ĐặT VấN Đề
Hiện nay trên thế giới cũng nh ở Việt Nam bệnh đái tháo đờng (ĐTĐ) là
một bệnh phổ biến, có tính chất xã hội, các tổn thơng của bệnh ĐTĐ để lại
nhiều di chứng trên nhiều bộ phận của cơ thể trong đó có mắt.
Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) công bố năm 1985 con
số ngời mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới là 30 triệu ngời, đến năm 1994 đã lên tới
110,4 triệu ngời. Dự đoán đến năm 2012 sẽ là 348.6 triệu ngời [38].
ở Việt Nam bệnh ĐTĐ đang có chiều hớng gia tăng, tại bệnh viện Mắt
Trung ơng năm 2002 Tôn Thị Kim Thanh, Nguyễn Chí Dũng và cộng sự đã
công bố đề tài nghiên cứu về: Đánh giá tình hình mù loà, hiệu quả và những
trở ngại đối với can thiệp mổ đục thể thuỷ tinh (TTT) ở cộng đồng hiện nay,
Công trình nghiên cứu cấp bộ về tình hình mù loà trên toàn quốc [22].
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy biến chứng tại mắt của
bệnh ĐTĐ có thể gây mù loà và giảm thị lực, các tổn thơng của bệnh ĐTĐ để
lại nhiều di chứng trên nhiều bộ phận của nhãn cầu trong đó đục TTT là tổn
thơng thờng gặp và cũng là nguyên nhân gây mù loà ở nớc ta cũng nh nhiều n-
ớc khác trên thế giới.
Lê Huy Liệu và cộng sự 1991 [9] đánh giá tình hình BN nằm tại khoa
Nội tiết bệnh viện Bạch Mai 1984-1988 có biến chứng mắt là 33,40% trong đó
đục TTT là 22,48%, Thái Hồng Quang bệnh viện 103 (1989); [15] đã thống kê
ở 120 bệnh nhân ĐTĐ thấy đục TTT là 17,5%.
Tác giả Jean Antoine-Bernard 1992 [54] thấy thờng gặp đục TTT khi
ĐTĐ từ 5-6 năm.
Phẫu thuật TTT trên mắt đục TTT của bệnh nhân ĐTĐ thờng gặp nhiều
khó khăn do đồng tử giãn kém [72], tiền phòng nông dễ xảy ra các biến
chứng trong và sau phẫu thuật nếu không có thái độ đúng đắn trong việc lựa
chọn thời điểm và phơng pháp phẫu thuật.
Một thời gian dài các phẫu thuật viên (PTV) ít đề cập đến điều trị phẫu
thuật TTT đục trên bệnh nhân ĐTĐ vì cho rằng nhiều rủi ro có thể xảy ra hoặc
1
kết quả phẫu thuật không cao nhất là với những phơng pháp phẫu thuật cổ
ởng đến sự thay đổi này, bởi vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với
mục tiêu sau:
1. So sánh chiều dày giác mạc sau mổ Phaco giữa BN ĐTĐ và
không bị ĐTĐ tại bệnh viện mắt trung ơng.
2. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hởng đến sự biến đổichiều dày giác
mạc sau phẫu thuật phaco.
3
Ch¬ng 1
Tæng quan
1.1. Gi¶i phÉu vµ Sinh lý GI¸C MẠC
Giác mạc là 1/6 của vỏ ngoài nhãn cầu, nó có tính chất trong suốt vừa
có tác dụng cơ học ngăn giữa mắt với môi trường bên ngoài vừa có tác dụng
cho phép thẩm thấu trao đổi chất giữa bề mặt và môi trường bên trong nhãn
cầu. Giác mạc biệt hóa vô mạch, sống được là nhờ oxy ngoài môi trường
thong qua bề mặt phái trước giác mạc và nhờ các chất dinh dưỡng từ thủy
dịch đi qua bề mặt phái sau giác mạc, do đó nó có đặc tính về quang học các
cấu trúc lân cận giác mạc như kết mạc và các tuyến lệ cũng tham gia bảo vệ
giác mạc và đảm bảo tính quang học thông qua chế tiết chất bôi trơn trên bề
mặt giác mạc.
Giác mạc có đường kính 12,6mm theo chiều ngang và 11,7mm theo
chiều thẳng đứng mặt trước của giác mạc cong không đều độ cong của bề mặt
vùng trung tâm khoảng 7,8mm, công suất khúc xạ của giác mạc khoảng 48
điop. Giác mạc chu biên dẹt, phía mũi dẹt hơn phía thái dương, độ dày trung
bình của giác mạc vùng trung tâm là 0,52mm và vùng chu biên là khoảng
0,65mm – 0,7mm.
Giác mạc được chia làm 5 lớp: Biểu mô, màng bowman, nhu mô, màng
Descemet và nội mô, phim nước mắt phía trước giác mạc không phải là một
phần của giác mạc nhưng nó có liên quan mật thiết với giác mạc về mặt giải
phẫu và chức năng.
1.1.1. Biểu mô:
5
1.1.6. Nhu mụ
nhu mụ chim 90% b dy giỏc mc bo nm ri rỏc gia cỏc lp, cú
cỏc si trc thn kinih cựng vi cỏc t bo schwann phn ba trc v gia
ca nhu mụ Collagen chim khong 71% ton b trong lng khụ ca giỏc
mc v l nhng cu trỳc i phõn t m bo cho t chwucs cú tớnh trong
sut nhng vn chu c ỏp lc ni nhón.
1.1.7. Mng Descemet
L 1 mng ỏy dy do ni mụ ch tit ra bao gm phn trc cú võn v
phn sau khụng cú võn. Mng Descemet bt u c cht tit ra t thỏng
th 4 ca thi k thai nghộn, cú dy tng dn theo tui nhng ch thay i
lp khụng cú võn.
1.1.8. Ni mụ
Ni mụ giỏc mc c to bi mt lp hng t bo n bo gm
khong 400.000 t bo, dy 4-6mm mt sau giỏc mc.Nội mô giác mạc là
lớp sau cùng của giác mạc, tiếp xúc trực tiếp với thuỷ dịch, có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với hình thể và chức năng giác mạc, duy trì độ trong suốt của
giác mạc nhờ hoạt động của hệ thống bơm nội mô [69]. Phẫu thuật TTT hầu
hết đều gây ra sự thiếu hụt tạm thời chức năng của nội mô GM, trong một số
rất ít trờng hợp còn gây rối loạn vĩnh viễn chức năng của nội mô, có thể diễn
ra ngay lập tức sau phẫu thuật, hoặc xuất hiện muộn. Việc đánh giá tình trạng
nội mô trớc phẫu thuật, sự biến đổi của tế bào nội mô sau phẫu thuật TTT là
cần thiết và có ý nghĩa về chỉ định và tiên lợng bệnh .
6
1.2. ĐạI CƯƠNG Về BệNH ĐáI THáO ĐƯờNG
1.2.1 Định nghĩa.
Tổ chức y tế thế giới định nghĩa: đái tháo đờng là một hội chứng có
đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/ hoặc mất
hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt
động của insulin[5].
đờng khi đi khám mắt.
1.2.4 Chẩn đoán bệnh đái tháo đờng
Theo Tổ chức y tế thế giới năm 1999, đái tháo đờng đợc chẩn đoán xác định
khi bệnh nhân có ít nhất một trong 3 tiêu chuẩn sau [6][10][8]:
- Đờng máu tĩnh mạch lúc đói >7,0 mmol/l (126 mg/dl) (làm xét nghiệm
2 lần)
- Hoặc đờng máu tĩnh mạch ở bất kỳ thời điểm nào >11,1 mmol/l, có thể
kèm theo triệu chứng của đái tháo đờng.
- Hoặc đờng máu tĩnh mạch >11,1 mmol/l sau 2 giờ làm nghiệm pháp
dung nạp Glucose với 75g Glucose.
1.2.5 Các biến chứng tại mắt của bệnh đái tháo đờng :
+ Đục thể thuỷ tinh,glôcôm tân mạch,bệnh võng mạc đái tháo đờng.
1.3 Sinh bệnh học của tổn thơng mắt do đái tháo đ-
ờng:
8
1.3.1 Cơ chế bệnh sinh đục thuỷ tinh thể do đái tháo đờng
Đục thể thuỷ tinh là một trong những biến chứng mắt quan trọng khác
trên bệnh nhân đái tháo đờng. Tỷ lệ đục thể thuỷ tinh ở những ngời mắc đái
tháo đờng týp II vào khoảng 31% [60]. Đục thể thuỷ tinh xuất hiện sớm hơn
và tiến triển nhanh hơn ở những ngời đái tháo đờng, ngời ta thấy những thay
đổi theo tuổi của đục nhân hoặc đục vỏ và dới vỏ phát triển ở tuổi sớm hơn so
với những ngời không bị đái tháo đờng( 59% những ngời khởi phát muộn có
lứa tuổi 30 54 so với 12% ở những ngời đối chứng ghép cặp theo tuổi) [6]
[65]. Đục thể thuỷ tinh cũng có thể ảnh hởng đến tổn thơng thị giác nhanh
hơn, thậm chí tuổi trung bình đòi hỏi phải lấy thể thuỷ tinh cũng sớm hơn [6]
[66]. Thể thuỷ tinh trên mắt những ngời mắc đái tháo đờng cũng dày hơn so
với những ngời không mắc đái tháo đờng [61], đồng thời vỏ thể thuỷ tinh cũng
dày lên. Ngoài ra, trên mắt ở giai đoạn tăng sinh của bệnh nhân đái tháo đờng,
ngời ta còn thấy thể thuỷ tinh to hơn và tiền phòng nông hơn so với những ng-
ời không mắc đái tháo đờng[59][60].
võng mạc đái tháo đờng là những vi tắc mạch và tăng tính thấm của thành
mao mạch[Error: Reference source not found1][9].
1.3.2.1. Các tổn thơng võng mạc của bệnh đái tháo đờng
-Vi phình mạch
-Xuất huyết võng mạc
-Phù hoàng điểm
-Xuất tiết võng mạc
-Tổn thơng mạch máu võng mạc
- Các tân mạch
-Tắc tĩnh mạch võng mạc trên bệnh nhân có bệnh võng mạc đái tháo
đờng.
10
1.3.3. Glôcôm :
-Cả 2 hình thái của glôcôm ( nguyên phát và thứ phát) đều có thể gặp trên
bệnh nhân đái tháo đờng. Tiến hành nghiên cứu trên 400.000 BN đái tháo đ-
ờng, James Orcutt thấy tỷ lệ biến chứng glôcôm khoảng 11%[69]. Nghiên cứu
mắt Blue Mountains (Autralia) trên 3645 ngời, tỷ lệ hiện mắc glôcôm ở những
ngời mắc đái tháo đờng là 5.5% so với 2.8% ở những ngời không bị mắc đái
tháo đờng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa đái
tháo đờng và glôcôm.
-Glôcôm góc mở nguyên phát với đặc điểm nhãn áp cao và dẫn đến tổn hại đĩa
thị. Có tới 4,9% glôcôm góc mở nguyên phát gặp ở những bệnh nhân đái tháo
đờng so với những ngời không bị đái tháo đờng(1,8%) [6]. Bệnh nhân bị mất
thị trờng và thị lực một cách nhanh chóng. Đái tháo đờng đợc coi là một yếu
tố nguy cơ của glôcom góc mở nguyên phát, tuy nhiên cho đến nay mối liên
quan giữa đái tháo đờng và glocom góc mở nguyên phát cũng cha thực sự
sáng tỏ [70].
-Glôcom tân mạch (Rubeosis) là hình thái glôcôm thứ phát, là kết quả của tiến
triển bất thờng tân mạch trên mống mắt. Các tân mạch này làm cản trở dòng
ngoại thuỷ lu của mắt, gây nên tình trạng tăng nhãn áp. Về mặt mô học, tân
với tốc độ 0,5-1 mm/ngày để che phủ vùng lộ màng Descemet. Những chuyển
động này là do biến đổi của lới sợi actin và những ống siêu vi của khung tế
bào. Sự sắp xếp lại và giảm tạm thời f-actin tạo nên vành đai tập trung các mũi
nhọn của tế bào vào các phức hợp ở khoảng gian bào, xuất hiện ngay trong
những giờ đầu sau tổn thơng [Error: Reference source not found], [Error:
Reference source not found], [53].
12
Đồng thời với sự di c tế bào có sự ngừng tiết tạm thời laminin và
fibronectin là các chất có vai trò trong dính kết tế bào. Hai glycoprotein này bị
giữ lại trong tế bào trong quá trình di c, làm cho sự di c tế bào diễn ra dễ dàng
hơn.
Các proteoglycan là các protein có nhánh hay nhiều chuỗi glycosaminoglycan
cũng có vai trò trong quá trình di c tế bào: những tế bào bình thờng chứa rất ít
chất chondroitinsunfat và heparansunfat nhng lại rất nhiều keratansunfat,
trong các tế bào di c sau tổn thơng nội mô có thành phần ngợc lại, chất
heparansunfat trở thành thành phần chính ở mặt ranh giới giữa màng
Descemet và tế bào di c, các yếu tố này tạo điều kiện cho quá trình di c tế bào
dễ dàng hơn.
1.4.1. Các nguyên nhân trong phẫu thuật có thể dẫn tới tổn hại nội mô
[Error: Reference source not found].
- Sự tiếp xúc trực tiếp giữa tế bào nội mô với dụng cụ phẫu thuật hoặc các
vật nhân tạo (nh TTT nhân tạo): Để tránh những sang chấn cơ học, việc sử
dụng chất nhầy trong các phẫu thuật nội nhãn từ những năm 1980 đã có tác
dụng bảo vệ nội mô và giúp các thao tác thực hiện trong tiền phòng đợc dễ
dàng hơn.
- Độc tính của các hoá chất đến nội mô: Chất khử trùng ở đầu dụng cụ có
thể gây độc và gây phù giác mạc sau phẫu thuật nếu các chất này tiếp xúc với
nội mô. Dịch truyền dùng trong phẫu thuật và các hoá chất có trong tiền
phòng là yếu tố quan trọng liên quan đến mất tế bào nội mô. Dịch muối đẳng
trơng BSS Plus có thành phần ion, độ thẩm thấu và pH giống thuỷ dịch, môi tr-
các tế bào bị giãn mỏng, diện tiếp xúc giữa các TB không đủ chỗ cho bơm TB,
do đó xảy ra phù do mất bù nội mô [43].
14
1.4.2.2. Biến đổi về hình thái tế bào [Error: Reference source not found],
[32].
- Biến đổi hình dạng tế bào (Pleomorphism): Các tế bào bị biến dạng,
không còn hình lục giác bình thờng, biểu hiện bằng giảm tỷ lệ phần trăm tế
bào sáu cạnh.
- Biến đổi kích thớc tế bào (Polymegethism): Các tế bào to nhỏ không
đều, biểu hiện bằng tăng hệ số biến thiên về diện tích tế bào.
- Mật độ tế bào ở những vùng lân cận với vùng tổn thơng giảm nhiều hơn
so với những vùng còn lại gây ra sự không đồng nhất về hình thái tế bào của
nội mô giác mạc.
Sự thay đổi tế bào chỉ bằng cách di c tế bào chứ không có sự phân bào sẽ
có nhợc điểm là khi tồn tại một vật lạ gây kích thích dai dẳng sẽ gây tổn thơng
tiến triển. Chẳng hạn càng thể thuỷ tinh nhân tạo tiếp xúc với nội mô, những
tế bào xung quanh di c không ngừng về phía yếu tố gây kích thích này và chết
đi, gây ra sự giảm sút nội mô thực sự và gây phù giác mạc mất bù.
Khi sự mất tế bào nội mô tới trên 80% thì xảy ra sự ngấm nớc GM do
quá ngỡng bù trừ.
1.4.3. Biến đổi nội mô sau phẫu thuật TTT.
Sự toàn vẹn chức năng của nội mô là cần thiết cho sự trong suốt hoàn
toàn của giác mạc. Chức năng của nội mô bị đe doạ trong tất cả các phẫu thuật
nội nhãn, đặc biệt là trong phẫu thuật TTT. Phẫu thuật TTT thờng gây ra sự rối
loạn chức năng của nội mô ngay lập tức (viêm giác mạc khía), một số ít khác
gây rối loạn chức năng vĩnh viễn sau phẫu thuật (loạn dỡng GM), hoặc xuất
hiện muộn (loạn dỡng muộn).
15
Mức độ biến đổi nội mô sau phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó có độ cứng của nhân TTT, thời gian sử dụng năng lợng tán nhuyễn nhân,
gây bệnh giác mạc bọng do TTT nhân tạo [Error: Reference source not
found].
Kauffman và cộng sự nhờ kính hiển vi điện tử quét đã nhận thấy rằng tế
bào nội mô liên kết với PMMA của TTT nhân tạo khi tiếp xúc, các tế bào nội
mô bị phá huỷ khi cọ vào TTT nhân tạo.
Hiện nay, kỹ thuật đặt TTT nhân tạo hậu phòng sau khi lấy TTT ngoài
bao hoặc tán nhuyễn TTT bằng siêu âm làm giảm đáng kể tổn thơng nội mô
sau phẫu thuật. Trong khi tỷ lệ mất nội mô sau đặt IOL tiền phòng là 20% thì
với IOL hậu phòng tỷ lệ này chỉ là 12% theo T.P.Werblin [54].
Tuy nhiên, mức độ biến đổi tế bào nội mô sau phẫu thuật ở từng vùng
của giác mạc là khác nhau. R.O.Schultz và cộng sự (1986) đã khảo sát sự thay
đổi chiều dày giác mạc, biến đổi số lợng và hình thể tế bào nội mô ở từng
vùng giác mạc [49]. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi số lợng và hình
thể tế bào (sự giảm tỷ lệ tế bào sáu cạnh, tăng giãn rộng tế bào, tăng hệ số
biến thiên) diễn ra mạnh nhất trong vòng 1 tuần sau mổ ở vùng gần mép mổ.
Sự biến đổi này diễn ra ở vùng trung tâm giác mạc sau mổ 1 tháng . Biến đổi
nội mô sau mổ diễn ra mạnh nhất ở vùng gần mép mổ và yếu nhất ở vùng đối
diện, sự khác biệt này chủ yếu do khoảng cách từ vùng đợc đánh giá đến mép
vết mổ. Hoffer cũng cho rằng tổn thơng GM có khuynh hớng theo chiều dọc
(vertical endothelial cell disparity) [30].
Kết quả nghiên cứu của Schultz(1986), Hirst(1977), Galin.M.(1979),
Rao(1981) đều cho thấy nội mô giác mạc ổn định về mật độ tế bào và ngừng
17
quá trình biến đổi về hình thái trong vòng 3 tháng sau phẫu thuật ở tất cả các
vùng của GM [Error: Reference source not found], [45], [49].
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Schultz, sự mất tế bào nội mô ngay tại
vùng giác mạc phía trên (vùng mép mổ) sau phẫu thuật trong bao nhiều hơn so
với phẫu thuật ngoài bao.
Gần đây, Bùi Thị Thu Hơng và cộng sự (1999) đã nghiên cứu sự biến đổi
nội mô sau phẫu thuật TTT . Kết quả cho thấy nội mô ổn định về số lợng và
+ Độ sâu của đờng rạch 1/2 chiều dày giác mạc
+ Chiều dài của đờng hầm khoảng 2 2,5mm.
* Có nhiều kỹ thuật tán nhuyễn nhân TTT từ những năm 60 của thế kỷ
XX, charles Kelman là ngời đầu tiên giới thiệu phơng pháp tán nhuyễn TTT
trong tiền phòng, cho đến nay rất nhiều kỹ thuật mới ra đời, đặc biệt là kỹ
thuật tán nhuyễn TTT trong bao, điển hình phải kể đến các kỹ thuật:
Kỹ thuật phaco trong bao của Michelson Hara, kỹ thuật (cut and suck)
của Davison, kỹ thuật (chip and flip ) của Louis D. Kỹ thuật (Top and chop)
19
của Kock, kỹ thuật (phaco chop) của Nagahara, kỹ thuật (chop and insitu) của
Vasavada, kỹ thuật (phaco quick chop) có rất nhiều kỹ thuật tán nhuyễn
nhân TTT, mỗi kỹ thuật có một u điểm riêng đối với từng độ cứng của nhân,
dây treo TTT và khả năng giãn của đồng tử, sau đây là các kỹ thuật đợc nhiều
PTV sử dụng.
* Kỹ thuật phaco chop.
Đây là kỹ thuật tách phần lõi nhân đã đợc Nagahara trình bày ở Settle
(1993) và hội nghị nhãn khoa châu Âu (1994).
Sau khoảng 2-3 lần đào nhẹ, nông phần nhân mền ở trung tâm ngời ta
phải dùng lực phaco (60%-100%) găm chặt đầu tip vào giữa chiều dày của
nhân TTT ở sát bờ vòng xé bao vị trí 12 giờ, lúc này nhả bàn đạp về vị trí 2 để
ngừng siêu âm và giữ áp lực hút cao (150- 250 mmHg) để găm chặt lấy khối
nhân, đầu phaco giữ yên tại chỗ khi đó PTV nhẹ nhàng luồn chopper xuống
phía dới của bờ vòng xé bao ở vị chí 6h cho đến xích đạo của khối nhân cứng
kéo chopper vế phía đầu phaco để tạo thành một rãnh đủ sâu trong chiều dầy
của nhân, khi chopper đến sát đầu phaco PTV hơi xoay chopper sang phía trái
và đầu tip siêu âm rẽ sang phải, hai dụng cụ phối hợp với nhau tạo thành một
động tác chẻ để chia nhân TTT ra thành 2 mảnh riêng biệt cho đến khi nhìn
thấy bao sau TTT thao tác này ví nh một chiếc rìu chẻ thân cây, sau khi tách
nhân thành 2 mảnh tiếp tục xoay nhân 90
0
thao tác một cách chính xác nhẹ nhàng, tránh làm tổn hại màng Descemet,
chạm nội mô giác mạc, rách bao sau, rách bờ xé bao trớc dùng kẹp
(Forceps) hoặc dụng cụ chuyên dụng (Lens injector) để đặt TTTNT vào trong
túi bao.
ảnh1.5: Đặt TTT NT
22
ảnh1.6: TTTNT đã đợc đặt vào trong túi bao
-Rửa sạch chất nhầy còn sót lại trong tiền phòng và trong bao bằng
dầu rửa hút I/A.
- Kết thúc phẫu thuật.
Bơm dung dịch Ringerlactat vào tiền phòng để tái tạo tiền phòng đồng
thời bơm phù mép vết mổ cho khít vết mổ [3], [13],tra thuốc, băng mắt.
1.5.2. Các đặc điểm phẫu thuật phaco trên bệnh nhân đái tháo đờng:
Phẫu thuật tán nhuyễn TTT trên bệnh nhân ĐTĐ gặp nhiều khó khăn do
đồng tử co nhỏ thờng ít đáp ứng với thuốc giãn, mặt khác một loạt các yếu tố
khác nh tiền phòng nông, mống mắt mất tính đàn hồi, TTT to, bao TTT mỏng
hoặc, có thể gặp đục vỏ bao sau, đục dịch kính, khó quan sát phía sau sẽ dẫn
đến khó khăn trong quá trình phẫu thuật nh xé bao trớc, tách nhân, hay gặp
các biến chứng rách bao trớc, rách bao sau, xuất huyết tiền phòng, thoát dịch
kính gây nên những rắc rối trong phẫu thuật và những biến chứng tiếp theo.
[4], [28], [60],[72], [89] .
Đòi hỏi các PTV phải có nhiều kinh nghiệm, tiến hành phẫu thuật một
cách thận trọng nhằm hạn chế tối đa rủi ro cho ngời bệnh [36], [72].
- Các biện pháp xử lý đồng tử nhỏ:
* Đối với tiền phòng nông:
23
+ Chai nớc cao, dùng thuốc bơm vào tiền phòng.
+ Sử dụng dịch nhầy tốt.
* Đối với đồng tử co nhỏ
+ Nhỏ thuốc giãn nhiều lần phối hợp các loại thuốc.
Gần đây, một số tác giả cho rằng kích thớc vòng xé bao phải nhỏ hơn
kích thớc của phần quang học của TTTNT một chút, sao cho mép của vòng xé
bao trớc nằm hoàn toàn trên mặt trớc của phần quang học TTTNT. Nh vậy sẽ
tạo thành một vòng xơ ôm chặt vào phần quang học của TTTNT, ngăn cản sự
di c của các tế bào biểu mô phát triển ra sau. Ngoài ra khoảng cách từ phần rìa
của vòng xé bao trớc cách xa bao sau nên giảm tỷ lệ và tốc độ đục bao sau
[20].
Trong khi xé bao nếu có nguy cơ rách vạt thì dừng lại bơm tiếp dịch nhầy
vào ngay nơi có thể rách bao, dùng kéo cắt bao cắt mảnh rách hoặc xoay
Forcep xé theo chiều ngợc lại.
Tiền phòng luôn ổn định do đờng rạch giác mạc đủ để đa kim hoặc
Forcep vào xé bao thành công góp phần vào thành công của phẫu thuật [62].
ảnh1.7: Xé bao hình tròn liên tục
25