1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
……***……
NGUYỄN HOÀNG YẾN
NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ XQUANG
RĂNG NGẦM TẠI VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG
ƯƠNG TỪ 2011 – 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khóa 2007 – 2013
Hà Nội - 2013
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
***
NGUYN HONG YN
NHậN XéT ĐặC ĐIểM LÂM SàNG Và XQUANG
RĂNG NGầM TạI VIệN RĂNG HàM MặT
TRUNG ƯƠNG Từ 2011 2012
Chuyờn ngnh: Rng hm mt
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
Khúa 2007 2013
Ngi hng dn khoa hc
Th.S Nghiờm Chi Phng
H Ni - 2013
T VN
Răng mọc ngầm là răng không mọc một phần hoặc hoàn toàn, do
răng khác, xương hay mô mềm ngăn cản sự mọc lên của răng đó. Tuỳ theo
tư thế giải phẫu của răng mà có các kiểu ngầm (theo Ủy ban phẫu thuật
miệng của Mỹ 1971) [18]
Răng mọc ngầm là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.Giải phẫu- Sinh lý học
1.1. Cấu trúc xương
1.1.1. Xương hàm trên
Xương hàm trên ở người bao gồm 2 xương, nối với nhau ở đường
giữa, là xương trụ cột của tầng giữa mặt. Bao gồm thân xương và các mỏm
xương, mỏm huyệt răng hai bên tạo nên cung huyệt răng, nơi …. chân răng
gọi là xương ổ răng. Hình dạng xương ổ răng phụ thuộc vào kích thước,
hình thể, vị trí của răng.
Xương hàm trên liên quan đến các hốc: mũi, mắt, khoang miệng,
thân xương có các lỗ cho mạch máu và thần kinh đi qua. Ví dụ: lỗ dưới ổ
mắt cho thần kinh dưới ổ mắt đi qua, lỗ khẩu cái trước có động mạch khẩu
cái và thần kinh bướm khẩu cái đi qua [1]
Mỏm xương ổ răng liên tục với phần xương còn lại, phần xương
ngang mức với chóp răng là xương nền. Thông thường, các răng hàm trên
nằm trên cung răng hàm trên
1.1.2. Xương hàm dưới
Xương hàm dưới có 2 phần:
- Thân xương: cong hình móng ngựa, có hai mặt và hai bờ. Mặt ngoài có lồi
cằm ở giữa, hai bên có đường chéo và lỗ cằm để mạch máu và thần kinh
cằm đi qua.
Mặt trong ở giữa có 4 gai cằm: 2 gai trên có cơ cằm lưỡi bám, 2 gai
dưới có cơ cằm móng bám
Bờ trên có nhiều lỗ huyệt ổ răng dưới
Bờ dưới có hai hố cơ nhị thân ở giữa và nơi liên tiếp của cành lên với
thân xương hàm có một rãnh nhỏ cho động mạch mặt đi qua.
- Cành lên xương hàm dưới: hình vuông, có hai mặt, bốn bờ:
+ Mặt ngoài có gờ cho cơ cắn bám
+ Mặt trong có lỗ răng dưới (lỗ hàm dưới) và thông với ống răng
dưới để mạch và thần kinh răng dưới đi qua, phía trước lỗ có gai Spix là
1.3. Hệ mạch chi phối
1.3.1. Hàm trên
Cấp máu cho hàm trên là nhánh của động mạch hàm trong, tách ra từ
động mạch cảnh ngoài ở gần cực trên của tuyến mang tai ở sâu. Động mạch
hàm trong cho nhánh tận là động mạch bướm khẩu cái
Động mạch khẩu cái trên là nhánh tách ra từ động mạch hàm trong.
Động mạch này từ lỗ khẩu cái sau đi ra trước, song song với các huyệt
răng, cách bờ này khoảng 1cm, đi trong lớp sâu của tổ chức sợi, sau đó liên
tiếp với động mạch mũi khẩu cái
1.3.2. Hàm dưới
Cấp máu cho hàm dưới là nhánh động mạch răng dưới phát sinh từ
động mạch hàm trong khi động mạch này vòng quanh bờ dưới cơ chân
bướm ngoài. Động mạch răng dưới cùng thần kinh răng dưới đi vào lỗ răng
dưới ở cạnh gai Spix. Động mạch này phân nhánh cho vùng hàm dưới.
1.4 Chức năng của xương hàm trên
Xương hàm trên là xương trụ cột của tầng mặt giữa, tham gia hộp âm
nhờ xoang hàm trên. Mỏm xương ổ răng là nơi neo giữ răng trong xương ổ
răng, hấp thu và phân phối lực nhai được tạo ra bởi các răng trong quá
trình: ăn, nhai, nói, nuốt [6]
1.5. Vùng vòm miệng
Giới hạn ở phía trước và hai bên bởi cung răng trên, phía sau bởi bờ
tự do của màn hầu gồm hàm ếch cứng được tạo nên bởi 2/3 phía trước bởi
mỏm khẩu cái xương hàm trên và 1/3 sau bởi mảnh ngang xương khẩu cái.
Hàm ếch mềm tạo bởi cơ màn hầu.
Từ hốc miệng đến hốc mũi, hàm ếch gồm những lớp:
- Niêm mạc hàm ếch: lớp này dầy, chắc, dính với màng xương bởi cấu trúc
sợi, bên trong có các động mạch và thần kinh khẩu cái
- Lớp xương, sợi và cơ: xương khẩu cái, cân khẩu cái và cơ của màn hầu
- Lớp niêm mạc sàn hốc mũi
1.6. Vùng lợi răng và tiền đình miệng
thương có thể xảy ra, ngăn cản sự hình thành men, ngà và trực tiếp hay
gián tiếp tạo nên những rối loạn khác nhau. Cho nên những khiếm khuyết
về quá trình hình thành và phát triển răng có thể gây nên tình trạng răng
mọc ngầm.
2.1. Những rối loạn phát triển răng
2.1.1 Bất thường về số lượng
Những bất thường về số lượng phải kể đến răng thừa ở vùng cửa
hàm trên rất hay gặp, ví dụ như răng kẹ ở giữa. Cũng có thể thấy thiếu răng
một phần như thiếu răng cửa bên, thiếu răng nanh,
2.1.2. Bất thường về cấu trúc
Những thiểu sản men răng ở răng vĩnh viễn có thể do chấn thương làm
sai khớp ở bộ răng sữa, ảnh hưởng đến sự tạo men ở răng thay thế. Cũng có
thể nguyên nhân là do viêm nhiễm, bệnh toàn thân hay do hóa chất.
2.1.3. Bất thường về hình thái
Có nguồn gốc do quá trình phát triển như: răng sinh đôi, răng dị dạng
thân, răng trong răng, chân răng cong bất thường, …
3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến răng mọc ngầm
3.1.Nguyên nhân do chính răng đó (theo Kolf) [19]
- Có nang thân răng
- Răng là một u răng
- Là một răng thừa
- Sang chấn làm di lệch mầm răng
- Chân răng cong vẹo
3.2. Nguyên nhân tại chỗ và vùng lân cận
Theo Berger và cộng sự [19], những yếu tố sau là những nguyên
nhân gây nên răng mọc ngầm:
- Răng sữa tồn tại quá thời hạn
- Do sự phân bố các răng không đều trên cung hàm
- Sự bền vững của xương hàm cản trở răng muốn mọc
- Nhiễm trùng kéo dài ở vùng lân cận răng mọc
ngầm. Trong giai đoạn đó, mô quanh răng bị tổn thương đã hồi phục hoàn
toàn [6]
4.3. Nang thân răng
Cơ chế bệnh sinh chưa rõ nhưng có giả thuyết cho rằng sức ép của
túi quanh răng khi mọc răng với những răng ngầm làm áp suất trong lòng
nang tăng dẫn tới khả năng thẩm thấu của dịch tạo thành túi dịch giữa túi
quanh răng và thân răng, kết quả là nang thân răng được hình thành. Một
giả thuyết khác cho răng nang xuất hiện do sự phát triển của dải biểu mô
xung quanh răng của biểu mô men răng. Bình thường, khi răng mọc, dải
biểu mô này tan ra và tự tiêu. Một số tác giả khác phát hiện thấy nang hình
thành do ảnh hưởng của nhiễm trùng cuống răng các răng sữa phía trên do
tác động của các tác nhân gây viêm.
Trên lâm sàng: thường gặp nhất là răng nanh ngầm hàm trên, rồi đến
răng thừa ngầm giữa hai răng cửa giữa hàm trên. Hay gặp ở người trẻ 10-
20 tuổi.
Tiến triển theo hai giai đoạn: trầm lặng và biểu lộ ra ngoài
Trên phim Xquang: là hình ảnh một nang không cản quang liên quan
đến thân răng của một răng vĩnh viễn hay răng ngầm[ 4]
4.4. Nang răng sừng hóa (OKC)
Nang răng sừng hóa là một nang do răng tiến triển khá phổ biến,
được hình thành từ biểu mô lá răng còn sót. OKC đòi hỏi một sự xem xét
đặc biệt do đặc tính lâm sàng trầm trọng và khuynh hướng tái phát của nó.
Khoảng 25 – 40% OKC có liên quan đến răng mọc ngầm, mọc kẹt. Trong
trường hợp này những đặc điểm nổi bật trên Xquang giống những đặc điểm
của nang do răng (Dentigenous cyst – DC).
Xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất ở tuổi 50, ở nam bị nhiều
hơn ở nữ
Nang có thể phát triển thành một nang lớn trong xương hàm
Nang phát triển lan ra xung quanh vào xoang hàm đôi với hàm trên
Xquang: là khối cản quang hình tròn, ranh giới rõ với đường viền rõ.
4.6. Đau do răng ngầm
Răng mọc ngầm trong xương hàm thường ít gây đau. Bệnh nhân
thường phát hiện tình cờ qua chụp phim Xquang hoặc chỉ đến khám khi
răng ngầm gây ra những biến chứng như: khối sưng hàm mặt, đau nhức
răng, đau nhức khi há miệng hay ăn nhai, đau có thể nhẹ hoặc cấp tính, cơn
đau gián đoạn hoặc liên tục hoặc theo chu kỳ, đau có thể giống đau dây
thần kinh V.
Có thể là đau tai, ù tai, mờ mắt, đau đầu kéo dài, ….bệnh nhân hay đi
khám ở khoa thần kinh, TMH, mắt khi được hội chẩn phát hiện ra răng
ngầm. Chúng ta chỉ được quyền nghi ngờ nó có thể là nguyên nhân gây
bệnh, nhiều trường hợp bệnh nhân khi được giải quyết răng ngầm thì các
vấn đề trên cũng hết [12].
4.7. Các biến chứng khác
Răng mọc ngầm trong xương hàm cũng giống như một dị vật trong
xương hàm, do tác động của quá trình ăn nhai và những sang chấn có thể gặp
khó cử động xương hàm cũng như bệnh lý của răng viêm xoang, ù tai, đau tai,
có trường hợp biểu hiện ở mắt :giảm thị lực, viêm màng bồ đào, [12]
5. Những phương pháp Xquang xác định răng mọc ngầm hàm trên
thường dùng
5.1. Phim sau huyệt ổ răng [15]
Chỉ định:
- Chẩn đoán các thương tổn răng, quanh răng, chóp răng,
- Kiểm tra kết quả sau điều trị: trám răng, điều trị tủy
- Thăm khám trước và sau nhổ răng
- Thăm khám trong cấy ghép răng (implant)…
Ưu điểm: cho biết rõ chi tiết, tình trạng của một răng hay nhóm răng
và vùng quanh chóp của nó
Hạn chế: chỉ cho biết ở một diện hẹp, không đánh giá được xung quanh
Kỹ thuật:
Có hai kỹ thuật chụp phim sau huyệt ổ răng thông dụng: kỹ thuật
có kích thước lớn hơn
+ Với tư thế Simpson: hướng tia vuông góc với mặt phẳng phim
(mặt phẳng cắn)
5.3. Phim sọ mặt nghiêng
-Mục đích:
+ Thăm khám khối XHT, xoang hàm trên
+ Xương chính mũi (với kỹ thuật chụp giảm thông số về cường độ và
thời gian chụp)
+ Hốc mắt, xoang trán, xoang hàm trên
+ Nhóm răng cửa trước và vòm miệng
- Kỹ thuật:
+ Bệnh nhân nằm hoặc ngồi, mặt phẳng cắn nằm ngang nếu bệnh
nhân ngồi, mặt bên thăm khám áp vào phim sao cho mặt bệnh nhân hoàn
toàn nghiêng (mặt phẳng dọc giữa song song với phim)
+ Tiêu chuẩn đạt yêu cầu về tư thế (nghiêng hoàn toàn) là hai hốc
mắt, hai lồi cầu, xương hàm dưới hai bên phải chồng nhau và hố yên phải
thật rõ nét
+ Tia trung tâm: khu trú vào hố yên. Điểm này được xác định từ
trung điểm của đường nối lỗ tai – đuôi mắt lên phía trên khoảng 1,5 cm
- Phương pháp téléradiographie:
+ Là tư thế sọ mặt nghiêng chuẩn theo phương pháp sọ mặt xa
+ Khoảng cách phim – tiêu điểm trên 2m => đảm bảo kích thước thật
của vật thể
+ Khớp cắn trung tâm (các múi nhai chồng khít)
+ Môi để tự nhiên, không hở rộng hay mím chặt
+ Cường độ tia thích hợp để thấy rõ cả cấu trúc xương và mô mềm
5.4. Phim panorama
Là phim toàn cảnh, sử dụng kỹ thuật paranomic. Khi chụp phim toàn
cảnh, chùm tia phát ra qua một khe hẹp và hướng tia thay đổi liên tục cho
phép ghi lại hình ảnh của một vật thể cong. Cassette phim và bóng trung tâm
- Đây là cách hữu dụng giúp xác định răng thừa, răng ngầm và
hướng mọc của chúng
5.6. Phim CT conebeam
Đánh giá chính xác vị trí răng mọc ngầm, răng thừa của bệnh nhân
Cho phép tái tạo hình ảnh theo 3 chiều không gian
Không bị ảnh giả khi trong miệng có phục hình
Chụp toàn cảnh, cắt lớp thân răng và đỉnh bằng máy kỹ thuật số rồi
kết hợp với máy tính, hình ảnh chụp được truyền sang máy tính cá nhân nối
mạng, có cài đặt phần mềm sử dụng mạng
Đây là cách hữu dụng giúp xác định răng thừa, răng ngầm, số lượng,
vị trí, liên quan của nó với các cấu trúc lân cận: chân răng, thần kinh,… Từ
đó, bác sĩ có định hướng tốt hơn trong cách thức phẫu thuật.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
1.1. Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện RHM TƯ
1.2. Đối tượng nghiên cứu
Là trẻ em và người trưởng thành ở lứa tuổi từ 6 tuổi trở lên gồm cả
nam và nữ đến khám và điều trị tại bệnh viện RHM TƯ từ đầu năm 2011
đến cuối năm 2012 được xác định là có răng mọc ngầm (các răng vĩnh
viễn và răng thừa)
Răng mọc ngầm không phải là răng sữa
Không phân biệt giới tính, địa lý, dân tộc
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau đây:
- Lập hồ sơ bệnh án (có mẫu kèm theo, chụp Xquang cho bệnh nhân)
- Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh Xquang của bệnh nhân có răng mọc
ngầm(được chẩn đoán xác định có răng mọc ngầm )
2.1. Cỡ mẫu
- Phim CT Scanner (nếu có)
- Phim CT conebeam(nếu có)
2.3.3. Chẩn đoán xác định:
Răng mọc ngầm
Loại răng số mấy, tên răng
- Vị trí
- Số lượng
- Hình dạng
2.4. Sai số mắc phải
- Là sai số hệ thống: do chủ quan của người khám, do bệnh nhân nhớ
lại không chính xác
- Cách khắc phục sai số:
Thăm khám đúng chuẩn mực
Dùng phiếu điều tra để thăm khám
Khám trên số lượng bệnh nhân lớn sẽ giảm bớt sai số
2.5. Khía cạnh đạo đức của đề tài:
Chỉ tiến hành điều tra khi:
- Được sự đồng ý của Ban giám đốc Bệnh viện và chủ nhiệm Khoa
- Được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân
chứ không nhằm một mục đích nào khác.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân bố theo giới:
Giới Số người (n) Tỉ lệ (% )
Nam 91 49,2
Nữ 88 50,8
Tổng 179 100
Nhận xét: ở đây chúng tôi gặp 91 bệnh nhân nam chiếm 50,8 %
nhiều hơn số bệnh nhân nữ(88 bệnh nhân) chiếm 49,2%
88 49,2
Nguyên nhân tại
chỗ và vùng lân
cận
43 24,0
Nguyên nhân 0 0
toàn thân
Nguyên nhân
khác
48 26,8
Tổng số 179 100
Nhận xét: trong các nguyên nhân gây ra răng ngầm thì có 88
trường hợp là do nguyên nhân tại chính răng đó chiếm 49,2%, 43 trường
hợp do nguyên nhân tại chỗ và vùng lân cận chiếm 24%, 0 có nguyên nhân
do toàn thân, và 48 trường hợp do nguyên nhân khác chiếm 26,8%.
Bảng 4: Một số triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng Số trường hợp (n) Tỉ lệ (%)
Lệch lạc răng 69 38,5
Đau 97 54,2
Sưng phồng 81 45,3
Thiếu răng vĩnh viễn 53 29,6
Còn răng sữa 19 10,6
Khe thưa 8 4,5
Nhiễm trùng 24 13,4
Biểu hiện khác 3 1,8
Không có dấu hiệu 51 28,5
Biểu đồ2. Một số triệu chứng lâm sàng
Nhận xét: trong nghiên cứu, chúng tôi thấy có 69 trường hợp có lệch lạc
răng chiếm 38,5%, 97 trường hợp có biểu hiện đau chiếm 54,2%, 81
trường hợp có sưng phồng chiếm 45,3%, 53 trường hợp bị thiếu răng vĩnh