H C VI N CH NH TR - HÀNH CH NH QU C GIA H CH MINHỌ Ệ Í Ị Í Ố Ồ Í
H C VI N CH NH TR - H NH CH NH KHU V C IỌ Ệ Í Ị À Í Ự
*****
NGUY N TH NHỄ ỊĐỊ
N NG CAO CH T L NG CÔNG T C T T NGÂ Ấ ƯỢ Á Ư ƯỞ
C A NG B HUY N B C MÊ, T NH H GIANGỦ ĐẢ Ộ Ệ Ắ Ỉ À
TRONG GIAI O N HI N NAYĐ Ạ Ệ
LU N V N T T NGHI PẬ Ă Ố Ệ
CAO C P LÝ LU N CH NH TR - H NH CH NHẤ Ậ Í Ị À Í
H N i, tháng 6 n m 2011à ộ ă
i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ CÔNG TÁC TƯ
TƯỞNG
5
1.1. Khái quát về tư tưởng, hệ tư tưởng
5
1.1.1. Khái niệm tư tưởng
5
1.1.2. Hệ tư tưởng
6
1.2. Vai trò của công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay
7
1.2.1. Quan niệm về công tác tư tưởng của Đảng
7
tưởng ở Đảng bộ huyện Bắc Mê trong giai đoạn (2005-2010)
33
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI
47
3.1. Phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới
47
3.1.1. Những định hướng lớn trong công tác tư tưởng của Đảng.
47
3.1.2. Nhiệm vụ công tác tư tưởng của Đảng bộ huyện Bắc Mê trong thời
gian tới
49
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng
bộ huyện Bắc Mê trong thời gian tới
51
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vao trò của công tác tư tưởng ở Đảng bộ
huyện
52
3.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp các cơ
quan, đơn vị, các tổ chức trong huyện để tiến hành công tác tư tưởng
53
ii
3.2.3. Phát huy dân chủ, hướng về cơ sở, bám sát đối tượng.
53
3.2.4. Đa dạng hoá nội dung, hình thức, phương pháp, đảm bảo chất
lượng, hiện quả và tính chiến đấu cao của công tác tư tưởng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng là một bộ phận của ý thức xã hội, là sản phẩm của sự phản
ánh tồn tại xã hội, được hình thành bởi ý nghĩ, suy nghĩ và chỉ đạo hành động
của con người. Hệ tư tưởng là những quan điểm, tư tưởng được con người hệ
thống hoá thành lý luận, học thuyết chính trị, phản ánh tồn tại xã hội và đại
diện cho một giai cấp nhất định.
Trong xã hội có giai cấp thì tư tưởng và hệ tư tưởng mang tính giai cấp
và chỉ khi loài người có nhu cầu sản xuất ra hệ tư tưởng, bảo vệ những nhu
cầu, lợi ích của giai cấp nhất định thì công tác tư tưởng mới xuất hiện nhằm
truyền bá những hệ tư tưởng nhất định, đấu tranh hạn chế và xoá bỏ những hệ
tư tưởng đối lập để duy trì sự thống trị của mình. Tư tưởng là nhận thức của
con người, nhưng công tác tư tưởng không chỉ là quá trình hình thành nhận
thức mà còn bao gồm cả quá trình hình thành niềm tin và thúc đẩy hành động
có định hướng cho con người và xã hội.
Công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong toàn
bộ hoạt động cách mạng của Đảng cộng sản. Cùng với công tác tổ chức và
công tác chính trị, công tác tư tưởng góp phần xây dựng Đảng thành đội tiên
phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động,
hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và đường
lối của Đảng trong cán bộ, đảng viên, quần chúng đem lại cho họ sự giác ngộ
về thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, biến nó thành niềm tin, lý tưởng, lẽ
sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Trên cơ sở đó, nhân dân sẽ tự
giác hành động thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ
cách mạng và đi đến thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội.
Chính vì vậy, từ khi ra đời cho đến nay Đảng ta luôn coi trọng công tác
tư tưởng, xác định đây là mặt trận hàng đầu, góp phần quyết định cho mọi
thắng lợi của cách mạng. Công tác tư tưởng góp phần tạo nên sức mạnh tổng
hợp để dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược và tạo nên những
thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử trong quá trình đổi mới hiện nay.
1
Mê, tỉnh Hà Giang trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng của Đảng bộ huyện trong
thời gian tới.
2
3- Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về tư tưởng và công tác tư
tưởng của Đảng.
- Đánh giá tình hình công tác tư tưởng ở Đảng bộ huyện Bắc Mê, tỉnh
Hà Giang từ năm 2005 - 2010
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công
tác tư tưởng của Đảng bộ huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang trong thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng và công tác tư tưởng ở Đảng bộ
huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang từ năm 2005 đến 2010 và đề xuất giải pháp cho
những năm tiếp theo.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận.
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về tư tưởng và công tác tư
tưởng.
Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã
hội học….
6. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn thể hiện kết quả quá trình học tập, nghiên cứu chương trình
Cao cấp lý luận Chính trị - Hành chính của tác giả tại Học viện Chính trị -
Hành chính Khu vực 1.
- Luận văn là tài liệu tham khảo đối với các cá nhân, tập thể, các cơ
quan quan tâm đến công tác tư tưởng nói chung và công tác tư tưởng ở Đảng
trong ý thức mỗi con người không hoàn toàn dừng lại ở sự phản ánh mà còn
có những dự định về mục tiêu, chương trình kế hoạch, nhằm tiếp tục nhận
thức và cải tạo thế giới .
Tư tưởng thuộc phạm trù ý thức, gắn liền với hoạt động của con người,
là sản phẩm chủ quan của con người, tư tưởng của mỗi người phụ thuộc vào
đối tượng phản ánh và trình độ nhận thức của họ. Thực tiễn tác động vào tư
tưởng của mỗi con người và làm thay đổi nhận thức, tư tưởng của họ. Tuy
nhiên, tư tưởng cũng có tính độc lập tương đối của nó, nó cũng có tác động
trở lại đối với hiện thực khách quan và có những quy luật vận động riêng.
Đây là cơ sở để tiến hành công tác tư tưởng.
Về tính chất, hiệu quả tác động của tư tưởng phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như: chế độ chính trị, mức độ phù hợp với thực tiễn, khả năng truyền bá
xâm nhập vào quần chúng. Khuynh hướng là thúc đẩy sự phát triển của tồn tại
xã hội nếu tư tưởng đó là tiến bộ cách mạng, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát
triển của xã hội nếu tư tưởng đó là lạc hậu, phản cách mạng.
5
Tư tưởng còn mang tính kế thừa, một quan điểm, một tư tưởng, một
học thuyết không bao giờ xuất hiện từ một mảnh đất trống mà bao giờ cũng
tồn tại trong sự kế thừa những quan điểm tư tưởng trước đó. Sự kế thừa biện
chứng là có chọn lọc, phê phán, sáng tạo.
1.1.2. Hệ tư tưởng
Hệ tư tưởng là những quan điểm, tư tưởng được con người tư duy tích
cực, tự giác, hệ thông hoá thành lý luận, học thuyết chính trị, phản ánh tồn
tại xã hội và đại diện cho một giai cấp nhất định.
Trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ta thấy sự xuất hiện và
phát triển các học thuyết chính trị, các quan điểm gắn liền với sự phát triển
của xã hội và nhà nước, thông qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa
các giai cấp. Chính sự đấu tranh đó đã làm nảy sinh các quan điểm chính trị.
Các quan điểm, các học thuyết chính trị có thể biểu hiện bằng các hình
thức khác nhau, nhưng đều phản ánh cô đọng nhất những quan điểm, tư tưởng
tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng và mục tiêu
của chủ nghĩa xã hội. Trong đó tạo lập lòng tin là quan trọng nhất.
Trong Đảng, công tác tư tưởng là hoạt động xây dựng Đảng về trí tuệ,
chính trị tư tưởng góp phán bảo đảm cho Đảng luôn luôn là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đủ
năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Dù ở khía cạnh nào, đối tượng của công tác tư tưởng vẫn là ý thức con
người, với những diễn biến phức tạp và phong phú. Công tác tư tưởng chỉ có
thể đạt được kết quả khi nó đáp ứng nhu cầu thiết thực của con người. Khi
giải quyết những mâu thuẫn trong nhận thức và hành động cần có sự khách
quan, khoa học, công bằng. Quan điểm mác xít và quan điểm của Đảng ta
khẳng định công tác tư tưởng phải coi trọng phương châm lý luận đi đôi với
thực tiễn, nói đi đôi với làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Thực tiễn không có
lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ
với thực tiễn và lý luận suông"
2
.
1.2.2. Vai trò của công tác tư tưởng trong xây dựng Đảng
Xây dựng Đảng về tư tưởng là một bộ phận quan trọng trong công tác
xây dựng Đảng. Cùng với xây dựng Đảng về chính trị và tổ chức, công tác tư
tưởng là nhân tố góp phần làm cho Đảng luôn luôn vững mạnh, giữ vững
được bản chất giai cấp và năng lực tổ chức thực hiện, gắn bó với quần chúng,
ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử mà dân tộc giao phó.
Đảng ta là Đảng cầm quyền, có nghĩa vụ lãnh đạo toàn xã hội, do đó
Đảng không chỉ tiến hành công tác tư tưởng trong Đảng mà còn có trách
nhiệm lãnh đạo tư tưởng toàn xã hội. Khi chưa có chính quyền thì Đảng lãnh
đạo tư tưởng toàn xã hội đấu tranh giành chính quyền. Khi đã có chính quyền
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.491.
7
dân tộc.
Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã đặt công tác tư tưởng lên vị trí hàng đầu
nhằm truyền bá sâu rộng cương lĩnh, đường lối của Đảng trong nhân dân, giác
ngộ quần chúng về chủ nghĩa cộng sản, về cương lĩnh cứu nước của Đảng. Vì
vậy, đã hình thành bộ phận chuyên lo công tác tư tưởng và cho ra đời các cơ
quan ngôn luận của Đảng. Đầu năm 1930, Ban cổ động và tuyên truyền của
Đảng được thành lập. Ngày 01/8/1930 trở thành ngày truyền thống của ngành
Tư tưởng - Văn hoá (nay là ngành Tuyên giáo).
3
Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Tập 2, Nxb. Thông tin xã hội, 1992, tr.53
4
V.I. Lênin., Tập 6. Nxb. Tiến bộ, Matxcova, 1978, tr. 30-32.
5
.V.I. Lênin., Tập 6. Nxb. Tiến bộ, Matxcova, 1978, tr. 30-32.
8
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10/1930
đã thông qua Luận cương chính trị và Điều lệ đã ghi rõ nhiệm vụ của chi bộ
là: Tuyên truyền và cổ động cộng sản một cách có kế hoạch, tìm thêm và
huấn luyện đảng viên và công nông về mặt văn hoá và chính trị.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng xác định
đường lối chung của cách mạng nước ta là tiến hành đồng thời ba cuộc cách
mạng, trong đó có cách mạng tư tưởng và văn hoá. Nghị quyết Đại hội nêu rõ:
Giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa cách mạng tư tưởng
văn hóa. Nhiệm vụ trung tâm của cuộc cách mạng này là xây dựng con người
mới, xây dựng nền văn hoá mới.
Đại hội VI của Đảng (1986) - Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới đất nước,
qua đó tạo cơ sở cho đổi mới về công tác tư tưởng. Đại hội lần thứ VII (1991)
đã khẳng định: "chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và cách mạng
Việt Nam"
hội đã chỉ rõ công tác tư tưởng, công tác lý luận còn yếu kém bất cập và đề ra
nhiệm vụ: Toàn Đảng phải nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân,
chống tư tưởng cơ hội, thực dụng . . . đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham
nhũng, quan liêu làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng viên. Hội nghị Trung
ương 5 (khoá IX) đã ra nghị quyết “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư
tưởng, lý luận trong tình hình mới
7
".
Đại hội X của Đảng ( 2006), đã đánh giá tình hình công tác tư tưởng
trong tình hình hình mới như sau: "Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư
tưởng được coi trọng. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về nhiệm vụ chủ
yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn, đang đi vào cuộc sống. Đã coi trọng và đẩy mạnh hơn công tác nghiên
cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận do
thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra. Đã từng bước đổi mới công tác giáo dục
tư tưởng chính trị, nghiên cứu, học lập các nghị quyết của Đảng, tuyên truyền
giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Coi trọng hơn công
tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, nêu gương người tốt, việc tốt, phê phán những biểu hiện tiêu cực…
Công tác tư tưởng đã góp phần nâng cao nhận thức, tính tích cực của cán bộ,
đảng viên, nâng cao lòng tin của nhân dân vào đường lối đổi mới, tạo sự nhất
trí trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc XI
8
, Đảng ta đã đánh giá công tác tuyên
truyền, giáo dục chính trị tư tưởng có nhiều đổi mới. Coi trọng hơn nhiệm vụ
xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; tập trung chỉ đạo có
7
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội IX, X) Nxb Chính trị Quốc gia, 2001.
Đảng ta là Đảng cầm quyền. Theo Hiến pháp năm 1992 thì Đảng cộng
sản Việt Nam có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện xã hội. Do đó, Đảng chẳng
những tiến hành công tác tư tưởng trong Đảng mà còn phải lãnh đạo tư tưởng
toàn xã hội. C.Mác - vị lãnh tụ thiên tài, người thầy của giai cấp vô sản thế
giới đã khẳng định: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế
được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng
11
lực lượng vật chất. Nhưng lý luận cũng có thể trở thành vật chất một khi nó
đã thâm nhập vào quần chúng”
9
.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin,
đường lối của Đảng cho quần chúng, giáo dục giác ngộ quần chúng, đưa chủ
nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng. Công tác tư tưởng có trách nhiệm
thu thập, kết tinh trí tuệ của toàn xã hội để làm giàu trí tuệ cho Đảng, phục vụ
việc hoạch định đường lối, chính sách cho phù hợp với quy luật khách quan,
đặc điểm nước ta và nguyện vọng chính đáng của nhân dân lao động.
Công tác tư tưởng trực tiếp tham gia xây dựng chuẩn mực, tổ chức
tuyên truyền, giáo dục thực hiện theo những nguyên tắc về con người mới,
nền văn hoá mới Việt Nam phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, định hướng
chuẩn mực con người mới, nền văn hoá mới Việt Nam tương lai.
Công tác tư tưởng còn là vũ khí sắc bén tiến công lại sự chống phá của
các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc hệ tư tưởng và đường lối của
Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của đất nước, bảo đảm ổn
định chính trị, phát triển kính tế - xã hội trong quá trình đổi mới, mang lại
quyền lợi chân chính cho nhân dân, trước hết là người lao động.
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc đấu tranh giữa hai chế độ xã hội: Tư
bản và cộng sản, giữa hai hệ tư tưởng: tư sản và công nhân đang diễn ra quyết
liệt. Các thế lực thù địch và phản cách mạng đang ra sức chống phá chúng ta
trên mọi lĩnh vực, trong đó chúng coi trọng lĩnh vực chính trị, tư tưởng, điều
quan trọng, trước bước ngoặt của cách mạng nó càng quan trọng.
Có hai điểm đáng lưu ý khi nhìn nhận vị trí quan trọng của công tác tư
tưởng là: Cần nhận thức đúng đắn vị trí của công tác tư tưởng, chống khuynh
hướng coi nhẹ, hạ thấp vai trò của nó. Song đồng thời tránh cả khuynh hướng
cường điệu hoá nó, coi là cứ làm tốt công tác tư tưởng thì mọi việc đều xong.
Cần chú ý rằng công tác tư tưởng phải được kết hợp với sức mạnh của tổ
chức, với việc thực thi những chính sách đúng đắn, với những cơ sở vật chất
kỹ thuật nhất định thì mới trở thành sức mạnh to lớn. Công tác tư tưởng một
mặt góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng, song chính những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng của sự nghiệp cách mạng dưới sự
lãnh đạo của Đảng đã tạo thuận lợi cơ bản, là động lực cho công tác tư tưởng.
Tóm lại, tư tưởng là một hình thức tồn tại của ý thức xã hội, là kết quả
của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, trở thành kinh nghiệm và sự
hiểu biết trong tâm trí con người. Hệ tư tưởng là những quan điểm, tư tưởng
được con người tư duy tích cực, tự giác, hệ thống hoá thành lý luận, học
thuyết chính trị, phản ánh tồn tại xã hội và đại diện cho một giai cấp nhất
định. Đảng cộng sản Việt Nam xác định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, của
1
0
Tổng cục II - Bộ Quốc phòng, chiến lược diễn biến hòa bình, 1993, tr.140
13
cách mạng Việt Nam và công tác tư tưởng là hoạt động quan trọng bậc nhất
của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra những định
hướng của công tác tư tưởng trong thời gian tới là đẩy mạnh xây dựng, chỉnh
đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu
quả công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và tư tưởng; thường xuyên học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao
C. Mùa đông thời tiết lạnh, khô hanh, có năm nhiệt độ xuống 5 -
7
0
C, các xã vùng cao có khí hậu lạnh hơn so với các xã vùng thấp. Mùa mưa
thời tiết nóng ẩm, lượng mưa trung bình lớn, chiếm 80% lượng mưa cả năm,
trong đó lượng mưa lớn nhất ở các tháng 6,7,8.
* Đặc điểm xã hội, dân cư
Bắc Mê là tên gọi mới của địa phương, là mảnh đất có truyền thống văn
hóa lâu đời. Nhân dân Bắc Mê có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền
thống chống giặc ngoại xâm oanh liệt. Trong chặng đường dài dựng nước và
giữ nước, vùng đất này mang nhiều tên gọi khác nhau nhưng đều thuộc một
phần của Châu Vị Xuyên thuộc Trấn Tuyên Quang của Nhà nước Đại Việt.
Thời Pháp thuộc, Bắc Mê được đặt dưới chế độ quân quản, nằm trong vùng
kiểm soát của đạo quân binh thứ 3. Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được
thành lập, Bắc Mê có 2 Tổng của Châu Vị Xuyên với tên gọi là Tổng Yên
15
Phú và Tổng Yên Định. Cách mạng tháng 8/1945 thành công, tiểu khu Bắc
Mê được thành lập gồm 7 xã với gần 6.000 dân( thuộc huyện Vị Xuyên). Đến
năm 1962 phát triển thành 10 xã, trong những năm đầu của thập kỷ 80 do tình
hình cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc có nhiều diễn biến phức tạp,
huyện Vị Xuyên trở thành địa bàn xung yếu của tỉnh Hà Giang. Tiểu khu Bắc
Mê lúc đó trở thành hậu phương an toàn của huyện, có nhiệm vụ đón nhận
nhân dân từ các xã giáp biên chuyển đến để ổn định đời sống và phát triển sản
xuất, đồng thời sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho tuyến trước, trước
những yêu cầu thực tế, bức thiết của địa phương đến năm 1984, huyện Bắc
Mê chính thức được thành lập.
Theo thống kê năm 2010, dân số huyện Bắc Mê là 47.900 người, số
người trong độ tuổi lao động là 22.981 người. Bắc Mê địa bàn cư trú của 15
dân tộc khác nhau: Dao, Tày, Mông, Kinh chiếm đa số, còn lại là các dân tộc
thiểu số. Các dân tộc thiểu số sống tập trung ở các xã: (Phiêng Luông, Yên
lúa bình quân đạt 54,7 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt bình quân
hàng năm đạt 26.026 tấn, lương thực bình quân đầu người 550kg/người/năm.
Diện tích cây chè 1.013,4 ha ( trong đó diện tích đã cho thu hoạch 548,6 ha,
sản lượng 872,27 tấn ). Hiện nay, huyện đã hoàn thành kế hoạch phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc. Công tác quản lý bảo vệ rừng thường xuyên được tăng
cường, toàn huyện có 13 ban chỉ huy phòng chống cháy rừng ở các xã và lâm
trường.
Ngành chăn nuôi có tốc độ phát triển nhanh và trở thành một ngành
chính của huyện. Huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai thực hiện tốt đề
án chăn nuôi trâu, bò hàng hóa, mô hình nuôi cá lồng đối với các xã dọc bờ
sông Gâm. Năm 2010 đàn trâu, bò toàn huyện có 28.253 con, đàn lợn có
33.250 con, đàn gia cầm có 2,5 triệu con. Công tác phòng, chống dịch bệnh
trên đàn gia súc, gia cầm thường xuyên được quan tâm chú ý, chính vì vậy
trong những năm vừa qua trên địa bàn huyện không có những dịch bệnh lớn
xẩy ra.
- Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản
Công nghiệp có bước phát triển mạnh, đặc biệt là lĩnh vực thăm dò,
khai thác và chế biến khoáng sản, đến nay đã cấp phép cho 9 doanh nghiệp
thăm dò và khai thác 13 Mỏ khoáng sản các loại; quy hoạch cụm công nghiệp
Minh Sơn, Giáp Trung, Yên Phú. Thực hiện chủ trương đưa máy móc nông
cụ vào sản xuất, trong năm 2010 huyện đã hỗ trợ cho 30 hộ gia đình mua máy
cày, máy bừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Công tác đầu tư xây dựng cơ
bản được huyện quan tâm, việc thu hút và tổ chức sử dụng lồng ghép các
17
chương trình dự án tiếp tục đạt nhiều kết quả. Trong 5 năm qua thực hiện
nâng cấp được 4 tuyến đường liên xã, dài 58 km; đổ bê tông 8,5 km đường
liên xã; mở mới 154 km đường liên thôn, đến nay có 10/13 xã tuyến đường
đến trung tâm các xã được rải nhựa. Đầu tư xây dựng mới được 3 trụ sở Ủy
ban nhân dân xã, đến nay có 13/13 xã, thị trấn có trụ sở làm việc kiên cố, xây
dựng mới 58 trụ sở thôn, 162 phòng học kiên cố, 117 phòng công vụ giáo
phổ thông đạt 93,7 %. Công tác đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực được coi
trọng, huyện đã thành lập Trung tâm dạy nghề, trong hai năm vừa qua đã tổ
chức đào tạo nghề ngắn hạn cho 2.138 người, tư vấn giới thiệu việc làm cho
660 lao động. Công tác xã hội hoá giáo dục đã được các cấp, các ngành và
nhân dân quan tâm; các xã, thị trấn, cơ quan đã xây dựng được hội, chi hội
khuyến học và quỹ khuyến học.
Công tác y tế được tăng cường, mạng lưới y tế được duy trì ổn định ở
100% thôn, bản, khu phố; đội ngũ cán bộ y tế cơ sở thường xuyên được đào
tạo, bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ; tỷ lệ trạm y tế xã, thị trấn
có bác sỹ đạt 77,5%. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được quan
tâm, cơ sở vật chất từ huyện đến cơ sở được đầu tư, đáp ứng nhu cầu khám
chữa bệnh cho cán bộ và nhân dân, có 13/13 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Huyện đã thường xuyên làm tốt công tác y tế dự phòng và vệ sinh an toàn
thực phẩm nên trong những năm qua không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tỷ lệ
phát triển dân số tự nhiên là 1,2 %. Công tác phòng chống suy dinh dưỡng
cho trẻ em được thực hiện có hiệu quả, đã giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng
29,3% năm 2005 xuống còn 26,5% năm 2010. Công tác bảo vệ, giáo dục,
chăm sóc trẻ em thường xuyên được quan tâm đã góp phần xây dựng gia đình
hạnh phúc, xã hội ổn định và phát triển.
Hoạt động văn hoá thông tin tiếp tục được duy trì và phát triển. Phong
trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá " và việc thực hiện nếp
sống văn minh trong việc cuới, việc tang và lễ hội được các tầng lớp nhân dân
đồng tình hưởng ứng. Năm 2010, toàn huyện có 105 làng, bản, cơ quan văn
hoá và công nhận 7.412 gia đình văn hoá. Phong trào văn nghệ, thể thao phát
triển mạnh từ huyện đến cơ sở, hàng năm tổ chức thi đấu và tham gia các
cuộc thi của tỉnh tổ chức đều đạt giải. Hoạt động của Đài Truyền thanh -
Truyền hình huyện và hệ thống đài truyền thanh cơ sở được củng cố, nâng
cấp và duy trì hoạt động. Công tác tuyên truyền đã hướng về cơ sở, kịp thời
tuyên truyền phổ biến các nhiệm vụ chính trị, các điển hình tiên tiến, cổ vũ
động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua thực hiện các nhiệm vụ
của các kỳ họp hội đồng nhân dân được Uỷ ban nhân dân huyện chỉ đạo thực
hiện nghiêm túc, có hiệu quả, nhanh chóng đi vào cuộc sống của nhân dân,
tạo sự chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Các đại
biểu hội đồng nhân dân thường xuyên tiếp xúc và lắng nghe ý kiến, kiến nghị
của cử tri và kịp thời giải đáp những nguyện vọng, lợi ích chính đáng của
nhân dân.
20