1
1. ÐẶT VẤN ÐỀ
Giun đũa chó có tên khoa học là Toxocara canis, đó là một loại ký sinh
trùng có hình dáng, kích thước giống giun đũa ở người, sống trong ruột chó,
trứng theo phân chó ra ngoài. Giun đũa mèo có tên khoa học là Toxocara cati.
Bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo là một bệnh do ấu trùng (AT) giun đũa
chó/mèo gây ra. Bệnh có thể xuất hiện ở khắp mọi nơi trên thế giới, không
phụ thuộc vào nông thôn hay thành thị, ngay cả những nước tiên tiến vẫn có
khả năng nhiễm và thậm chí tỷ lệ nhiễm cao.
Người bị nhiễm bệnh do tình cờ nuốt trứng có ấu trùng của
Toxocara spp nhiễm trong đất, nước, thức ăn do chất phóng uế bừa bãi của
những con chó bị nhiễm bệnh. Các ấu trùng đi vào trong ruột, di chuyển
đến nội tạng, nơi đây chúng có thể sống nhiều năm ở dạng tự do hay hóa
kén nhưng không bao giờ phát triển thành giun trưởng thành. Ngoài ra,
người có thể nhiễm do ăn thịt thú vật không nấu chín.
Các nghiên cứu cho thấy, những quần thể người có tỷ lệ huyết thanh
dương tính Toxocara spp cao thường ở những nơi có nhiều chó bị nhiễm
Toxocara spp. Môi trường bị ô nhiễm trứng nhiều, trẻ em có thói quen
nghịch đất. Ở nước ta, chó/mèo được nuôi không kiểm soát, thả rong, phân
chó gặp ở khắp nơi, số mẫu đất có nhiễm trứng giun đũa chó/mèo thay đổi
từ 5-26% tùy theo từng vùng sinh địa cảnh nên mọi người đều có nguy cơ
nuốt phải trứng của chúng.
Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân ngày càng gia tăng
có thể là do mầm bệnh được phát tán ra ngoài ngoại cảnh đồng thời người
dân đã có ý thức đến các cơ sở y tế để khám và xét nghiệm. Đặc biệt ở khu
vực miền Trung-Tây Nguyên, bệnh do ấu trùng giun đũa chó/mèo đang trở
2
thành vấn đề lo lắng cho sức khỏe của người dân trong khu vực. Do đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng nhiễm Toxocara spp tại một
số xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định và một số yếu tố ảnh
hưởng đến tình trạng nhiễm, 2011-2012” với 2 mục tiêu:
(1- /2) x pq = 1,96
2
x 0,2 x ( 1- 0,2 ) = 384
d
2
0,04
2
Trong nghiên cứu này chúng tôi chọn: Z = 1,96; α = 0,05
4
p = 0,2 (Theo kết quả điều tra của Viện sốt rét-Ký sinh trùng-
Côn trùng Quy Nhơn năm 2009 tại Bình Định).
q = 1 - p = 0,8
p = 0,2
d = 0,04
Cỡ mẫu chúng tôi tính được là 384, chọn n ≈ 400 người cho mỗi
điểm nghiên cứu.
- Kỹ thuật xét nghiệm ELISA tìm kháng thể ấu trùng giun đũa
chó/mèo: Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ Kit Toxocara ELISA
của Mỹ sản xuất, với độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 88%. Một số hình ảnh của
bộ Kit do Mỹ sản xuất:
(Nguồn: www.rapidtest.com)
Hình 2.1. Hình ảnh bộ Kit Toxocara ELISA của Mỹ sản xuất
5
* Cỡ mẫu điều tra kiến thức, thái độ, thực hành (KAP)của người dân
về phòng chống bệnh giun đũa chó/mèo:
Sau khi tiến hành lấy máu xét nghiệm, chúng tôi tiến hành phỏng vấn
tất các đối tượng có xét nghiệm ELISA từ 15 tuổi trở lên và người bảo hộ
của những đối tượng dưới 15 tuổi về kiến thức, thái độ và thực hành đối với
bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo của người dân tại mỗi điểm nghiên cứu.
Những trường hợp đối tượng dưới 15 tuổi và người bảo hộ trong cùng một
+ Tăng trung bình: > 1.500-5.000/µl máu hay > 7-10%.
+ Tăng cao: > 5.000/µl máu hay > 10%.
2.1.3.4. Phương pháp thu thập số liệu
Kết quả xét nghiệm máu, phân, đất và phỏng vấn các đối tượng
nghiên cứu đều nhập vào mẫu thu thập số liệu.
2.1.3.5. Các chỉ số nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên người:
Tỷ lệ nhiễm (%)
- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên chó tại cộng đồng:
7
Tỷ lệ nhiễm (%)
- Kiến thức về đường lây bệnh giun đũa chó/mèo.
- Kiến thức về tác hại của bệnh giun đũa chó/mèo.
- Kiến thức về các biện pháp phòng chống bệnh giun đũa chó/mèo.
- Thái độ của người dân về sự nguy hại của bệnh giun đũa chó/mèo.
- Thực hành chung về khả năng phòng chống bệnh giun đũa chó/mèo.
2.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
2.2.1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó trên người và ở môi trường
bằng kỹ thuật ELISA tại 2 xã thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
(2011-2012)
2.2.1.1. Đặc điểm chung về địa điểm nghiên cứu và các
đối tượng nghiên cứu
* Về địa điểm nghiên cứu:
- Vị trí địa lý:
+ Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của
tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc-Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung
bình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km). Phía Bắc giáp
tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa
độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông). Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường
ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108
sườn dốc hơn 20°. Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện
An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây
Sơn và Hoài Ân (31.000 ha). Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông
suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh. Chiếm 70%
diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có
11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện
An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m. Các dãy núi chạy theo hướng
Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành
các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát
hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các
dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá.
+ Vùng đồi: Tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía
đông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ
cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15°. Phân bố ở các huyện
Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha).
+ Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu
thổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa
10
hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con
sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi
cát hay các dãy núi. Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng
chảo này khoảng 25–50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000 km². Đồng
bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Kôn, còn lại là các
đồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các
chân núi và ven biển.
+ Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy
hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng
và quy mô biến đổi theo thời gian. Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dãi
cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát
từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung Lương đến Lý Hưng. Ven biển
đầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề
Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và Thị Nại (Tuy Phước - Quy Nhơn). Hệ thống hồ
đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi
trồng thủy hải sản. Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc
phát triển cảng biển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế
Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam
hiện nay.
- Hành chính:
Huyện An Nhơn có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 1 thị trấn
và 10 xã: Thị trấn Bình Định, xã Nhơn Hưng, xã Đập Đá, xã Nhơn Thành,
xã Nhơn Hòa, xã Nhơn An, xã Nhơn Phong, xã Nhơn Hạnh, xã Nhơn Hậu,
xã Nhơn Mỹ, xã Nhơn Khánh, xã Nhơn Phúc, xã Nhơn Lộc, xã Nhơn Tân,
xã Nhơn Thọ.
12
* Về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 2.1. Tuổi trung bình của nhóm các đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi Số lượng người Tỷ lệ (%)
Tuổi trung bình của
đối tượng nghiên cứu
5-(<15 tuổi) 158 19,8
X=37,63±1,37 tuổi
15-60 tuổi 480 60,0
> 60 tuổi 162 20,2
Cộng 800 100
Nhận xét: Qua kết quả bảng trên cho thấy: Nhóm đối tượng nghiên
cứu từ 5 đến dưới 15 tuổi có 158 người (19,8%), nhóm 15-60 tuổi có 480
người (60,0%), nhóm trên 60 tuổi có 162 người (20,2%). Tuổi trung bình
của nhóm các đối tượng nghiên cứu là 37,63±1,37 tuổi. Đối tượng nghiên
cứu có tuổi thấp nhất là 5 tuổi, cao nhất 70 tuổi.
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ các nhóm tuổi trong đối tượng nghiên cứu tại 2 xã
nghiên cứu
Nhận xét: Tỷ lệ chung theo giới của các đối tượng nghiên cứu tại 2
địa điểm: Nam (30,4%), nữ (69,6%).
2.2.1.2. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó tại
2 điểm nghiên cứu
Bảng 2.3. Tỷ lệ xét nghiệm ELISA (+) và tăng bạch cầu ái toan tại 2 xã
Xã
ELISA dương tính Tăng bạch cầu ái toan
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhơn Hưng 55/400 13,75 65/400 16,25
Nhơn Phong 71/400 17,75 77/400 19,25
Tổng (n=800) 126/800 15,75 142/800 17,75
Nhận xét: * Về tỷ lệ xét nghiệm ELISA dương tính: xã Nhơn Hưng có
55/400 trường hợp xét nghiệm dương tính (13,75%), xã Nhơn Phong có 71/400
trường hợp xét nghiệm ELISA dương tính (17,75%), tại 2 điểm nghiên cứu có
126/800 trường hợp xét nghiệm ELISA dương tính, chiếm tỷ lệ 15,75%.
* Về tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan: xã Nhơn Hưng có 65/400 trường
hợp được xét nghiệm (16,25%), xã Nhơn Phong có 77/400 trường hợp xét
nghiệm (19,25%), tại 2 điểm nghiên cứu có 142/800 trường hợp có tăng
bạch cầu ái toan, chiếm tỷ lệ 17,75%.
Bảng 2.4. Mức độ huyết thanh dương tính đọc theo mật độ quang (OD)
Xã Số (+)
OD/Ngưỡng
1 - < 1,5 1,5 - < 2 ≥ 2
Nhơn Phong 71 46 20 5
Nhơn Hưng 55 45 7 3
Cộng 126 91 (72,2%) 27 (21,4%) 8 (6,4%)
14
Nhận xét: Mức độ huyết thanh dương tính chủ yếu ở mức thấp
(72,2%), mức OD/ngưỡng lớn hơn hoặc bằng 2 chỉ chiếm 6,4%.
2
Bị bệnh Không bị bệnh
Nam 43 200 243 4,5
Nữ 83 474 557
15
Cộng 126 674 800
Nhận xét: Hai điểm nghiên cứu 126 người bị bệnh, trong đó có 43
nam, 83 nữ. Kết quả tính toán cho thấy χ
2
= 4,5 > 3,84 nên tỷ lệ người bị
bệnh ở 2 giới khác nhau có giá trị thống kê ở mức ý nghĩa 0,05.
2.2.1.3. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó theo các nhóm
tuổi
Bảng 2.7. Tỷ lệ bệnh nhân/người không bị bệnh
theo các nhóm tuổi tại cộng đồng
(n
1
= n
2
= 400)
Tuổi 5- (<15) 15-60 > 60 Tỷ lệ chung (%)
Nhơn
Phong
Bị bệnh 15 38 18 17,75
Không bị bệnh 80 189 60 82,25
Tỷ lệ bệnh/
Không bệnh (%)
18,75 20,1 30,0 21,58
Nhơn
Hưng
tỷ lệ nhiễm giữa trẻ em và người lớn. Theo Lê Trần Anh và cộng sự nghiên
cứu trên 47 bệnh nhân tại Bệnh viện 103, tuổi trung bình của nhóm nghiên
cứu là 32,66±13,86 tuổi, gặp chủ yếu ở tuổi 20-50 (74,47%). Trẻ em dưới
10 tuổi chỉ có 2 bệnh nhân (4,3%) [1]. Nhiều tác giả cho rằng, trẻ em có
nguy cơ nhiễm cao hơn người lớn, nguyên nhân là là do trẻ em thường hay
nghịch đất cát, mút tay, chơi đùa hoặc bồng bế chó/mèo nhưng kết quả
nghiên cứu của chúng tôi lại ngược lại, người lớn có tỷ lệ nhiễm cao hơn.
Tuy nhiên, việc lý giải của một số tác giả về vấn đề trẻ em có tỷ lệ nhiễm
cao hơn người lớn do thói quen bồng, bế chó/mèo có nhiều vấn đề chưa
thống nhất. Theo chu kỳ sinh học của giun đũa chó/mèo, khoảng từ ngày
tuổi thứ 11 đến ngày thứ 21, số giun trưởng thành tăng trong ruột non và
sau 3 tuần, trứng bắt đầu xuất hiện trong phân chó con. Lúc này, chó mẹ có
thể nuốt phân chó con, nếu trứng chưa có phôi thì chính chó mẹ lại thải cơ
học một lượng lớn trứng trong phân. Khi tiếp xúc với không khí, với môi
trường ngoài, trứng phát triển đến AT giai đoạn 1, kế đó là AT giai đoạn 2
nằm trong vỏ trứng. Thời gian này mất khoảng 12 ngày hoặc hơn tùy điều
kiện môi sinh. Như vậy, để trứng của giun đũa chó/mèo lây truyền sang
17
người phải ở giai đoạn ấu trùng giai đoạn 2, tức là mất khoảng 12 ngày sau
khi phân chó/mèo được thải ra ngoài môi trường. Như vậy, việc lý giải trẻ
em có tỷ lệ nhiễm cao hơn người lớn phải chăng do các yếu tố như đất, cát,
phân chó…
Người được xem là vật chủ tình cờ của Toxocara canis và liên quan
đến chu kỳ của bệnh tiêu hóa phải trứng từ môi trường. Các trứng bị nhiễm
đào thải bởi chó đã được phân lập trong các sân vườn, công viên các nơi
vui chơi công cộng. Trứng Toxocara spp có thể tồn tại trong đất vài tháng
đến vài năm, lệ thuộc vào môi trường. Một điều đáng chú ý, Toxocara
canis nhiễm vào trong các vật chủ chó tại các vùng nhiệt đới và ôn đới trên
thế giới, ngoại trừ các vùng có vĩ độ bắc hơn 60
0
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Nhơn Phong 26 6,5 102 25,5 45 11,25 227 56,75
Nhơn Hưng 17 4,25 98 24,5 38 9,5 247 61,75
Cộng 43 5,38 200 25,0 83 10,38 474 59,25
Nhận xét: Tỷ lệ nam bị bệnh chiếm tỷ lệ thấp hơn nữ (Nam: 5,38%;
nữ: 10,38%), trong đó:
- Xã Nhơn Phong: Nam bị bệnh (6,5%), nữ bị bệnh (11,25%).
- Xã Nhơn Hưng: Nam bị bệnh (4,25%), nữ bị bệnh (10,38%).
Biểu đồ 2.4. Tỷ lệ nhóm bệnh nhân bị bệnh theo giới
Nhận xét: Trong nhóm bệnh nhân bị bệnh tại cộng đồng: Nam giới
có 43/126 người bị bệnh (34,13%), nữ giới có 83/126 người bị bệnh
(65,87%).
Trong nghiên cứu này, có sự khác biệt về tỷ lệ huyết thanh dương
tính với Toxocara spp giữa nam và nữ, nữ có tỷ lệ huyết thanh dương tính
cao gấp hai lần so với nam giới. Tuy nhiên, trong đối tượng nghiên cứu số
lượng nữ tham gia nghiên cứu cũng cao hơn gần gấp đôi so với nam giới
(Nam: 243 người, nữ: 557 người), do vậy sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lê
Trần Anh tại Bệnh viện 103 cho thấy tỷ lệ nam bị bệnh là 44,68%, nữ bị
bệnh là 55,32%, tác giả đã lý giải về sự chênh lệch này là do mày đay mãn
tính chủ yếu ở nữ giới, theo một số tác giả khoảng 75% bệnh nhân mày đay
19
mãn tính là nữ giới [1]. Mặc dù cơ chế của sự khác biệt này là chưa rõ,
nhưng những bệnh nhân có cơ chế tự miễn thường gặp hơn ở phụ nữ.
Nghiên cứu của Humphreys, Hunter (1998) trên 390 bệnh nhân mày đay
thấy có 61% là phụ nữ; kết quả nghiên cứu của Chia-Kwung Fan và cs
tôi ở cả 2 xã chủ yếu gặp ở những người làm ruộng, buôn bán, công nhân,
học sinh có 111/126 bệnh nhân (88,2%), tỷ lệ cán bộ, công chức bị bệnh
chiếm tỷ lệ thấp có 15/126 bệnh nhân (11,8%).
Bảng 2.11. Phân bố bệnh nhân theo trình độ học vấn
(n=126)
Xã
Trình độ sau đại học, đại
học, cao đẳng
Trình độ từ trung cấp
trở xuống
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhơn Phong 8 6,3 63 50,0
Nhơn Hưng 9 7,1 46 36,6
Cộng 17 13,4 109 86,6
Nhận xét: Bệnh nhân bị bệnh trong nhóm đối tượng nghiên cứu chủ
yếu ở nhóm có trình độ từ trung cấp trở xuống có 109/126 bệnh nhân (86,6%),
nhóm có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ thấp có 17/126
bệnh nhân (13,4%), đặc biệt ở cả 2 xã có 2 bệnh nhân có trình độ sau đại học.
Bệnh gặp ở cả học sinh, sinh viên và người có trình độ cao đẳng, đại
học. Bệnh phân bố tương đối đồng đều ở các nhóm ngành, nghề. Tuy
nhiên, thấy tỷ lệ gặp nhiều ở nông dân (36,17%), học sinh-sinh viên
(27,66%) so với các nhóm ngành, nghề khác (Bộ đội, Công an, công nhân,
cán bộ văn phòng, buôn bán…), gặp ở cả người có trình độ phổ thông cơ sở
đến người có trình độ cao đẳng, đại học. Sự phân bố này phản ánh sự kết
hợp tỷ lệ mắc của nhiễm Toxocara spp và mày đay mãn tính. Tình trạng
nhiễm Toxocara spp thường liên quan tới tình trạng kinh tế, xã hội, nơi
sinh sống (nông thôn hay thành thị), những nghề hay tiếp xúc với đất như
nông dân sẽ có tỷ lệ nhiễm cao hơn nhưng tỷ lệ hiện mắc mày đay không
21
khác biệt giữa trình độ học vấn, chủng tộc, nghề nghiệp hay thu nhập. Tỷ lệ
OR=7,1
Không nuôi 70 6 8,6
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm trứng giun đũa chó ở đất tại 2 xã Nhơn Phong
và Nhơn Hưng có sự khác biệt (p<0,05): Tại những hộ nuôi chó từ 40,0-
42,9%, tại những hộ không nuôi chó từ 8,6-20,5%. Nguy cơ các mẫu đất bị
nhiễm trứng giun đũa chó ở những hộ nuôi chó cao gấp từ 2,9-7,1 lần ở
những hộ không nuôi chó (p<0,05 và p<0,01).
22
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu của
Jakub Gawor và cộng sự (2008), tỷ lệ đất bị nhiễm trứng giun Toxocara
spp là 25,0% [13], [15]. Kết quả nghiên cứu của Zarnowska H và cộng sự
(2008) tai Iran cho thấy: Tỷ lệ đất bị nhiễm trứng Toxocara spp ở các vùng
ngoại ô và nông thôn cao hơn (30,9% & 24,6%), trong khi ở vùng thành thị
thấp hơn (10,3%) [24]; Figueiredo SD và cộng sự (2005), tỷ lệ nhiễm trứng
Toxocara spp trong đất ở nông thôn cao hơn ở thành thị (54,3% so với
45,6%) [12].
23
Bảng 2.14. Mật độ nhiễm trứng giun đũa chó ở đất tại các điểm điều tra
Xã Hộ nuôi chó
Số mẫu đất
xét nghiệm
Số mẫu
(+)
Số trứng trung
bình/mẫu
(100g/mẫu)
Nhơn Phong
Nuôi chó 56 24 7,3
Không nuôi 44 9 2,1
Nhơn Hưng
giun đũa chó ở những người trong hộ có nuôi chó cao gấp 1,9-2,8 lần ở những
người trong hộ không nuôi chó.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả của Bùi
Văn Tuấn và CS (2013): tỷ lệ hộ nuôi chó thả rông tại Quảng Ngãi từ 66,7-
86,21%; tại Đắc Lắc (89,97-95,53%) [9]. Tác giả Trần Thị Hồng nghiên
cứu tại xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nuôi chó
thả rông là 97% [5].
2.2.1.7. Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó trên chó tại cộng đồng
Bảng 2.16. Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó trên chó tại các điểm điều tra
Xã Số xét nghiệm Số mẫu dương tính Tỷ lệ (%) Giá trị p
Nhơn Phong 50 25 50,0
>0,05Nhơn Hưng 50 18 36,0
Cộng 100 43 43,0
Nhận xét: Qua xét nghiệm phân của 100 mẫu tại 2 điểm nghiên cứu,
tỷ lệ nhiễm trứng giun đũa chó chung tại 2 điểm là 43,0%. Không có sự
khác biệt giữa tỷ lệ chó nhiễm với nuôi chó tại các điểm nghiên cứu.
2.2.1.8. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng theo kết quả nghiên
cứu
Bảng 2.17. Thống kê các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân
(Đơn vị tính: người; n=126)
Xã
Mẩn,
ngứa
Nổi
mề
đay
Đau
mình
mẩy
Đau
sàng: Đau đầu (72,9%), động kinh (16,3%), cử động bất thường (3,1%), rối
loạn hành vi (2,3%), yếu liệt (5,4%); giai đoạn toàn phát: Đau đầu (66,7%),
động kinh (16,3%), dấu hiệu ngoại tháp (3,1%), rối loạn tâm thần (2,3%),
viêm não (1,5%), hội chứng yếu liệt các chi (5,4%), hội chứng não-màng
não (3,9%), áp xe não (0,8%) [8]. Ngoài ra, bệnh động kinh còn liên quan
đến nhiễm giun đũa chó (1,74; 1,27-2,4; p=0,0006) [20], [21].
Bảng 2.18. Khảo sát kết quả xét nghiệm cận lâm sàng của bệnh nhân
Xã
Tăng
bạch cầu
Tăng bạch
cầu ái toan
ELISA
(+)
ELISA(+)/ Bạch
cầu ái toan
bình thường
Nhơn Phong 89 65 55 55/335
Nhơn Hưng 78 77 71 71/323