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
theo. Một số gia đình giàu có thì có thể mua xe ô tô gia đình. Một số gia đình
khá giả với số tiền khoảng 50 triệu đồng tích luỹ cộng thêm tiền vay ngân hàng
là có thể kinh doanh vận tải hàng hoá hay hành khách. Còn những gia đình với
thu nhập trung bình cũng chỉ cần 5 – 7 triệu đồng là có thể mua được xe máy để
đáp ứng nhu cầu đi lại. Do đó, số lường xe cơ giới ở nước ta tăng lên không
ngừng và rất nhanh chóng. nhưng bên cạnh đó số vụ tai nạn giao thông đường
bộ và số người chết vì tai nạn cũng tăng nhanh. Như vậy, tai nạn giao thông xảy
ra ngày càng nhiều và số vụ tai nạn tăng theo số lượng xe cơ tham gia giao
thông cùng với số kilômet đường mới được đưa vào sử dụng là điều chăc chắn.
Điều này được thể hiện rõ qua số liệu thống kê trong hai bảng sau:
3
Bảng 1: Số lượng xe tham gia giao thông.
Năm Tổng số ụ tụ Mụ tụ
1992 1.974.261 270.036 1.704.225
1993 2.720.062 292.899 2.427.163
1994 3.330.000 330.000 3.000.000
1995 3.918.935 340.779 3.578.156
1996 4.595.250 386.976 4.208.274
1997 5.244.978 417.768 4.827.210
1998 5.643.000 443.000 5.200.000
1999 6.051.000 465.000 5.586.000
2000 6.965.562 486.608 6.478.954
2001 8.916.134 557.092 8.359.042
2002 10.880.401 607.401 10.273.000
2003 12.054.000 675.000 11.379.000
(Nguồn:”Cục Đường bộ”)
Qua bảng trên ta thấy từ năm 1992 đến năm 2003 tốc độ tăng lượng xe cơ
giới ở nước ta là rất lớn. Số lượng xe đã tăng hơn 6 lần, trung bình mỗi năm tăng
hơn 900.000 xe các loại. Đặc biệt là trong ba năm 2000, 2001 và 2002, mỗi năm
tăng khoảng 2 triệu xe. Trong đó, ôtô mỗi năm tăng khoang 37.000 xe, gấp
thông đường bộ tăng đột biến. Thể hiện: Số vụ tai nạn do xe máy gây ra chiếm
tỷ lệ cao trong tai nạn giao thông đường bộ:
+ Năm 1993: xe máy tăng 42,42% (tăng 722.938 xe, trước đó mỗi năm
chỉ tăng dưới 200.000 xe), số người chết vỡ TNGT tăng 29,9%.
+ Năm 2000: xe máy tăng 11,6% và số người bị chết bắt đầu tăng cao:
12,44%
+ Năm 2001: xe máy tăng 29,61% (1.880.088 xe), số người bị chết vỡ tai
nạn giao thụng đường bộ tăng đột biến: 39.69%.
5
Tai nạn giao thông xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có cả
những nguyên nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan. Nhưng dù cho
nguyên nhân nào thì một điều chắc chắn là khi tai nạn xảy ra thì cả người bị nạn,
người chủ xe, người thân của họ hay doanh nghiệp đều phải chịu những tổn thất
nhất định. Những tổn thất đó đôi khi rất nhỏ nhưng có những lúc nó để lại hậu
quả rất nặng nề, có thể là khiến cho một gia đình bị lâm vào tình trạng khó khăn
hay thậm chí khiến cho một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản. Vì thế
tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hết sức cần thiết. Để khi tai nạn xảy ra gây thiệt
hại lớn về tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho những thiệt hại
đó, đảm bảo cho cuộc sống gia đình hay hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ
xe.
2.Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.
Bảo hiểm xe cơ giới đã đem lại những tác dụng to lớn cho mỗi cá nhân,
mỗi tổ chức kinh tế-xã hội.
2.1.Đối với cá nhân và doanh nghiệp.
Chủ phương tiện giao thông vận tải khi tham gia bảo hiểm sẽ nộp cho nhà
bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm, các khoản phí này sẽ hình thành
quỹ tiền tệ tập trung. Các công ty bảo hiểm sử dụng quỹ này để chi trả cho hoạt
động quản lý kinh doanh và phần lớn là chi bồi thường cho người được bảo
hiểm khi có các tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm. Như vậy, khi có các tổn
thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm chủ phương tiện giao thông vận tải sẽ được
trị sử dụng; xe phải xác định được về mặt giá trị hay lượng hoá được bằng tiền;
xe phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về mặt kỹ thuật và an toàn giao thông theo
quy định của pháp luật; xe phải là một chỉnh thể hoàn chỉnh. Như vậy, đối tượng
bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá trị và được phép
lưu hành trên lãnh thổ quốc gia.
7
Trên thực tế, chủ xe có thể tham gia bảo hiểm cho toàn bộ xe, thường là
với môtô, xe máy hoặc chỉ tham gia bảo hiểm cho một số bộ phận của xe,
thường là với xe ôtô. Bộ phận xe hay tổng thành xe, đối với ôtô có các tổng
thành như: thân vỏ, động cơ, hộp số, hệ thống lái,…
1.2. Phạm vi bảo hiểm.
Phạm vi bảo hiểm là phạm vi giới hạn những rủi ro mà theo thoả thuận
nếu những rủi ro đó xảy ra thì nhà bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho
chủ phương tiện. Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm vật chất xe
cơ giới cũng chỉ nhận bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ gây thiệt
hại phần vật chất thân xe. Thông thường, những rủi ro được bảo hiểm bao gồm:
+ Tai nạn do đâm va, lật đổ;
+ Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá;
+ Mất cắp toàn bộ xe;
+ Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên.
Tuy nhiên, bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
những trường hợp sau:
+ Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết
tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa;
+ Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp mà không do
tai nạn gây ra;
+ Mất cắp bộ phận xe;
+ Chủ xe, lái xe cố ý gây thiệt hại;
+ Chủ xe lái xe vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông(xe
không có giấy phép, lái xe không có bằng lái,…);
phải tính khấu hao.
Giá trị bảo hiểm là cơ sở để người tham gia bảo hiểm xác định số tiền bảo
hiểm. Vì đây là loại hình bảo hiểm tài sản nên về nguyên tắc, chủ xe có thể tham
9
gia với số tiền bảo hiểm lớn nhất bằng giá trị bảo hiểm. Tuy nhiên, chủ xe cơ
giới có thể tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm theo điềm
khoản giá trị thay thế mới nếu được công ty bảo hiểm chấp nhận. Nhưng các chủ
xe thường tham gia bảo hiểm dưới giá trị dưới hình thức bảo hiểm cho một số
tổng thành của xe mà không bảo hiểm cho toàn bộ xe.
3. Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là nhân tố đầu tiên quyết định sự lựa chọn của khách hàng.
Vì vậy việc xác định chính xác phí bảo hiểm sẽ bảo đảm cho hoạt động của
Công ty đồng thời làm tăng tính cạnh tranh cho Công ty trên thị trường bảo
hiểm. Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm cụ thể,
các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:
- Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, xác suất
rủi ro cũng khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất cũng sẽ được tính riêng cho
từng loại xe. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra các biểu xác định phí
bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các loại xe thông dụng thông qua việc phân các
loại xe thành nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ
gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng
khi thay thế.Đối với những loại xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ
moóc, xe chở hàng nặng, do có mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thường được
công thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.
Phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe, mỗi loại xe được tính theo công
thức sau:
P = f + d
Trong đó P: Phí bảo hiểm mồi đầu xe
f: Phí thuần
d: Phụ phí
- Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí
bảo hiểm vì nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Rõ
ràng là những xe chỉ phục vu cho mục đích đi lại thì có xác suất rủi ro thấp hơn
so với những xe dùng vào mục đích kinh doanh vì xe dùng vào mục đích kinh
doanh thương phải đi nhiều và trên một diện rộng hơn xe dùng cho mục đích đi
lại thông thường.
- Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người
thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm. Theo số liệu thống kê cho thấy
các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Do vậy, thường
các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí cho các lái xe trên 50 hoặc 55
tuổi. Tuy nhiên, Với những lái xe quá lớn tuổi thường phải có giấy chứng nhận
sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm.
11
- Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham
gia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm
phí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết
các công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia
bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỉ lệ giảm giá này cho một số năm
không có khiếu nại gia tăng. Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo
hiểm xe cơ giới.
Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là xe chỉ hoạt
động một số ngày trong năm, thì chủ xe chỉ đóng phí cho những ngày hoạt động
theo công thức sau:
Phí bảo hiểm = Mức phí cả năm
*
Số tháng xe hoạt động trong năm
12 tháng
- Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm
nhiều, các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó.
Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính phí được đề cập ở
chủ xe hoặc láI xe phải có trách nhiệm tìm mọi cách cứu chữa, hạn chế tổn thất,
mặt khác phải nhanh chóng báo cho công ty bảo hiểm biết. Chủ xe không được
di chuyển, tháo dỡ hay sửa chữa xekhi chưa chó ý kiến của công ty bảo hiểm,
trừ trường hợp phải thi hành chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền. Điều này cũng
được thoả thuận giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm trong hợp
đồng bảo hiểm.
Ngay khi có thông báo tai nạn, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành giám định
tổn thất với sự có mặt của chủ xe, lái xe hay người đại diện hợp pháp nhằm xác
định nguyên nhân và mức độ thiệt hại. Trong trường hợp hai bên không đạt
được sự thống nhất thì giám định viên chuyên môn sẽ được chỉ định làm trung
gian.
13
4.2.Hồ sơ bồi thường.
Khi yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại vật chất xe, chủ xe phải
cung cấp những tài liệu, chứng từ theo yêu cầu của công ty bảo hiểm, thông
thường gồm có các giấy tờ sau:
- Tờ khai tai nạn của chủ xe;
- Bản sao của giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận đăng ký xe,
giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môI trường phương tiện
xe cơ giới đường bộ, giấy phép lái xe;
- Kết luận kiểm tra của công an hoặc bản sao bộ hồ sơ tai nạn gồm: biên
bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm liên quan đến tai nạn,
biên bản giải quyết tai nạn;
- Các biên bản xác định trách nhiệm của người thứ ba;
- Các chứng từ xác định thiệt hại do tai nạn như chi phí sủa chữa xe, chi
phí thuê cẩu kéo, …
4.3.Nguyên tắc bồi thường tổn thất.
Bồi thương tổn thất cũng phải tuân theo một số quy tắc sau:
Thứ nhất: Trong trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực
tế, số tiền bồi thường được tính như sau:
hiểm xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm thiệt hại như sau:
+ Thân vỏ: 70 triệu đồng
+ Động cơ: 50 triệu đồng.
Theo quy định của các công ty bảo hiểm tỷ lệ giá trị tổng thành như sau: Tỷ lệ
tổng thành thân vỏ 53,5% động cơ 15,5%.
Như vậy trong trường hợp này công ty bảo hiểm sẽ bồi thường như sau:
15
+ Thân vỏ = 300 * 53% = 170 triệu đồng, lớn hơn phạm vi bảo hiểm nên
sẽ bồi thường 70 triệu đồng
+ Động cơ = 300 * 15,5% = 46,5 triệu đồng, bồi thường 46,5 triệu đồng.
Thứ tư:Trường hợp tổn thất toàn bộ.
Xe được coi là tổn thất toàn bộ khi bị mất cắp, mất tích hoặc bị thiệt hại
nặng đến mức không thể sửa chữa được hoặc chi phí sửa chữa phục hồi bằng
hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe. Nếu tổn thất toàn bộ, chủ xe sẽ được bồi
thường theo giá trị ghi trong đơn bảo hiểm.
Ví dụ:
Chủ xe A có chiếc xe ôtô giá trị thực tế 200 triệu đồng tham gia bảo hiểm
toàn bộ với số tiền bảo hiểm là 200 triệu đồng. Theo quy định của công ty chỉ
được coi là tổn thất toàn bộ ước tính khi giá trị thiệt hại bằng hoặc lớn hơn 90%
giá trị thực tế xe. Trong thời hạn bảo hiểm xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm,
chi phí sửa chữa như sau:
+ Thân vỏ thiệt hại 100% chi phí sửa chữa: 100 triệu đồng.
+ Động cơ thiệt hại 100% chi phí sửa chữa: 40 triệu đồng.
Tổng cộng thiệt hại: 140 triệu đồng
Giá trị thiệt hại này nhỏ hơn 90% giá trị thực tế xe (140/200=0,7) nên
không được bồi thường toàn bộ ước tính mà chỉ được bồi thường bộ phận như
trên.
Các công ty bảo hiểm thường quy định khi giá trị thiệt hại so với giá trị
thực tế của xe đạt tới hoặc vượt qua một tỷ lệ giới hạn nhất định nào đó thì được
coi như là tổn thất toàn bộ ước tính tuy nhiên giới hạn bởi bảng tỷ lệ cấu thành
dẫn đến tổn thất. Từ đó, xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất để từ đó đo
lường tổn thất. Kết quả giám định tổn thất là cơ sở để xem xét giải quyết bồi
thường một cách chính xác và thoả đáng. Giám định đúng, chính xác sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường một cách chính xác và
17
thoả đáng nhất, đảm bảo quyền lợi của khách hàng. Qua đó làm tăng uy tín của
doanh nghiệp đối với khách hàng, ngoài ra còn giúp ngăn chặn và giảm bớt được
hiện tượng trục lợi trong bảo hiểm.
Giải quyết bồi thường là việc nhà bảo hiểm sẽ chi trả một khoản tiền nhất
định hay hiện vật cho người tham gia bảo hiểm khi có thiệt hại thuộc phạm vi
bảo hiểm xảy ra. Bồi thường được thực hiện một cách chính xác và nhanh chóng
không chỉ khách hàng sẽ nhanh chóng vượt qua được những khó khăn về tài
chính mà còn giúp doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao uy tín của mình đối với
khách hàng, và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường bảo
hiểm, là cách quảng cáo tốt nhất đối với một doanh nghiệp bảo hiểm.
18
2.Giám định tổn thất.
2.1.Yêu cầu của công tác giám định.
Công tác giám định được thực hiện bởi các chuyên viên giám định hay
giám định viên bảo hiểm. Các giám định viên bảo hiểm do doanh nghiệp lựa
chọn nhưng thường là chính nhân viên của bản thân các doanh nghiệp. Công
việc chính của chuyên viên giám định bao gồm:
+ Ghi nhận thiệt hại:Khi người tham gia bảo hiểm gặp phải rủi ro thuộc
phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất họ sẽ thông báo cho nhà bảo hiểm biết. Nhà
bảo hiểm sẽ chỉ định một giám định viên đến tiến hành giám định, giám định
viên sẽ ghi lại những tổn thất, mức độ tổn thất và lập thành biên bản .
+ Đề xuất biện pháp bảo quản và đề phòng thiệt hại:Khi thiệt hại xảy ra
các giám định viên phải có nghĩa vụ can thiệp nhằm giảm thiểu tổn thất.
Ngoài ra, chuyên viên giám định còn phải phân tích thông tin từ những
người có liên quan để kết hợp rồi đưa ra những kết quả giám định chính xác
chọn các phương án giám định phù hợp để chuẩn bị cho quá trình tiến hành
giám định. Đồng thời nhà bảo hiểm hướng dẫn giúp đỡ chủ xe thu nhập và hoàn
thành hồ sơ khiếu nại.
Bước 3: Tiến hành giám định:
Đây là khâu quan trọng nhất nhằm xác định mức độ tổn thất của xe gặp tai nạn.
Chủ xe có nghĩa vụ bảo vệ xe nhằm hạn chế thiệt hại nếu có tổn thất phát sinh
thêm do các nguyên nhân khách quan, người được bảo hiểm phải thông báo
chính xác, cụ thể cho Công ty Bảo hiểm biết.
Việc tiến hành giám định được giám định viên thoả thuận trước với người được
bảo hiểm về thời gian và địa điểm giám định. Quá trình giám định phải có mặt
của chủ xe, người điều khiển xe, hay người đại diện hợp pháp của họ.
Việc giám định phải được lập biên bản giám định, xác định các bộ phận tổn thất,
mức độ tổn thất và dự trù các phương pháp xử lý thiệt hại. Đối với những xe bị
tổn thất có nhiều chi tiết cấu thành, cần tiến hành giám định và lập biên bản
20
giám định riêng cho các bộ phận cấu thành. Đồng thời quá trình giám định phải
chụp ảnh về các bộ phận tổn thất để phục vụ cho quá trình đánh giá thiệt hại,
chứng minh cho tổn thất và nguyên nhân gây ra tổn thất.
- Chụp ảnh: Phải chụp ảnh cả tổng thể và chi tiết trong đó chụp cả biển số
xe, số máy, số khung, hiện trường xảy ra tổn thất, ảnh các chi tiết gãy hỏng bên
trong. Ảnh chụp phải bộc lộ rõ thiệt hại. Có thể chụp ảnh những chi tiết nhằm
chứng minh nguyên nhân tai nạn.Sau khi chụp ảnh cần phải đưa ảnh vào hồ sơ
giám định trong đó phải ghi rõ tên người chụp, chú thích…
- Lập biên bản giám định: Đây là một khâu công việc quan trọng đòi hỏi tỉ
mỉ, không bỏ sót, phải liệt kê chính xác được những thiệt hại và đồng thời cũng
phải thể hiện được mối quan hệ nhân quả và hậu quả thiệt hại. Biên bản giám
định có thể được thực hiện một hay nhiều lần tuỳ mức độ phức tạp. Nội dung
biên bản giám định gồm:
+ Thời gian giám định;
+ Họ tên, chức vụ, cơ quan của người tham gia giám định;
…
3.3.Thông báo bồi thường.
Sau khi số tiền bồi thường được xác định, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ
thông báo chấp nhận bồi thường và đề xuất các hình thức bồi thường.
3.4.Truy đòi người thứ ba.
Cuối cùng, bộ phận thanh toán bồi thường phải áp dụng các biện pháp để
tiến hành truy đòi người thứ ba nếu họ có trách nhiệm trong trường hợp tổn thất
xảy ra hoặc với các nhà bảo hiểm khác trên thị trường tái bảo hiểm.
22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO
HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI NGHIỆP VỤ NÀY TẠI PJICO.
I - VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG TY PJICO.
1. Sự ra đời của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex.
Ngày 27/05/1995, Công ty đã được Bộ Tài Chính cấp giấy chứng nhận số
06-TC/GCN công nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh bảo hiểm. Ngày
08/06/1995, Công ty được UBND thành phố Hà Nội cấp giấy phép thành lập số
183/GP-UB và ngày 15/06/1995, Uỷ ban kế hoạch (nay là Sở Kế hoạch - đầu tư)
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
- Tên gọi đầy đủ: Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex
- Tên giao dịch quốc tế: Petrolimex Join-stock Insurance Company
- Tên viết tắt: PJICO
- Hình thức hoạt động: Công ty cổ phần
- Vốn điều lệ khi thành lập: 55 tỷ đồng (VND)
- Thời gian hoạt động: 25 năm
- Ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex được thành lập bởi 7 cổ đông sáng
lập là Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam,
7 Công ty thiết bị an toàn
(A-T)
275 0,5 138
8 Thể nhân 10.275 19,5 5.362
Tổng cộng 55.000 100 27.500
Bảy cổ đông sáng lập trên đều là các doanh nghiệp nhà nước, với số vốn
góp chiếm 80,5% tổng số vốn góp khi thành lập, trong đó TCT Xăng dầu Việt
Nam là cổ đông có vốn góp cao nhất (51%). Số còn lại là của các cá thể và phần
lớn là của cán bộ công nhân viên của các cổ đông sáng lập.
Xuất phát từ nhu cầu sử dụng vốn trong thực tế, khi thành lập Công ty chỉ
huy động 31,2 tỷ đồng vốn cổ phần, đảm bảo cao hơn vốn pháp định quy định
trong nghị định 100/C P ngày 18/03/1994.
Đến ngày 15/04/2004, PJICO đã tăng mức vốn điều lệ của mình lên 70 tỷ
đồng (theo giấy phép số 06/GPDC-12/KDBH), đáp ứng đúng yêu cầu về mức
vốn pháp định và thời gian điều chỉnh vốn được quy định trong Luật Kinh doanh
bảo hiểm có hiệu lực ngày 01/04/2001. Kể từ đây, PJICO bắt đầu bước sang một
thời kỳ mới trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Pjico ra đời là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh
tế và ngành bảo hiểm nói riêng. Là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong lĩnh
vực bảo hiểm phi nhân thọ, trong những ngày đầu hoạt động, công ty gặp không
24
ít khó khăn. Các điều kiện về cơ chế pháp luật còn chưa đầy đủ, khách hàng còn
ít lòng tin, công ty khi mới thành lập chỉ có 8 cán bộ nhân viên và một số ít
phòng ban tại Hà Nội. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo của hội đồng quản trị, của các
ban ngành liên quan, đồng thời cùng với sự ủng hộ, hợp tác giúp đỡ nhiệt tình
của các cổ đông sáng lập, các khách hàng và đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu của
toàn thể cán bộ công nhân viên, Công ty đã từng bước phát triển và tạo dựng
được chỗ đứng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Đến nay, sau gần 10 năm
hoạt động, công ty đã có 51 chi nhánh và hơn 1.000 văn phòng đại diện, đại lý
trên khắp các tỉnh thành từ Bắc chí Nam, công ty PJICO đã triển khai hơn 70