B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
T QUC BN
HIệU QUả ĐIềU TRị VÔ SINH BằNG PHƯƠNG PHáP
CHUYểN PHÔI NGàY 5 CủA THụ TINH TRONG ống nghiệm tại
bệnh viện phụ sản trung ơng
Chuyờn ngnh : Sn ph khoa
Mó s :
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
TS. Lờ Hong
H NI 2013
1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
T QUC BN
HIệU QUả ĐIềU TRị VÔ SINH BằNG PHƯƠNG PHáP
CHUYểN PHÔI NGàY 5 CủA THụ TINH TRONG ống nghiệm tại
bệnh viện phụ sản trung ơng
CNG LUN VN THC S Y HC
H NI - 2013
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị vô sinh bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm (TTTON) đã được
sử dụng rộng rãi trong suốt 20 năm qua ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, ba em
bé thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đầu tiên của Việt Nam đã ra đời khỏe
mạnh vào ngày 30/04/1998 với niềm vui khôn xiết của các cặp vợ chồng lần đầu
tiên được làm bố mẹ sau bao năm chờ đợi. Vào thời điểm đó, nhiều người ở Việt
Nam, ngay cả trong giới y khoa cho rằng Việt Nam chưa thể và không nên thực
khoa học khác lại cho rằng chuyển phôi ngày 3 và ngày 5 tỷ lệ có thai, tỷ lệ làm
tổ khác nhau không có ý nghĩa thông kê, nhưng tỷ lệ phôi đông lạnh ở nhóm
bệnh nhân nuôi phôi ngày 5 ít hơn có ý nghĩa thống kê .
Tại trung tâm HTSS Bệnh viện Phụ sản trung ương, 11 trường hợp chuyển
phôi ngày 5 đầu tiên được tiến hành vào tháng 10/2005 có 5 trường hợp có thai.
Tuy nhiên nuôi cấy phôi tới ngày 5 đòi hỏi mất công sức, thêm tủ cấy, môi
trường. Hiệu quả nuôi cấy phôi ngày 5 đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Để tìm hiểu thêm về vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Hiệu quả
điều trị vô sinh bằng phương pháp chuyển phôi ngày 5 của thụ tinh trong ống
nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Mục tiêu:
1. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới chuyển phôi ngày 5 của thụ tinh
trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
2. Đánh giá hiệu quả điều trị vô sinh bằng phương pháp chuyển phôi ngày 5
của thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm vô sinh
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, vô sinh là tình trạng không có thai sau một
năm chung sống vợ chồng mà không dùng một biện pháp tránh thai nào, đồng
thời tần suất giao hợp ít nhất 2 lần mỗi tuần. Đối với những phụ nữ trên 35 tuổi
thì chỉ tính thời gian là 6 tháng , , .
Đối với trường hợp trong đó nguyên nhân vô sinh đã tương đối rõ ràng thì
việc tính thời gian không còn được đặt ra. Vô sinh nguyên phát là chưa có thai
lần nào, còn vô sinh thứ phát là trong tiền sử đã từng có thai ít nhất 1 lần.
Vô sinh nữ là vô sinh nguyên nhân hoàn toàn do người vợ, vô sinh nam là
vô sinh có nguyên nhân hoàn toàn do người chồng. Vô sinh không rõ nguyên
nhân là trường hợp khám và làm các xét nghiệm thăm dò kinh điển mà không
phát hiện được nguyên nhân nào khả dĩ giải thích được , , .
xuất tinh, rối loạn nội tiết, tắc ống dẫn tinh. Theo Trần Đức Phấn (2001) trong số
các cặp vợ chồng vô sinh có 44% có TDĐ bất thường . Theo Phạm Như Thảo
(2003) trong các cặp vợ chồng vô sinh có 58,4% có TDĐ bất thường .
1.3. Các phương pháp điều trị vô sinh.
Năm 1776, John Hunter thực hiện thành công trường hợp thụ tinh nhân tạo
đầu tiên. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ 20, các phương pháp đánh giá chức năng và
cấu trúc vòi trứng mới trở nên hoàn thiện với sự phát triển của kỹ thuật nội soi.
Cũng vào cuối thế kỷ 20, các tiến bộ trong lĩnh vực nội tiết sinh sản và nam khoa
đã hỗ trợ tích cực cho việc chẩn đoán và điều trị vô sinh. Sự ra đời của em bé
TTON đầu tiên (Luis Brown) năm 1978 đã mở ra một trang mới cho sự phát
triển các kỹ thuật HTSS.
1.3.1. Thụ tinh nhân tạo (Artificialo Insemination)
Thụ tinh nhân tạo (TTNT) hay bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI): là
một kỹ thuật đơn giản, được sử dụng rộng rãi, tỷ lệ thai dồn khá khả quan. TTNT
kết hợp với thuốc kích thích buồng trứng làm tăng đáng kể tỷ lệ có thai so với
giao hợp tự nhiên.
6
• Ưu điểm:
IUI là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, có thể thực hiện nhiều lần (trung bình
3 lần).
TTNT phối hợp dùng thuốc kích thích buồng trứng làm tăng đáng kể tỷ lệ có thai
so với giao hợp tự nhiên.
• Nhược điểm:
Tỷ lệ thành công thay đổi rất nhiều, tuỳ thuộc vào chỉ định và kỹ thuật thực hiện
của từng trung tâm.
Thường phải thực hiện nhiều chu kỳ điều trị, phối hợp với kích thích buồng
trứng.
Nguy cơ quá kích buồng trứng và đa thai.
1.3.2. Thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro Fertilization – IVF).
1.3.2.1. Định nghĩa
c. Lạc nội mạc tử cung:
Lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là sự phát triển của niêm mạc tử cung lạc
chỗ, bên ngoài lòng tử cung. Nguyên nhân LNMTC đến nay vẫn chưa được xác
định rõ , . Trong số phụ nữ bị vô sinh có tới 30%-50% bị LNMTC . Cơ chế là do
các khối lạc nội mạc đã:
- Gây dính trong tiểu khung do đó: ngăn cản loa vòi tử cung lượm noãn, cản
trở nhu động vòi tử cung, làm chít hẹp tử cung.
- Gây rối loạn phóng noãn do khối LNMTC ở buồng trứng đã huỷ tổ chức
lành buồng trứng, ảnh hưởng đến sự chế tiết hormon buồng trứng.
- Cơ chế miễn dịch: do dịch trong ổ bụng ở người có LNMTC thường tăng
lên vào thời kỳ nang noãn và thời kỳ chế tiết, do đó các đại thực bào sẽ tăng lên
và tác dụng tiêu bào ảnh hưởng tới tinh trùng và sự phát triển của phôi dẫn tới vô
sinh .
8
- Phần lớn các cơ chế gây vô sinh của LNMTC có thể khắc phục bằng
phương pháp TTTON . LNMTC chiếm khoảng 2,6% các chỉ định TTTON tại
BVPSTW năm 2003
d. Rối loạn chức năng buồng trứng
Những bệnh nhân thất bại khi điều trị bằng Clomiphen citrat hoặc
Gonadotropin có thể TTTON có kết quả. Lý do phổ biến trong rối loạn này
thường gặp ở các bệnh nhân buồng trứng đa nang. TTTON ở những bệnh nhân
buồng trứng đa nang có những ưu điểm sau:
- Kiểm soát được quá trình kích thích buồng trứng khi phối hợp với GnRH.
- Hút tất cả các nang noãn phát triển.
- Quá trình bảo quản lạnh các phôi thừa và có thể chuyển phôi trong những
lần sau.
- Giảm nguy cơ hội chứng quá kích buồng trứng. Trong các nguyên nhân vô
sinh chỉ định TTTON tại BVPSTW năm 2003 có 4,6% là buồng trứng đa nang
e. Vô sinh không rõ nguyên nhân.
Trong thực tế một lượng lớn bệnh nhân được điều trị vô sinh không rõ
i. Mang thai hộ.
Mang thai hộ được chỉ định cho những trường hợp bị cắt tử cung hay tử
cung bị dị dạng nặng mà vẫn còn buồng trứng. TTTON được thực hiện từ trứng
của người vợ và tinh trùng của người chồng. Người mang thai hộ sẽ được
chuyển phôi, mang thai và đẻ. ở Việt Nam, nghị định 12 của chính phủ chưa cho
phép mang thai hộ .
1.3.2.3. Tóm tắt các bước tiến hành trong TTTON.
- Dùng thuốc kích thích buồng trứng cho nhiều nang noãn phát triển và
trưởng thành.
10
- Theo dõi sự phát triển và trưởng thành của các nang noãn bằng siêu âm và
kết hợp với định lượng estradiol huyết thanh. Điều chỉnh liều thuốc tránh các tác
dụng không mong muốn.
- Chọc hút nang noãn bằng đường âm đạo dưới hướng dẫn của siêu âm sau
khi tiêm hCG 34-36h.
- Thu lượm noãn và đánh giá chất lượng của noãn bào.
- Lọc rửa tinh trùng cùng ngày với chọc hút noãn.
- Sau 3- 4giờ, 1- 2 noãn sẽ chuyển vào 1 giếng cấy chứa khoảng 100.000
tinh trùng/1ml môi trường. Nếu có chỉ định thì thực hiện ICSI vào thời điểm này.
- Theo dõi sự thụ tinh và phát triển của phôi trong những ngày sau.
- Đánh giá chất lượng phôi.
- Chuyển phôi tốt vào buồng tử cung sau khi thụ tinh 5 ngày, số phôi tốt
còn lại sẽ trữ lạnh.
- Theo dõi và xét nghiệm chẩn đoán thai nghén sau chuyển phôi 2 tuần
1.3.2.4. Chống chỉ định TTTON
- Vợ hoặc chồng (người cho noãn, mang thai hộ) có HIV(+).
- Vợ (người cho noãn, mang thai hộ) có các bệnh lý nội khoa có thể nguy
hiểm đến tính mạng khi kích thích buồng trứng hay khi có thai.
- Vợ hoặc chồng bị các bệnh lý di truyền có thể truyền cho con.
1.3.2.5. Kết quả TTTON.
nhóm từ 40 tuổi trở lên chỉ là 5,1%.
- Theo thống kê của Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ có thai giảm từ 50% ở phụ nữ
dưới 30 tuổi xuống còn 10% ở phụ nữ trên 40 tuổi và dưới 1% ở phụ nữ trên 45
tuổi.
Do đó, có thể nói tuổi là một yếu tố quan trọng nhất để tiên lượng về khả năng
sinh sản của người phụ nữ. Tuổi thể hiện một phần chức năng hoạt động của
buồng trứng. Tuổi có thai thích hợp nhất cho người phụ nữ về mặt sinh học là
khoảng 20 - 30 tuổi. Trên 30 tuổi khả năng bắt đầu giảm. Từ 35 tuổi, khả năng
12
có thai giảm rất nhanh, kèm theo là tăng tỷ lệ tai biến trong khi mang thai và sinh
nở.
c. Phác đồ điều trị.
- Các nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên và với số lượng lớn bệnh nhân cho
thấy nhìn chung tỷ lệ có thai cao nhất ở nhóm sử dụng GnRH đồng vận, nhất là
nhóm dùng phác đồ dài. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu phân tích chi tiết ảnh
hưởng của phác đồ này cho từng nhóm. Chất đồng vận chỉ có thể cải thiện tỷ lệ
có thai ở nhóm vô sinh do tắc vòi tử cung nhưng hầu như không có ý nghĩa ở
nhóm vô sinh tiên phát.
- Tại trung tâm HTSS của Bệnh viện Từ Dũ sử dụng phác đồ dài được áp
dụng thường quy cho bệnh nhân, các trường hợp bệnh nhân lớn tuổi, xét nghiệm
máu có LH thấp và bệnh nhân có tiền căn đáp ứng kém với kích thích buồng
trứng thì áp dụng phác đồ ngắn. Kết quả thực tiễn cho thấy khi điều trị bằng phác
đồ dài nang trứng phát triển đồng đều hơn so với phác đồ ngắn.
d. Số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung.
- Tỷ lệ có thai lâm sàng dường như tỷ lệ thuận với số lượng phôi chuyển, tỷ
lệ có thai là 13% trong nhóm chuyển ≤ 3 phôi, 23% trong nhóm chuyển 4 phôi,
27% trong nhóm chuyển 5 - 6 phôi và 33% trong nhóm chuyển ≥ 7 phôi. Tuy số
lượng phôi chuyển ở từng trung tâm là khác nhau nhưng để đề phòng đa thai, xu
hướng giảm số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung khá phổ biến. ở Australia
và NewZeland, trong năm 1987 số phôi chuyển trung bình là 4 thì đến năm 1993
dày và phát triển nhanh hơn. Ngoài ra, nhiều báo cáo cũng ghi nhận hiếm có thụ
thai khi độ dày NMTC < 6 mm.
Hình ảnh NMTC
- Hình ảnh NMTC thay đổi theo từng giai đoạn của CKKN. Đầu chu kỳ,
NMTC thường có dạng phản âm đồng nhất với hình ảnh lòng TC là một đường
tăng sáng. NMTC có hình ảnh hạt cà phê (hình 3 lá) trong pha nang noãn. Trong
khi đó, trong pha hoàng thể, hình ảnh NMTC có dạng tăng sáng đồng nhất.
- ở giữa chu kỳ, hình ảnh NMTC được chia làm 3 dạng (Theo trung tâm phụ
khoa và vô sinh của London).
14
Dạng 1: Có sự phân chia rõ rệt của 3 đường tăng âm so với 2 vùng giảm
âm (hình hạt cà phê hay hình 3 lá). Đây là NMTC thuận tiện cho quá trình làm
tổ.
Dạng 2: Có hình ảnh 3 đường tăng âm nhưng sự khác biệt với vùng giảm
âm không rõ. Dạng 2 sau một thời gian thường diễn tiến về dạng 1.
Dạng 3: Tăng âm toàn bộ, không thấy vùng giảm âm. Đây là dạng NMTC
không thuận tiện cho quá trình làm tổ.
Các chu kỳ KTBT có sử dụng gonadotropins, nhất là phác đồ dài thường cho
hình ảnh NMTC dạng 1(3 lá) vào ngày tiêm hCG.
f. Chất lượng phôi.
- Chất lượng phôi khi chuyển là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành
công của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Các chứng cứ đều cho thấy tỷ lệ có thai giảm khi chất lượng phôi chuyển
giảm. Tỷ lệ có thai giảm từ 53,8% ở bệnh nhân có ít nhất 1 phôi tốt (TQE – top
quality embryo) xuống 26,3% ở những bệnh nhân không có phôi tốt.(J. Witmyer,
2002).
Theo nghiên cứu của Lê Thị Phương Lan và Cs (2007) thì các bệnh nhân không
có phôi tốt, tỷ lệ có thai giảm còn 3,7% so với 19,3% khi có ≥ 2 phôi tốt.
- Nghiên cứu của Jonh F Payne và cs (2005) cũng cho thấy tỷ lệ có thai tăng khi
số phôi tốt tăng. Tỷ lệ có thai khi có 2 phôi tốt là 42,9%: có 1 phôi tốt là 40%,
- Ngay sau khi thụ tinh noãn bắt đầu quá trình phân bào giảm nhiễm lần 2
mà đang bị ngừng ở metaphase II. Hoàn thành quá trình giảm phân II và tống
cực cầu 2 vào khoang quanh noãn khoảng vài giờ sau thụ tinh. NST trong noãn
được bao quanh lại bởi một màng và hình thành tiền nhân nữ, chất NST ở đầu
tinh trùng tan ra và cũng được bao bọc bởi một màng và hình thành tiền nhân
nam.
- Vào khoảng 18h sau thụ tinh có thể thấy các hạt Nucleoli xếp lại với nhau
theo một hướng đặc biệt. Cũng có thể thấy noãn có 3 hoặc 1 tiền nhân do đa thụ
tinh.
1.4.1.2. Giai đoạn phân cắt (Cleavage).
16
- Sự phân cắt phôi là một loạt lần phân chia tế bào nguyên nhiễm, chia hợp
tử thành các tế bào nhỏ gọi là nguyên phôi bào. Quá trình này khác với phân bào
bình thường là phôi bào chỉ tổng hợp nhân, chứ không tổng hợp bào tương do đó
toàn bộ khối phôi bào không gia tăng kích thước.
- Sự phân cắt xảy ra ngay từ ngày thứ nhất (D1) sau khi thụ tinh và tiếp tục
trong khi di chuyển vào vòi tử cung. Vào ngày thứ nhất (khoảng 40- 44 h) sau
khi thụ tinh phôi có 2 tiền nhân (2PN) và bắt đầu phân chia, cuối D1 phôi có
dạng 2 tế bào. Vào ngày thứ 2 có khoảng 4 tế bào, trên invitro giai đoạn này
thường có block của phôi (phôi dừng phát triển), xảy ra trong giai đoạn 4 - 8 tế
bào, 40% phôi vitro ngừng phát triển tế bào.
1.4.1.3. Giai đoạn Blastocyt.
a. Compaction:
- Vào ngày thứ 3 hay 4 xảy ra hiện tượng Compaction lúc này phôi có tối
thiểu 8 tế bào, nếu không bị block ở giai đoạn này phôi sẽ tiếp tục phân bào và
compaction tạo ra phôi dâu 16 tế bào. Trong thời gian này phôi vẫn còn màng
trong suốt.
- Hiện tượng compaction làm cho các phôi bào bám vào nhau, tiếp tục gắn
khít nhau làm giảm khoang gian bào và đường viền quanh tế bào cũng mờ đi,
ranh giới giữa các phôi bào trở nên khó phân biệt.
đoạn túi mầm. Túi mầm thường được quan sát thấy vào ngày thứ 5 – 6 hay gọi là
giai đoạn phôi nang. Đầu giai đoạn phôi nang còn màng trong suốt, cuối giai
đoạn phôi nang không còn màng trong suốt.
- Giai đoạn phôi nang cũng là giai đoạn được lựa chọn để chuyển phôi ở
một số trung tâm IVF tuy nhiên giai đoạn này cũng hay gặp block 2 trong vitro.
1.4.2. Sự phát triển của phôi trong cơ thể và trong ống nghiệm.
1.4.2.1. Sự phát triển phôi trong cơ thể.
- Sự thụ tinh của người xảy ra ở đoạn bóng của vòi tử cung, sau đó trứng
thụ tinh sẽ di chuyển vào buồng tử cung, quá trình kéo dài 3 – 4 ngày. Phôi dâu
được hình thành ở giai đoạn eo vòi tử cung, phôi di chuyển dọc theo vòi tử cung
18
nhờ các lông chuyển, luồng dịch vòi tử cung và sự co bóp của các cơ vòi tử
cung.
- Các phức hợp tế bào vành tia bao quanh phôi, các chất tiết từ tế bào biểu
mô vòi tử cung cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của phôi.
1.4.2.2. Sự phát triển của phôi trong ống nghiệm.
- Ngày 1 (D1): Sự thụ tinh kết thúc giai đoạn 2 tiền nhân hoà nhập với nhau
khoảng 16 h sau. ở một số trường hợp tiền nhân có thể xuất hiện sớm 12 - 14 h
hay trễ 20 - 22 h.
- Sự phân cắt đầu tiên có thể xảy ra khoảng 35 – 36 h. Sau ngày 2 (D2),
phôi phát triển đạt đến giai đoạn 2 – 4 tế bào. Thời gian trung bình cho phân bào
phân cắt là 45,7 h. Sau ngày 3 (D3) phôi phát triển đến giai đoạn 8 tế bào, thời
gian trung bình là 54,3h.
- Sự compaction xảy ra trong giai đoạn 8 tế bào này.
- Giai đoạn từ 4 – 8 tế bào có thể xuất hiện block, yếu tố nào thực sự gây ra
hiện này vẫn chưa được rõ. Do đó tỷ lệ % rõ rệt của phôi được thụ thai qua IVF
sẽ không đến được giai đoạn blastocyst.
- Ngày bốn (D4): đầu D4 có dấu hiệu sớm của tạo khoang trống. Trứng có
thể thoát màng trong suốt sớm vào ngày này qua lỗ thủng màng trong suốt ở
những phôi từ ICSI.
trình sinh học nhưng thời điểm chuẩn sẽ là thời điểm mà những sự kiện thường
xảy ra ở phần lớn bệnh nhân/ trường hợp. Việc đánh giá thụ tinh và sự phát triển
của phôi nên chính xác về thời gian khi tính theo thời điểm thực hiện ICSI hay
IVF cổ điển. Đối với phôi, việc đánh giá và ghi nhận phải bao gồm 2 phần:
sốlượng phôi bào/ giai đoạn phát triển và phân loại cho phôi.
Bảng 1: Thời điểm quan sát noãn thụ tinh và phôi, và giai đoạn phát triển tương
ứng ở từng thời điểm:
Thời điểm (sau cấy
IVF/ICSI)
Giai đoạn phát triển
tương ứng
Kiểm tra thụ tinh 17±1 Giai đoạn tiền nhân
Kiểm tra sau thụ tinh 23±1 50% xuất hiện 2PN sát
20
(syngamy check) nhau (trên 20% đạt đến
giai đoạn 2 tế bào)
Kiểm tra giai đoạn phân
chia sớm
26±1 giờ sau ICSI
28±1 giờ sau IVF
2 tế bào
Đánh giá phôi ngày 2 44±1 4 tế bào
Đánh giá phôi ngày 3 68±1 8 tế bào
Đánh giá phôi ngày 4 92±1 Phôi dâu (morula)
Đánh giá phôi ngày 5 116±2 Phôi nang (blastocyst)
Đánh giá noãn:
Quan điểm đồng thuận về hình dạng tốt nhất của noãn là cấu trúc hình
cầu; màng trong suốt (ZP - zona pellucida) đồng nhất; bào tương sáng màu, đồng
nhất, không có các thể vùi (inclusion) và thể cực có kích thước hợp lý. Ngoài ra,
noãn phải trưởng thành cả về nhân lẫn tế bào chất.
tùy theo từng noãn và không hoàn toàn là một phát triển “bất thường”.
Ngoài ra, “độ hạt” (granularity) của bào tương là yếu tố không rõ ràng và
hoàn toàn khác với hiện tượng kết đám của các bào quan (organelle cluster). Sự
kết đám của các bào quan có thể phát hiện được dưới kính hiển vi, nhưng “độ
hạt” thường chỉ nhìn thấy khi điều chỉnh độ cao thấp của thị kính kính hiển vi
phản pha. Sự kết đám của các bào quan thường làm giảm khả năng làm tổ của
phôi.
Sự xuất hiện thể lưới nội chất trơn (sER – smooth endomedium reticulum)
hình đĩa cũng ảnh hưởng xấu đến kết quả một cách đáng kể . Những noãn này
không nên cho kết hợp với tinh trùng.
Thêm vào đó, các noãn của cùng một ca cũng nên ghi nhận nếu có sự xuất
hiện của sER (1 thể hình đĩa hoặc nhiều thể đĩa nhỏ).
Không bào (vacuolization)
Một vài không bào nhỏ (kích thước khoảng 5 -10μm) chứa dịch, trong
suốt có thể không hẳn là bất thường trong quá trình phát triển, nhưng những
không bào lớn (kích thước >14μm) sẽ khiến cho quá trình thụ tinh thất bại. Ở
những noãn thụ tinh, những không bào này xuất hiện sau giai đoạn 2PN tiến sát
nhau (symgamy) có thể gây trở ngại đối với các mặt phẳng phân chia, kết quả là
làm giảm tỉ lệ tạo phôi nang. Do đó, những không bào lớn nên được ghi nhận
vào thời điểm quan sát.
Kiểm tra thụ tinh
Noãn thụ tinh thường có hình cầu, với 2 thể cực và 2 tiền nhân (pronuclei -
PN) có màng bao riêng biệt, kích thước bằng nhau, nằm sát nhau ở vùng trung
tâm của noãn. PN có số lượng và kích thước của các thể hạt nhân (NPB –
22
nucleolar precursor body) tương đương nhau, sắp xếp thẳng hàng tại vùng giao
nhau của màng 2 PN.
Ý kiến đồng thuận về điểm này là kích thước và vị trí của cả 2 PN nên
được đánh giá vào thời điểm kiểm tra thụ tinh (bảng 1). Những đặc điểm như PN
cách xa nhau, quá khác biệt nhau về kích thước hoặc có NPB quá nhỏ đều được
nhanh hơn mong đợi thường có bất thường và cũng có khảnăng làm tổ thấp.
Do đó, đồng thuận về tốc độ phát triển của phôi sẽ là 4 tế bào đối với phôi
ngày 2 và 8 tế bào đối với phôi ngày 3, phụ thuộc vào thời điểm thực hiện thụ
tinh. Tuy nhiên, tất cả chuyên gia đều đồng ý rằng, quan điểm này có thể thay
đổi trong tương lai, phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy được sử dụng.
Mảnh vỡ bào tương (fragmentation)
Mảnh vỡ bào tương là một khối bào tương có màng bao, nằm ngoài tế bào,
có kích thước <45μm đối với phôi ngày 2 và <40μm đối với phôi ngày 3. Các
mức độ của mảnh vỡ bào tương bao gồm: nhẹ (<10%), vừa phải (10 – 25%) và
nặng (>25%). Giá trị % được tính dựa trên thể tích của phôi bào, ví dụ ở phôi 4
tế bào, 25% mảnh vỡ bào tương sẽ tương đương với 1 phôi bào. Tuy nhiên, trong
quan điểm đồng thuận, vị trí của các mảnh vỡ trong phôi không được nhắc đến,
trong khi đây là một yếu tố quan trọng, vì chúng có thể di chuyển trong phôi.
Đa nhân (multinucleation)
Đa nhân được ghi nhận khi trong phôi bào xuất hiện nhiều hơn 1 nhân.
Đồng thuận về đa nhân là sẽ làm giảm khả năng làm tổ, và những phôi có phôi
bào đa nhân thường có tỉ lệ bất thường về nhiễm sắc thể cao và kết quả là nguy
cơ sẩy thai tự phát tăng nếu những phôi này được chọn để chuyển.
Các chuyên gia đồng ý rằng việc đánh giá đa nhân nên được thực hiện vào
ngày 2 (44±1 giờ sau cấy thụ tinh) và khi 1 phôi bào có đa nhân thì phôi đó được
xem là phôi đa nhân. Việc đánh giá đa nhân vào ngày 3 thường phức tạp do kích
thước tế bào nhỏ hơn và do đó độ tin cậy không cao. Hệ thống nhị phân (xuất
hiện hay không xuất hiện) được sử dụng trong việc ghi nhận đối với phôi bào đa
nhân.
Kích thước tế bào
Phôi ở giai đoạn 2, 4 và 8 tế bào nên chứa những phôi bào có kích thước
bằng nhau. Kích thước phôi bào chỉ khác nhau khi phôi chưa hoàn tất pha phân
chia. Cách đánh giá kích thước phôi bào cũng sử dụng hệ nhị phân để ghi nhận
tất cả phôi bào có kích thước hợp lý với giai đoạn phát triển hay không.
Những đặc điểm khác ở phôi ngày 2 và ngày 3
1.6. Một số đặc điểm về hệ thống nuôi cấy phôi nang
Nguồn năng lượng
Trứng ở giai đoạn tiền nhân, tương tự như trứng ở giai đoạn MII, tiêu thụ
lượng oxygen khá ít và đặc biệt đòi hỏi carboxylic acid (ví dụ như pyruvate) là
nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu. Ở giai đoạn phôi phân chia sớm, glucose
được sử dụng với lượng rất nhỏ (các hoạt động sinh tổng hợp của phôi ít xảy ra ở
những giai đoạn đầu).
Ở giai đoạn phôi nang, phôi có nhu cầu sử dụng nhiều oxygen hơn và liên
tục sử dụng glucose cùng các nguồn cung cấp năng lượng khác.
25