Bài giảng Luật và chính sách môi trường - Pdf 22

Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 1 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU

I. MÔI TRƯỜNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA MÔI TRƯỜNG
I.1. Môi trường
Theo nghĩa rộng nhất thì “Môi trường” là tập hợp tết cả các điều kiện và hiện tượng bên
ngoài có ảnh hưởng đến một vật thể hay một sự kiện. Bất cứ một vật thể hay một sự kiện nào
cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường . Khái niệm chung như vậy về môi trường được cụ
thể hoá đối với từng đối tượng và từng mục đích nghiên cứu.
Thực chất, khí quyển, thuỷ quyển và thạch quyển tồn tại trước khi sự sống xuất hiện trên
hành tinh chúng ta. Nhưng chỉ khi các cơ thể sống xuất hiện trong mối tương tác với các nhân tố
đó thì chúng mới trở thành môi trường. Có nghĩa là chỉ có các cơ thể sống mới có môi trường.
Môi trường không chỉ gồm các điều kiện vật lý mà còn bao gồm cả các sinh vật cùng sống. Trong
đó đối với các cơ thể sống thì “môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng đến đời sống và sự phát triển của cơ thể.
Đối với con người thì “môi trường sống của con người” là tổng hợp những điều kiện vật lý,
hoá học, sinh học, kinh tế, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển của từng
cá nhân và của từng cộng đồng con người.
Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó Hệ mặt trời và Trái đất là những
bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất. Theo quan điểm về môi trường hiện đại thì Trái đất
có thể xem như một con tàu vũ trụ lớn mà loài người là những hành khách. Về mặt vật lý, Trái đất
gồm có thạch quyển-chỉ phần rắn của Trái đất từ bề mặt đất đến độ sâu khoảng 60km; thuỷ quyển
được tạo nên bởi các đại dương, biển, ao, hồ, băng tuyết và các vùng nước khác; khí quyển với
không khí và các loại khí khác bao quanh mặt đất. Về mặt sinh học, trên Trái đất có sinh quyển
bao gồm các cơ thể sống và những bộ phận của thạch quyển, thuỷ quyển và khí quyển tạo thành
môi trường sống của các cơ thể sống.
Khác với các “quyển” vật chất vô sinh, trong sinh quyển, ngoài vật chất, năng lượng còn có

chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước,
quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức
đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác
với các sinh vật khác.
* Môi trường nhân tạo, bao gồm tết cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những
tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân
tạo
Môi trường sống của con người có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Môi
trường theo nghĩa rộng là tết cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất
của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã
hội Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố
tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của
học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí
nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm
với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và
các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.
Tóm lại, môi trường là tết cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
I.2. Các chức năng của môi trường
Đối với con người, môi trường hiểu theo nghĩa rộng có các chức năng sau :
• M ôi trường có chức năng vật mang
• Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
• Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản
xuất của con người.
• Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống
và hoạt động sản xuất của mình.
• Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và
sinh vật trên trái đất.
• Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo

khắc phục được nhiều loại bệnh tật. Năm 1919, vi khuẩn cúm đã giết chết 25 triệu người. Tốc độ
tử vong giảm từ 25% năm 1935 xuống 12,7% năm 1980 do sự tiến bộ của y học. Sự tiến bộ này
trong ngành y học và dược học đã góp phần to lớn cho việc kéo dài tuổi thọ của loài người. Từ
năm 1650 đến năm 1950, dân số thế giới tăng lên 4 tỷ người và đến năm 1989 dân số tăng lên 1 tỷ
người nữa. Có thể nói 90% dân số tăng lên là do sự đóng góp của các nước chưa phát triển ở Châu
Á, Châu Phi và Nam Mỹ. Ở Việt Nam, năm 1945 cả nước có khoảng 25 triệu người, năm 1985 có
60 triệu người. Đến năm 1989 lên đến 65,5 triệu người và năm 1992 là 70 triệu người, năm 1996
là 76 triệu người. Tính đến năm 2005, dân số vào khoảng gần 82 triệu người. Theo Tổng cục
thống kê chỉ tính riêng cuối năm 1992 trong số 70 triệu người thì có 43,6 triệu là thuộc thế hệ trẻ
(chiếm 62,2% dân số cả nước). Thanh niên ở độ tuổi từ 15 đến 29 tuổi là 18,6 triệu (chiếm 26,6%
dân số). Trong số này có 9,5 triệu phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ. Như vậy nếu như trong vòng 41 năm
dân số thế giới tăng lên gấp đôi thì ở Việt Nam chỉ cần 33 năm cũng đạt tỷ lệ như vậy. Sự gia tăng
dân số quá nhanh đã tạo sức ép lớn đối với tài nguyên môi trường, đến việc hoạch định chính sách
phát triển kinh tế-xã hội, làm ảnh hưởng trực tiếp đến những nhu cầu của con người về một cuộc
sống đầy đủ và văn minh.
Theo số liệu của Viện tài nguyên Thế giới, năm 1993 mật độ dân số bình quân là 44
người/km
2
. Diện tích bình quân đầu người ở Châu Âu là 0,91ha; Châu Á là 0,81ha. Trong mấy
thập kỷ qua, đất đai toàn thế giới tăng bình quân là 1,8%/năm, trong đó Châu Á tăng 1,3%. Như
vậy tỷ lệ đất trồng trọt tăng bằng tỷ lệ dân số, riêng Châu Á thì tỷ lệ đất trồng trọt tăng chậm hơn
so với tỷ lệ tăng dân số.
b) Dân số và đất đai
Ở Việt Nam, với hơn 33 triệu ha đất đai tự nhiên, đứng thứ 55 trong tổng số 200 nước trên
toàn thế giới nhưng dân số đông vào thứ 12. Thế nhưng, do việc đô thị hoá và phát triển công
nghiệp, dịch vụ nên hàng năm đất canh tác mất khoảng 10.000ha, cho các nghĩa trang khoảng
100ha. Từ năm 1978 đến nay có 130.000ha được sử dụng cho thuỷ lợi; 62.000ha giao cho giao
thông; 22.800ha cho xây dựng công nghiệp và hàng trăm ha cho xây dựng trường học, trạm xá.
Do đó, diện tích đất nông lâm nghiệp theo đầu người ở nước ta giảm sút nhanh chóng (Bảng 1).
Đất chật người đông tết sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường, nếu như không có biện pháp giải quyết

3
/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8.500 m
3
/người vào khoảng năm
2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3.970
m
3
/người) và 1,4 lần so với thế giới (7.650 m
3
/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều
giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5.000
m
3
/người đối với các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2.980 m
3
/người ở hệ thống
sông Đồng Nai. Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người
trong một năm dưới 4.000 m
3
/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2.000
m
3
/người thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta
không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu
nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là
chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụ
ng
và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó
Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng
8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và

5 Vùng duyên hải Miền Trung 42 20-40
6 Vùng đồng bằng sông Hồng 48 30-60
7 Vùng Đông Nam Bộ 25 25-60
8 Vùng đồng bằng sông Cửu Long 50 20-40
Số liệu của bảng cho thấy tỷ lệ % được cấp nước sạch ở những vùng khác nhau thì khác
nhau và chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng. Nếu so sánh với một số quốc gia khác thì Việt
Nam là một nước tương đối giàu tài nguyên về nước, hơn cả Mỹ. Tuy nhiên nếu không bảo vệ và
sử dụng tốt thì nguy cơ thiếu nguồn nước sẽ xảy ra trong vài thập kỷ
tớivà dự báo đến năm 2010 ở
miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên sẽ thiếu nước (Bảng 3).
Bảng 3 : So sánh nguồn nước một số quốc gia
(Nguồn : Ngân hàng Thế giới, 1997)
Tên nước
Diện tích
(km
2
)
Dân số
(Triệu người)
Tổng lượng
nước hàng
năm (km
3
)
Lượng nước có
Triệu m
3
/người
Campuchia 176.520 9,9 88 0,50 8.899
Trung Quốc 9.560.000 1.177,6 2.800 0,29 2.378

gỗ/người, trong khi đó chỉ tiêu này của thế giới là 75 m
3
gỗ/người. Các loài thực vật rừng, động
vật rừng quý hiếm bị mất đi, chức năng phòng hộ và cung cấp của rừng giảm sút rõ rệt.
Nguyên nhân chính của sự giảm mạnh diện tích rừng không nằm ngoài sự gia tăng dân số
quá nhanh, nhu cầu gỗ củi và việc quản lý, bảo vệ rừng ở các cấp chính quyền, các ngành có liên
quan. Theo tính toán, ở Việt Nam cứ tăng 1% dân số thì sẽ làm 2,5% diện tích rừng bị tàn phá, mà
dân số của ta tăng lên đến chóng mặt cộng với sự buông lỏng quản lý để cho tình trạng di dân tự
do, đốt phá rừng bừa bãi vô tình mở đường cho những cơn lũ quét, lũ ống, sạt lở kéo dài vào mùa
mưa. Còn hạn hán thì thường xuyên đe dọa vào mùa khô, gây ra biết bao nỗi kinh hoàng cho nhân
dân lao động . Đặc biệt, ở Việt Nam 90% năng lượng ở nông thôn là gỗ củi và việc tăng dân số
cũng kéo theo diện tích rừng bị tàn phá làm gỗ củi. Theo tính toán hàng năm tiêu thụ khoảng 21
triệu tến củi phục vụ cho nhu cầu dân dụng và khoảng 2 triệu tến củi phục vụ cho công nghiệp
Bảng 4 : Lượng gỗ củi dùng trong sinh hoạt và công nghiệp, 1994
Ngành Số lượng (tến)
1. Dân dụng 21.000.000
2. Công nghiệp
- Chế biến lương thực 97.000
- Chế biến nông sản 425.000
- Công nghiệp khai thác khoáng sản 1.150.000
- Các sử dụng khác 52.000
Mục tiêu phát triển lâm nghiệp đến 2010 : Bảo vệ bằng được 10,9 triệu ha rừng hiện có,
khắc phục tình trạng suy thoái của rừng để tăng độ che phủ của rừng lên 43%.
e) Dân số và chất lượng không khí
Đi đôi với sự gia tăng dân số là lượng đioxit cacbon tăng lên, nhiều trung tâm công nghiệp
đã thải vào khí quyển không ít các loại khí như CO, CO
2
, SO
2
và NO

II.1. Sự vận động tầm xa của các chất gây ô nhiễm
Theo con số năm 1991, lượng CO
2
bình quân đầu người hàng năm thải vào khí quyển trên
toàn thế giới đã lên đến 4,21 tến; ở Châu Á là 2,11 tến, Bắc và Trung Mỹ là 13,5 tến và ở Châu
Âu là 8,5 tến. Tổng lượng khí thải mêtan gây hiệu ứng nhà kính do các hoạt động của con người
trên toàn thế giới là 250 triệu tến; ở Châu Á là 120 triệu tến; Bắc và Trung Mỹ là 36 triệu tến và
Châu Âu là 297 triệu tến. Tổng lượng khí thải CFC làm thủng tần Ôzôn là 400.000 tến; ở Châu Á
là 100.000 tến, Bắc và Trung Mỹ là 100.000 tến và Châu Âu là 120.000 tến. Năm 1992, UNEP đã
tiến hành các chất gây ô nhiễm không khí phổ biến là SO
3
; bụi lơ lửng; Pb; CO; NO
2
và O
3
ở 14
đô thị thì có ít nhất 2 dạng vượt quá tiêu chuẩn cho phép của UNEP, 7 đô thị có 3 dạng vượt quá
tiêu chuẩn cho phép của UNEP.
Các ôxit lưu huỳnh và nitơ không những gây ô nhiễm ở địa phương mà còn có thể vận
chuyển đi rất xa bởi các hoàn lưu khí quyển. Các trạm năng lượng dùng than và dầu là các điểm
phát thải chính. Trong khí quyển SO
x
và NO
x
được chuyển hoá thành axit Sulfuric và axit Nitric
gây ra mưa axit ở các điểm phát thải. Hậu quả là các sông hồ ít nước bị axit hoá trên diện rộng ở
Bắc bán Cầu. Đất bị axit hoá sẽ bị suy thoái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lớp phủ thực vật, nhất
là các loài Thông do sự lắng đọng trực tiếptrên lá các Sulphat. Nitreat và một loạt các hoá chất
bẩn khác. Ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nạnmưa axit đã làm 18,5% rừng lá rộng và 24,4% rừng lá kim
bị rụng lá.

2 Khu công nghiệp Việt Trì-Phú Thọ 37-250
3 Thị xã Hà Tây 5-6
4 Thị xã Hương Cam-Vĩnh Phúc >1,2
5 Thành phố Nam Định 3-6
6 Khu nhà máy xi măng Bỉm Sơn-Thanh Hoá >4
7 Thị xã Hưng Yên 19-35
8 Khu nhà máy xi măng Hải Phòng >10
9 Thành phố Hà Nội 2,5-4
10 Khu công nghiệp Mai Động-Hà Nội 2,38-3,81
11 Nhà máy sản xuất VLXD Long Thọ-Huế 20-30
12 Nhà máy đường Quảng Ngãi 8-10
13 Thị xã Phủ Lý-Hà Nam 2-8
14 Khu vực khai thác mỏ đá Kiện Khè-Hà Nam >10
15 Thành phố Đà Nẵng 1,33-42,13
16 Thị xã Tam Kỳ-Quảng Nam 2-30
17 Khu công nghiệp Kỳ Hoà-Quảng Nam 8-10
18 Thành phố Hồ Chí Minh 13

Bảng 6 : Nồng độ khí độc hại SO
2
và NO
2
vượt TCCP ở một số đô thị và khu công nghiệp
(TCCP : SO
2
=0,5mg/m
3
; NO
2
=0,4mg/m

đang phát triển. Rất tiếc vấn đề này hiện nay chưa có điều chỉnh của luật pháp quốc tế. Một số
ngành công nghiệp ở Châu Âu, Bắc Mỹ đang phải đối dầu với các điều chỉnh nghiêm ngặt ở nước
sở tại vì sự chống đối của công chúng về việc xử lý các chất thải Do vậy nhiều nước phát triển
đã chuyên chở các chất thải bằng tàu thuỷ đến các vị trí ở nước ngoài chưa được bảo vệ chu đáo
với một chi phí rất nhỏ so với các điều kiện ở nước mình.
Ở Thái Lan : Một lượng lớn các chất thải hoá học được tồn đọng ở cảng chính của
bangkok-Kongtuey. Phần lớn các tàu chứa chất thải đến cảng là của các đại lý chở hàng không
biết địa chỉ từ Singapore, Đài Loan, Đức, Nhật Bản và từ Mỹ. các quan chức môi trường Thái Lan
rất lo ngại vì các thùng có chứa Polychlorinaed biphenyls hoặc Dioxin chỉ có thể tiêu hủy trong
các lò đốt
ở nhiệt độ cao mà Thái Lan không có.
Ở Benin(Trung Phi) : Các xí nghiệp ở Châu Âu đã ký một hợp đồng chuyển 5 triệu tến
chất thải mỗi năm với tập đoàn Sesco đăng ký tại Gibraltar. Theo hợp đồng Benin nhận được 2,5
USD/tến chất thải., trong khi Sesco bắt các xí nghiệp Châu Âu phải trả hơn 1.000USD/tến để
chuyên chở và đổ các chất thải đó. Mọi người đều biết Benin là một trong những nước nghèo nhất
thế giới, không có cơ sở hạ tần để xử lý và quản lý dù chỉ một phần rất nhỏ của 5 triệu tến chất
thải mỗi năm.
Ở Guinea-Bissau (Châu Phi gần Atlantic ocean) : Xí nghiệp Lindaco có cơ sở ở Detroit đã
nhận với chính Phủ Mỹ chở 6 triệu tến chất thải hóa học vào nước này.
Ở Nigeria : 3.800 tến chất thải hoá học của Châu Âu được đổ vào phía Nam cảng Kaka
trên sông Niger vớ
i giá khoảng 100 đô mỗi tháng, trong khi đó chi phí cho việc đổ các chất thải
đó ở Châu âulà 380-1.750 USD/tến. Các chất độc hại đều dán nhãn hiệu sai mã, các cảng nhỏ
không có phương tiện để kiểm soát và nhân viên hải quan không đủ kiến thức hoá học để nhận
biết.
Ở Venezuela : Tháng 10/1987, 11.000 thùng chất thải hoá học được chuyển trả lại cho
Italia sau khi một tập đoàn tư nhân Italia tìm cách đưa chúng vào một kho hàng ở Puero Cabello.
Sự phát triển xu thế này đã buộc cộng đồng quốc tế đã thông qua công ước Basel về kiểm soát sự
vận chuyển và đổ các chất thải nguy hại xuyên biên giới.
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

0
C so với nhiệt độ hiện nay. Đó là dự đoán của 1.500 nhà khoa học
có uy tín trên thế giới do Liên Hiệp Quốc mời cộng tác. Trái đất nóng lên chủ yếu do hoạt động
của con người mà cụ thể là :
- Sử dụng ngày càng tăng lượng dầu mỏ và than đá dẫn đến gia tăng nồng độ CO
2
và SO
2

trong khí quyển.
Chai nhựa đã qua sử dụng và không rõ nguồn
gốc được nhập về Việt Nam

Rác thải được chuyển từ xe Campuchia
sang xe Việt Nam tại biên giới Tây
Nam
Những container rác thải công nghiệp mới được
nhập về cảng Chùa Vẽ (Hải Phòng).
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 11 -
- Khai thác triệt để dẫn đến làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên , đặc biệt là tài nguyên rừng
và đất rừng, nước là bộ máy khổng lồ giúp điều hoà khí hậu trái đất.
- Ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng trong mọi lĩnh vực môi trường như không khí, biển,
nước trên đất liền.
- Nhiều hệ sinh thái bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thế giới. tết cả các
yếu tố này góp phần làm cho thiên nhiên mất đi khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình.
Trái đất nóng lên có thể mang lại những tác động bất lợi sau :
- Mực nước biển có thể dâng cao từ 25-140cm, tương ứng với hiệt độ tăng lên từ 1,5 đến

Sản xuất xi măng (CO
2
) 0,347 2,417
Chăn nuôi (CH
4
) 1.135 0,394
Trồng lúa nưuóc (CH
4
) 0,950 3,192
Lâm nghiệp (CO
2
) 33,9 34.516
Tính đến năm 1993, lượng phát thải CO
2
ở Việt Nam vào khoảng 27-28 triệu tến do tiêu
thụ nhiên liệu hoá thạch từ các hoạt động năng lượng và lượng phát thải CH
4
vào khoảng 3,2 triệu
tến do sản xuất lúa nước. Các hoạt động trong ngành lâm nghiệp phát thải khoảng 34,5 triệu tến
CO
2
song lượng CO
2
do đốt sinh khối cần được đánh giá và xác định một cách chính thức.
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 12 -
Kiểm kê khí nhà kính quốc gia năm 1998
Năng lượng

nay vẫn chưa được dập tắt hoàn toàn. Do hạn hán kéo dài, nông nghiệp chỉ sản xuất được 50,4
triệu tến gạo so với chỉ tiêu đặt ra là 52 triệu tến; 21.708 ha đất trồng lúa có thể không được thu
hoạch. Ở Việt Nam, sản lượng càfê ở Đắc lắc giảm 20%, xảy ra gần 1.000 vụ cháy rừng đã thiêu
huỷ hàng vạn ha rừng trồng và rừng tự nhiên.
II.4. Suy giảm tầng ôzôn
Vấn đề giữa gìn tầng ôzôn có vai trò sống còn đối với nhân loại. Tầng Ôzôn như một chiếc
lưới khổng lồ chặn đứng các tia cực tím để bảo vệ cuộc sống trên Trái đất. Bức xạ tia cực tím có
nhiều tác động, hầu hết mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật và thực vật, c
ũng như
các loại vật liệu. Khi quá trình cạn kiệt ôzôn tiếp tục xảy ra, các tác động này càng trở nên tồi tệ.
Ví dụ, mức cạn kiệt tầng ôzôn là 10% thì mức bức xạ tia cực tím xuyên qua lưới lọc ôzôn vốn đã
mỏng manh sẽ có thể huỷ hoại mắt làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da,
làm tăng các bệnh về đường hô hấp. Đồng thời bức xạ tia cự
c tím tăng lên được coi là nguyên
nhân làm suy yếu các hệ thống miễn dịch của người và động vật, đe dọa hủy hoại đời sống của
động vật và thực vật nổi trong môi trường nước, sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng bằng
quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh. Nhiều loại thực vật sẽ phát triển chậm và
bị còi cọc, sản lượng một số loại cây trồng có thể bị giảm và rừng có thể bị phá huỷ. Vì vậy, Đại
Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố lấy ngày 16/9 hàng năm làm ngày quốc tế giữ gìn tầng
Ôzôn. Theo học viện không gian Hoa Kỳ, trên cơ sở những dữ liệu vệ tinh thì phần lớn Bắc Mỹ,
Niu Dilân, Nam Phi, Nam Úc, Achentina và Chilê, đặc biệt là Nam cực đang chịu ảnh hưởng
năng nề củ
a mực độ bức xạ tia cực tím. Lượng ôzôn giảm vào khoảng 3% so với các trị trước thập
kỷ 1980 ở 35-60 vĩ độ bắc và vào khoảng 6% ở 35-60 vĩ độ nam.
Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí gần bề mặt trái đất và tập trung thành lớp dày ở
những độ cao khác nhau trong tầng đối lưu từ 16km đến khoảng 40 km ở các vĩ độ. Nếu không
khí có nồng độ ôzôn lớn hơn nồng độ t
ự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với
sức khoẻ con người. Ví dụ :
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

thấp…nó cũng quyết định một cá thể động vật hay thực vật có tồn tại được hay không trong một
môi trường nhất định. Chẳng hạn, một số thực vật có thể mọc được trong nước mặn là kết quả của
biến đổi di truyền.
b) Đa dạng loài
Đa dạng loài được thể hiện đối với từng khu vực, t
ừ một cánh đồng nhỏ đến toàn bộ hành
tinh. Đa dạng loài được tính bằng số lựơng loài và những đơn vị dưới loài trong một vùng. Cho
đến nay có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên trái đất vào khoảng
5 triệu đến gần 100 triệu . Theo như ước tính của công tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên
trái đất. Nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm
côn trùng và vi sinh vật, tuy nhiên chúng vẫn chưa được mô tả (chỉ 3-5%) mà chỉ các loài lớn
hoặc hấp dẫn (cây có hoa đẹp và bướm), những loài gần gũi với con người (động vật có xương
sống), đặc biệt là động vật có vú và những sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của con
người như sâu bệnh. Việc đánh giá thấp tầm quan trọng củ
a các vi sinh vật bao gồm tảo, vi khuẩn,
nấm, nguyên trùng và vi rút-đó là những sinh vật rất quan trọng đối với cuộc sống của Trái đất
cần phải được đánh giá lại. Sự tồn tại của những sinh vật lớn phụ thuộc vào những vi sinh vật. Ví
dụ : San hô không thể tồn tại nếu không có tảo. Các nhà sinh học hiện nay đang nghiên cứu những
nhóm giàu loài như côn trùng và cả những vùng có số loài phong phú như rừng ẩm nhiệt đới để
thấy được mức độ phong phú của loài và có cơ sở để dự đóan số loài có trên Trái đất.
c) Đa dạng hệ sinh thái (HST)
Sự phong phú về môi trường cạn và nước của Trái đất đã tạo nên một số lượng lớn HST.
Đa dạng hệ sinh thái là tết cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác
nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái. Một hệ sinh thái khác nhiều so với một loài
hay một gen ở chỗ chúng còn bao gồm cả các thành phần vô sinh, chẳng hạn đá mẹ và khí hậu. Đa
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 14 -
dạng hệ sinh thái thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thành viên. Nó có thể bao gồm

40% các loài thực vật của thế giới và 10% các loài thú, chim, cá. Cho đến nay đã thống kê được
700 loài thực vật bậc cao có mạch và theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài ít nhất sẽ lên
đến 12.000 loài, trong đó có hơn 2.300 loài đã dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc
chữa bệnh, làm thức ăn gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên liệu khác. Hệ động vật rừng
cũng thống kê được 273 loài thú, 773 loài chim, 180 loài bò sát và 80 ếch nhái cộng với hàng trăm
loài cá và hàng ngàn loài động vật không ương sống. Tuy nhiên, các kết quả điều tra cũng cho
thấy các giống loài động thực vật ở nước ta đang dần bị bị cạn kiệt. Trong sách đỏ Việt Nam, các
nhà khoa học đã thống kê được hơn 300 loài động vật và 350 loài thực vật bị đe doạ và có nguy
cơ tuyệt chủng. Nguyên nhân chung là do khai thác quá mức gỗ ; nạn đánh bắt cá ; nạn khai thác
san hô là điều đáng lo ngại nhất ở ven biển miền Trung từ Đà Nẵng đến Thuận Hải. Khai thác san
hô chết. Du canh và xâm lấn đất của canh tác nông nghiệp. Việc di dân, khai hoang lấy đất canh
tác nông nghiệp hoặc nuôi trồng thuỷ sản đã thu hẹp dần diện tích các hệ sinh thái rừng. Nạn ô
nhiễm nước và sự xuống cấp của vùng bờ biển cùng với sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
II.6. Suy giảm tài nguyên đất và tốc độ đô thị hoá
a) Suy giảm tài nguyên đất
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 15 -
Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân số là suy giảm tài nguyên đất. Theo
số liệu của Viện Tài nguyên môi trường thế giới , năm 1993 quỹ đất cho toàn nhân loại là
13.041,7 triệu ha. Mật độ dân số bình quân là 43 người/km
2
. Đất được con người sử dụng chiếm
37% trong đó đất trồng trọt chiếm khoảng 20,6%, đồng cỏ chiếm 69.6%.
Diện tích đất bình quân đầu người trên toàn thế giới là 2,432ha, ở Châu Á là 0,81 ha, ở
Châu Âu là 0,91 ha. Một số nước quỹ đất rất hạn hẹp như Hà Lan, Bỉ, Nậht, Hàn Quốc, Ấn Độ,
Singapore mỗi người chỉ có 0,3 ha. Đất trồng trọt trong thập kỷ vừa qua trên toàn thế giới hàng
năm tăng 1,8%. Châu Á 1,3%, Bắc và Trung Mỹ 0,%, Châu Âu 1,8%. Tại nhiều nơi, tốc độ tăng
trưởng đất trồng trọt bằng hoặc kém hơn tốc độ tăng trưởng dân số. Phần đất trồng trọt tăng chủ

ệu sử dụng và khối lượng chất thải bình quân đầu người tại các
thành phố cao hơn nhiều so với nông thôn.
+ Ô nhiễm tại các thành phố thường tập trung trong diện tích nhất định nên càng gây tác
hại đến sức khoẻ con người.
+ Hạ tầng, công nghệ và trình độ quản lý môi trường đô thị của hầu hết các nước Châ Á
còn khiếm khuyết nên chưa thể kiểm soát có hiệu quả tác động đối với môi trường do đô thị hoá.
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 16 -
+ Ô nhiễm không khí tại các thành phố Châu Á rất cao. Chẳng hạn số ngày bình quân
hàng năm không khí có hàm lượng Sulphur dioxide trên mỗi mét khối vượt quá định mức của tổ
chức Y tế thế giới (150mg), ở Seoul là 87 ngày, Bắc kinh 68 ngày, Calcutta 25 ngày…
+ Khối lượng chất thải lỏng và rắn không được xử lý thích hợp tăng nhanh tại các đô thị
Châu Á.
+ Nhu cầu chất đốt tại các đô thị dẫn đến nạn phá rừng, xói mòn đất, cạn kiệt nguồn nước
sạch làm giảm năng suất trong công nghiệp, đồng thời gây ra hiện tượng sa mạc hoá.
Ngân hàng thế giới nhấn mạnh “nếu không cải tiến quản lý, nhiều thành phố Châu Á sẽ bị
ô nhiễm nghiêm trọng nhất thế giới, hậu quả là sẽ kìm hãm tăng trưởng kinh tế và sản sinh lượng
Hydrocacbon và chất ô nhiễm khác làm suy thoái môi trường toàn thế giới.
* Sau đây là một số ý kiến chủ đạo nhằm tăng cường và hoàn thiện quản lý môi trường đô thị:
- Phát triển các khu công nghệ vệ tinh nhằm giảm áp lực phát triển đô thị tập trung
- Xây dựng các cộng đồng công nghiệp hoá vệ tinh tại nông thôn. Xem trọng kinh tế nông
thôn trong việc tạo ra lương thực, thực phẩm và các nguồn tài nguyên môi trường.
- Có kế hoạch sử dụng đất dùng cho công nghiệp hoá nhất là khu vực sản xuất tạo ra giá trị
gia tăng.
- Cung ứng hạ tầng hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững
- Chính phủ kiên quyết phủ nhận các công nghiệp phụ thuốc nhiều vào việc nhập nguyên
liệu vật tư không liên hệ đến khu vực.
- Cải thiện môi trường đô thị phải hoạt động song hành với lực lượng thị trường và công

màu mỡ, khoảng 200.000km2 khác năng suất giảm sút một cách rõ rệt. Hàng triệu nông dân do
không còn đất canh tác hoặc do lao động nông nghiệp cực nhọc không thể nuôi sống được bản
thân và gia đình nên phải bỏ làm xóm để đi tìm việc ở các đô thị. Một số khác di cư đến các vùng
rừng núi, phá rừng lấy đất canh tác, tạo nên sự huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên vô cùng nghiêm
trọng.
Ở Việt Nam, tốc độ tăng dân số ở nông thôn còn cao, trong khi khả năng thu hút lao động
lại thấp. Hơn một nửa số lao động nông nghiệp thiếu việc làm do sự phát triển ở nông thôn chưa
đáp ứng nhu cầu việc làm. Phân bố lao động không đồng đều giữa các vùng nông nghiệp cũng
góp phần dẫn đến tình trạng mất cân đối, nơi thừa, nơi thiếu lao động. Tình trạng đó đã làm cho
dòng người từ nông thôn đổ ra thành thị ngày càng tăng, gây nên nhiều bất ổn trong xã hội. Theo
những ước tính cho thấy khoảng đến 35-40% lực lượng lao động nông thôn bị dư thừa, và năng
suất lao động nông thôn cực kỳ thấp. Một trong những hậu quả là tỷ lệ dân số cư trú tại nông thôn
và thành thị hầu như không thay đổi đáng kể trong hai thập kỷ qua, và chênh lệch thu nhập bình
quân đầu người giữa người giàu (chủ yếu ở thành thị) và người nghèo (chủ yếu ở nông thôn) ngày
càng tăng lên (từ 4,6 lần năm 1993 tăng lên 5,5 lần năm 1998, con số này đã, và còn cao hơn nữa
trong những năm gần đây). Sức ép từ nhu cầu việc làm đã dẫn đến tình trạng các luồng di dân tự
do và theo dự án không ngừng tăng lên. Riêng giai đoạn 1990-1997 đã có 1,2 triệu dân di chuyển
tới các vùng theo dự án. Tại TP.HCM trong giai đoạn 1991-1996 cứ mỗi năm lại tăng thêm
213.000 người. Hướng di dân cũng thay đổi đáng kể, di dân từ Bắc vào Nam và từ nông thôn đến
thành thị.
II.8. Môi trường và phát triển cùng các nhu cầu và mâu thuẫn nảy sinh.
a) Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đồng đều
Có thể nói rằng trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, tết cả các quốc gia trừ những quốc
gia đang bị nội chiến tàn phá, đều có những cố gắng vượt bậc để phát triển kinh tế và đã đạt được
những kết quả to lớn. Tuy nhiên sự không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất
giữa các quốc gia ngày càng tăng.
Nhìn lại kinh tế thế giới năm 2005 : Nền kinh tế thế giới đã đạt được tăng trưởng bền vững
trong năm 2005 bất chấp các tác động từ việc tăng giá dầu và sẽ tiếp tục tăng trưởng bền vững
trong năm tới, theo dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mứ
c

dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư. Nếu tỷ trọng này dưới 12%
là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập; nằm trong khoảng 12-17% là có sự bất bình đẳng vừa;
trên 17% là tương đối bình đẳng. Tỷ trọng này ở Việt Nam tính theo số hộ là 20% năm 1994;
21,1% năm 1995; 20,97% năm 1996; 18,7% năm 1999 và 17,98% năm 2001-2002. Theo tiêu
chuẩn này, Việt Nam phân bố thu nhập trong dân cư tương đối bình đẳng nhưng đang có xu
hướng tăng lên mức bất bình đẳng vừa.
Về thu nhập của dân cư, trong năm 2003-2004, thu nhập bình quân đầu người/tháng theo
giá hiện hành đạt 484.000 đồng, tăng 36% so với năm 2001-2002. Ở khu vực thành thị, thu nhập
đạt 795.000 đồng, tăng 27,8%; khu vực nông thôn đạt 377.000 đồng, tăng 36,9% so với năm
2001-2002 và tăng nhanh hơn khu vực thành thị. Mức chi tiêu cho đời sống năm 2003-2004 của
cả nước đạt 370.000 đồng/người/tháng theo giá hiện hành, tăng 37,5% so với năm 2001-2002, góp
phần giảm số hộ nghèo cả nước xuống còn 24,1%. Cũng theo kết quả khảo sát, hệ số chênh lệch
về thu nhập bình quân 1 người/tháng giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất trong thời
kỳ 2003-2004 tăng so với các năm trước 13,5 lần ( năm 2001-2002 là 12,5 lần). Mức chi tiêu cho
đời sống năm 2003-2004 của cả nước đạt 370.000 đồng/người/tháng theo giá hiện hành, tăng
37,5% so với năm 2001-2002, góp phần giảm số hộ nghèo cả nước xuống còn 24,1%. Cũng theo
kết quả khảo sát, hệ số chênh lệch về thu nhập bình quân 1 người/tháng giữa nhóm hộ giàu nhất
và nhóm hộ nghèo nhất trong thời kỳ 2003-2004 tăng so với các năm trước 13,5 lần ( năm 2001-
2002 là 12,5 lần). Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở 7 khu vực (Đồng bằng sông Hồng, Đông
Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long) đều tăng so với năm 1999, trừ Tây Nguyên giảm 30,4% do giá cà phê và một số hàng nông
sản giảm mạnh, đồng thời do bị ảnh hưởng lớn về hạn hán, lũ lụt. Tuy nhiên, thu nhập giữa các
vùng có sự chênh lệch đáng kể. Số liệu từ năm 1994 đến 2002 cho thấy vùng có thu nhập bình
quân đầu người cao nhất là Đông Nam Bộ, gấp 2,5 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người
thấp nhất là Tây Bắc.
b) Nhu cầu về năng lượng tăng nhanh
Trong hai thập kỷ 70-80, lượng năng lượng tiêu thụ trên toàn thế giới đã tăng thêm 45% và
lên tới 321.420 petajoules (105loule) hay 60pj/đầu người. Sự tiêu thụ rất không đồng đều theo
quốc gia, Hoa Kỳ tiêu thụ hàng năm 320 gigajoules/người, gấp 35 lần so với Ấn Độ hoặc 23 lần
so với Trung Quốc, hoặc 80 lần so với Việt Nam. Tiến bộ khoa học và công nghệ trong thời gian

thực trên đầu người đã giảm 5%. Năm 1994 so với 1993 sản lượng lương thực trên toàn thế giới
giảm 1%.
Tại khu vực Châu Á-TBD, trong thập kỷ 80, sản lượng lương thực bình quân đầu người
tăng hàng năm là 3,6%. Tuy nhiên trong thập kỷ 90, sản lượng này có thể giảm do sự hạn chế về
đất trồng trọt và suy thoái chất lượng đất.
Trong những năm qua đường lối chính sách đổi mới kết hợp với các tiến bộ khoa học và
công nghệvề trồng trọt, chăn nuôi, khai thác thuỷ hải sản đã đem lại cho nước ta những thành tựu
tốt đẹp về sản lượng lương thực và thực phẩm.Năm 1993, tổng sản lượng lương thực cả nước đã
lên tới 25,5 triệu tến, trong đó 22,8 triệu tến thóc và 2,7 triệu tến hoa màu quy ra thóc. Năng suất
lúa của nước ta hiện nay là khoảng 7 tến/ha, trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp đã
vượt tăng dân số.
d) Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật
Nhìn chung trên toàn thế giới, lượng phân hoá học và thuốc trừ sâu diệt cỏ sử dụng vào
nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi tăng thêm theo cấp số nhân. Trong những
năm gần đây, các tổ chức quốc tế như FAO, WHO, Chương trình phát triển của LHQ và nhiều tổ
chức môi trường đã cố gắng hạn chế việc sử dụng hoá chất vào nông nghiệp và đã thu được
những kết quả bước đầu.
Tại khu vực Châu Á-TBD là nơi đã và đang có sự gia tăng mạnh mẽ về việc sử dụng thuốc
trừ sâu. Trong thập kỷ 80, lượng thuốc trừ sâu được sử dụng tại các nước Inđônêxia, Pakistan,
Srilanka đã tăng hơn 10% năm. Lượng phân hoá học được sử dụng tại đây dự kiến sẽ giảm với tốc
độ khoảng 4,3% hàng năm. Tuy nhiên do đất nông nghiệp hàng năm đang giảm đi 0,25%, nhu cầu
lương thực lại tăng lên nên có thể dự báo rằng nông nghiệp sẽ tiếp tục phát triển. Thuốc trừ sâu
đang gây tác hại sâu sắc đến chất lượng môi trường và sức khoẻ con người. Who ước tính mỗi
năm có 3% lực lượng lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển(tức 25 triệu người) bị
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 20 -
nhiễm độc thuốc trừ sâu. Vào thập kỷ 90, ở Châu Phi, mỗi năm có khoảng 11 triệu trường hợp
nhiễm độc, Malaysia 7% nông dânbị ngộ độc hàng năm và 15% người bị ngộ độc ít nhất một lần

Loại đất
Diện tích
(ha)
Vùng phân bố tập trung
Đất trống bị thoái hoá mạnh, bao
gồm cả đất bị đá ong hoá
7.000.000 Toàn quốc
Đụn cát và bãi cát di động 400.000 Các tỉnh ven biển miền Trung
Đất khô hạn theo mùa hoặc vĩnh
viễn
300.000
Nam Trung bộ (Bình Thuận,
Ninh Thuận và Nam Khánh
Hoà)
Đất bị xói mòn 120.000
Tây bắc, Tây Nguyên và một số
nơi khác
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 21 -
Đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn 30.000
Đồng bằng sông Cửu Long (Tứ
giác Long Xuyên)
Bảng số liệu trên cho thấy, tổng diện tích đất chịu tác động mạnh bởi sa mạc hóa của Việt
Nam là 7.850.000 ha, chiếm trên 30% tổng diện tích đất canh tác nông, lâm nghiệp của cả nước.
Trong đó chủ yếu là đất trống, đồi trọc thoái hóa mạnh (7.000.000 ha, chiếm 89% tổng diện tích đất
sa mạc hóa). Đó là hậu quả chủ yếu của nạn phá rừng, sử dụng đất không hợp lý kéo dài nhiều năm.
f) Cạn kiệt và suy giảm tài nguyên
* Mất rừng :

- 22 -

* Tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ dầu khí
Trong thập kỷ 80-0, sản lượng dầu mỏ khai thác đã tăng lên 9%, khí đốt 39%. Ở Châu Á, dầu
mỏ tăng 10%, khí đốt tăng 166%, Ở Châu Âu, dầu mỏ tăng 48%, khí đốt tăng 15%. Tại khu vực CA-
TBD, trữ lượng dầu, khí chiếm 5-6% tổng trữ lựơng thế giới. Than đá vẫn giữ vai trò quan trọng của
nguồn nguyên liệu khoáng trong khu vực. Việc sử
dụng nguồn năng lượng này, tết nhiên sẽ gây nên
những tác động không tốt đối với chất lượng không khí và góp phần gây hiệu ứng nhà kính.
Việt Nam hiện nay, bình quân mỗi ngày toàn ngành đang khai thác tại các mỏ Bạch Hổ,
Rồng, Ŀại Hùng, Bunga Kekwa (PM3), Rạng Ŀông, Hồng Ngọc, Sư Tử Ŀen, Lan Tây hơn 50
nghìn tến dầu thô để xuất khẩu và hơn 20 triệu m
3
khí phục vụ phát điện, sản xuất đạm. Kế hoạch
năm 2005, khai thác 18,5 triệu tến dầu thô và 6 tỷ m
3
khí. Việt Nam đã trở thành nước thứ 3 về
khai thác và xuất khẩu dầu thô Đông Nam Á Ngành dầu khí Việt Nam hướng tới mục tiêu đạt sản
lượng khai thác dầu khí 29-30 triệu tến quy dầu vào năm 2010.
* Gỗ củi tiếp tục bị cạn kiệt nhanh chóng
Gổ củi tiếp tục bị khai phá để sử dụng như là nguồn năng lượng quan trọng của nhân loại.
Lượng gỗ trên được khai thác hàng năm vào đầu thập kỷ 1990 lên tới khoảng 1.731 triệu m3, trong
đó lượng gỗ dùng làm củi đốt chiếm khoảng 51%, mức tăng hàng năm gần 2%.
Ở Việt Nam, trữ lượng rừng tự nhiên có khoảng 94,6 triệu m
3
gỗ, 325 triệu cây tre, nứa,
song, rừng giàu và trung bình chỉ chiếm 200.000 ha với trữ lượng gỗ chiếm gần 80% trữ lượng
gỗ của rừng sản xuất. Sản lượng khai thác gỗ bình quân năm 300 - 400 ngàn m
3
đối với rừng tự

cả mọi người chứ không chỉ là vấn đề ở nơi bạn sinh sống”. Hội nghị này bao gồm 2.000 nhà
nhân khẩu học, nhà kinh tế học, nhà địa lý học và xã hội học đến từ 110 quốc gia trên khắp thế
giới. Nhóm chuyên gia liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC), bao gồm các chuyên gia khoa
học về tình trạng toàn cầu ấm lên, dự báo trong bản báo cáo năm 2001 của mình rằng mức tăng
khí thải gây hiệu ứng nhà kính như CO
2
sẽ làm tăng nhiệt độ lên từ 1,4 đến 5,8 độ C vào cuối thế
kỷ này và mực nước biển cũng tăng từ 9 đến 88cm. Các nhà khoa học cũng dự báo tình trạng
toàn cầu ấm lên, mà nguyên nhân chính là do sự tăng khí thải CO
2
từ việc tiêu thụ than đá, dầu và
xăng ở xe cộ và nhà máy điện, sẽ làm tăng các đợt hạn hán, các cơn lũ và bão thường xuyên và
khắc nghiệt hơn, đe dọa đến sản xuất nông nghiệp toàn cầu.
* Tài nguyên nước suy giảm
Tương tự như tài nguyên đất tài nguyên nước ngọt ngày càng trở nên khan hiếm theo đà
tăng trưởng dân số. Nông nghiệp công nghiệp đều đòi hỏi lượng nước rất lớn. Với sự nâng cao
mức sống của nhân dân nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt tăng nhiều lần so với trước dây. Tình
trạng khan hiếm nước nói chung trở nên hết sức căng thẳng trong những thời gian và địa điển
nhất định. Đấu thế kỷ 20 lượng nước dùng cho nông nghiệp trên toàn thế giới tăng từ 500 tỷ lên
đến 3.300 tỷ m
3
; lượng nước dùng cho công nghiệp tăng từ 50 tỷ lên 1.300 tỷ m
3
; lượng nước
dùng cho sinh hoạt tăng từ 20 tỷ lên 400 tỷ m
3
. Để khắc phục tình trạng phân bố nước tự nhiên
không đều, con người đã xây dựng hàng chục vạn hồ chứa nước nhân tạo, trong đó có khoảng
36.000 hồ có đập cao hơn 15m, chứa khoảng 5.000 tỷ m
3

Canada thực hiện, đã cho biết như vậy. Báo cáo nhấn mạnh chất thải rắn tập chung chủ yếu ở các
đô thị. Vùng này có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước, nhưng lại phát sinh đến hơn 6
triệu tến rác mỗi năm, bằng một nửa tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước. Đồng thời, các
Bài giảng Luật và chính sách môi trường ThS. Nguyễn Thị Tịnh Ấu

http://www.ebook.edu.vn
- 24 -
chất thải ở đây cũng có thành phần nguy hại hơn, như pin, dung môi, nhựa, kim loại, thuỷ tinh ,
là những thứ độc hại và khó phân huỷ. Dự báo đến năm 2010, sẽ có thêm khoảng 10 triệu cư dân
sống trong các vùng đô thị, kéo theo sự gia tăng 60% chất thải sinh hoạt, còn chất thải nguy hại
(như chất thải bệnh viện, công nghiệp và sử dụng thuốc trừ sâu) tăng lên 3 lần. Lượng rác thải
phát sinh không ngừng tăng lên, song việc thu gom vẫn chưa được thực hiện hoàn toàn, khối
lượng xử lý thì hầu như không đáng kể. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, chỉ có gần 3/4
lượng rác thải ở các đô thị được thu gom, và 1/5 ở nông thôn. Trong số 91 điểm tiêu hủy rác của
cả nước, chỉ có 17 bãi rác là hợp vệ sinh, số còn lại thường là lộ thiên, gây ô nhiễm nghiêm trọng
đất, nước mặt và nước ngầm. Các lò đốt rác thải y tế có công suất đủ để tiêu huỷ khoảng một nửa
số rác thải y tế nguy hại trên cả nước, song do thiếu kinh phí vận hành và bảo dưỡng, các lò đốt
này được hoạt động không đúng quy trình, làm tăng nguy cơ phát thải các khí dioxin và furan
độc hại.
* Tăng trưởng chi phí về y tế do ô nhiễm môi trường
Do suy thoái chất lượng môi trường ở các khu đô thị, số người bị các bệnh đường tuần
hoàn, hô hấp, ung thư đang tăng lên nhanh. Sức lao động bị giảm, chi phí y tế do cá nhân phải trả
hoặc do ngân sách nhà nước , quỹ phúc lợi xã hội phải đài thọ tăng lên nhanh chóng.
Ô nhiễm không khí đã làm tăng tỷ lệ bệnh về đường hô hấp trong công nhân (viêm phế
quản, ung thư phổi, hen suyễn) và nhân dân vùng lân cận các nhà máy gây ô nhiễm lớn như hoá
chất, xi măng, nhiệt điện, các mỏ lộ thiên và trục giao thông. Ô nhiễm nước là nguồn gốc nhiều
dịch bệnh về tiêu hoá, ký sinh trùng, da liễu. Năng suất sản xuất bị ảnh hưởng đáng kể, chi phí từ
ngân sách nhà nước, của xí nghiệp hoặc của cá nhân người bị bệnh để điều trị rất lớn, nhưng
chưa có số liệu điều tra cụ thể.


chất thải độc hại hay mua bán những hoá chất độc hại nguy hiểm cho môi trường là những hiện
tượng có tính toàn cầu, không một quốc gia nào hay khu vực nào có đủ tiềm lực để giải quyết vấn
đề mà là những vấn đề của toàn thế giới.
I.1. Lịch sử hình thành
Vào những năm cuối thế kỷ 19 đã xuất hiện một số điều ước song phương và đa phương
về một số vấn đề môi trường mà chủ yếu nhằm vào việc giải quyết các vấn đề về nguồn nước ở
sông, hồ biên giới, giao thông thuỷ và các quyền đánh cá ở các sông hồ quốc tế như sông Ranh
và các sông quốc tế khác ở Châu Âu. Các điều khoản về môi trường trong các điều ước Quốc tế
này thường đơn giản. Ví dụ, điều 4 của hiệp ước về vùng nước biên giới giữa Anh và Mỹ năm
1909 chỉ quy định “Nước sẽ không bị gây ô nhiễm ở bờ của phía bên kia và không gây hại sức
khoẻ của con người và tài sản của phía bên kia”.
Đầu thế kỷ 20, có một số điều ước về bảo vệ một số loài động vật có giá trị thương mại
như công ước năm 1902 về bảo vệ các loài chim hữu ích cho nông nghiệp và Hiệp ước 1911 về
giũ gìn và bảo vệ loài Hải cẩu có lông đã được ký kết. Công ước Luân Đôn 1933 về việc bảo tồn
và giữ gìn hệ động và thực vật. Công ước Washington 1940 về bảo vệ tự nhiên và giữ gìn đời
sống hoang dã ở Tây Bán cầu.
Vào những năm 50 và 60, trước nguy cơ về hạt nhân và ô nhiễm dầu đã xuất hiện các điều ước
trách nhiệm Quốc gia đối với thiệt hại do tai nạn hạt nhân gây ra và Công ước quốc tế 1954 về
ngăn chặn ô nhiễm biển do dầu.
Cuối những năm 60, một loạt điều ước quốc tế về môi trường liên quan đến trách nhiệm
dân sự đối với ô nhiễm dầu và kiểm soát ô nhiễm dầu ở biển Bắc đ
ã được ký kết. Công ước Châu
Phi 1968 về bảo tồn thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng được ký kết trong thời
gian này.
Từ năm 1970, đặc biệt là sau Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường con người được tổ
chức tại Stockholm năm 1972, hàng trăm điều ước Quốc tế về môi trường hay liên quan đến môi
trường đã được ký kết. Thời kỳ này cũng đánh dấu sự phát triển vượ
t bậc của Luật Quốc tế về
môi trường. Nhiều công ước quốc tế quan trọng đã được ký kết như công ước về di sản tự nhiên
thế giới, công ước quốc tế về mua bán các lòai đang bị đe dọa, công ước Luân Đôn về việc thải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status