1
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U bàng quang là loại u rất hay gặp trong các loại u đường tiết niệu,
đứng thứ 2 sau u tiền liệt tuyến [1]. Theo Hội ung thư Mỹ, trong toàn bộ các
loại ung thư trên phạm vi toàn cầu thì u bàng quang (UBQ) đứng hàng thứ 7
về số lượng người mắc với khoảng 336.000 người mới mắc hàng năm [2], [3].
Ở Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 53.200 người bệnh thường trực, trong đó có
12.000 người tử vong [4] vì u bàng quang.Tỉ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn ở nữ,
khoảng 3:1. Ở nam giới, u bàng quang được xếp hàng thứ 4 trong số các ung thư, ở
nữ thì được xếp hàng thứ 5 [1].
Ở Việt Nam, u bàng quang ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Bệnh
thường gặp nhiều ở người lớn từ 40-70 tuổi (78%) và ở nam nhiều hơn ở nữ [1].
U bàng quang có hai loại: lành tính và ác tính, tuy nhiên, u có xu
hướng dễ trở thành ác tính. Do đó u bàng quang cần được chẩn đoán sớm,
điều trị sớm, tích cực thì tiên lượng mới tốt.U bàng quang rất hay tái phát. Tỉ
lệ tái phát khoảng 52-73% từ 3-15 năm, do đó chế độ theo dõi bệnh nhân có u
bàng quang là chế độ theo dõi suốt đời [1].
U bàng quang là bệnh lý thường gặp trong khoa thận tiết niệu, diễn
biến phức tạp và có mối liên quan với môi trường bên ngoài nhưng triệu
chứng ban đầu lại rất mờ nhạt, không đặc hiệu nên ít được quan tâm,do đó
thường được chẩn đoán muộn. Điển hình, UBQ gây ra biểu hiện lâm sàng
như: đái máu, đái khó, đái buốt, đái rắt…Bệnh không những ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sức khoẻ, tâm sinh lý, tốn kém tiền của thậm chí nếu không
chữa trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11]. Trên
90% các UBQ xuất phát từ biểu mô đường niệu (BMĐN) [2], [12] . Việc chẩn
1.1.1. Giải phẫu
Bàng quang là tạng rỗng, khi không chứa nước tiểu thì có hình tháp và
căng tròn khi chứa đầy nước tiểu. BQ được chia thành các phần như sau:
+ Mặt trên hay còn gọi là vòm BQ được bao phủ bởi phúc mạc thành
chậu hông.
+ Mặt sau hay còn gọi là mặt đáy.
+ Hai mặt bên
Tam giác BQ khư trú ở vị trí đáy và tiếp nối với cổ BQ. Ở đó, mặt trên
và hai mặt bên hội tụ và có chỗ mở ra của niệu đạo. Ở nam giới, phần cổ BQ
dựa trên trực tràng, còn ở nữ, dựa trên âm đạo gọi là giường BQ [16].
Hệ thống hạch bạch huyết của BQ đổ ra hệ thống hạch bạch huyết chậu
ngoài và chậu trong. Vùng cổ BQ, hạch bạch huyết đổ ra hạch bạch huyết
cùng hoặc hạch bạch huyết chậu chung [17].
Buồng trứng
Vòi trứng
Tử cung
ống tinh
Trực
tràng
Dương
vật
Túi tinh
Cổ tử
cung
Bàng quang
1.1.2. Mô học
Về mô học, BQ được cấu tạo như sau: lớp niêm mạc, lớp cơ và lớp áo
ngoài (lớp áo ngoài được phủ bởi thanh mạc ở phía đáy BQ).
- Lớp niêm mạc gồm có: biểu mô, mô đệm và cơ niêm.
+ Lớp biểu mô:
Trước kia, biểu mô của BQ được xếp vào loại biểu mô tế bào chuyển
tiếp (transitional cells), ngày nay, người ta ưa dùng thuật ngữ biểu mô đường
niệu (BMĐN-urothelium) hơn. Khi BQ rỗng (không chứa nước tiểu), BMĐN
có từ 6 đến 7 hàng tế bào [18]. Khi BQ căng, số hàng tế bào giảm còn 3-4
hàng. Biểu mô phủ gồm 3 lớp tế bào: lớp bề mặt, lớp trung gian và lớp đáy
[3],[18].
* Lớp bề mặt bao gồm một hàng tế bào kích thước lớn, hình elip, bào
tương ưa acid, có tác dụng che phủ mặt ngoài.
* Lớp trung gian gồm các tế bào có hình khối vuông hoặc trụ thấp,
nhân có hình trứng, chất nhiễm sắc dạng hạt mịn, bào tương khá rộng, ranh
giới rõ.
* Lớp đáy được tạo bởi một hàng tế bào hình khối vuông nằm trên một
màng đáy mỏng, liên tục.
+ Lớp đệm:
Lớp đệm bao gồm mô liên kết thưa, lỏng lẻo, giàu mạch máu và mạch
bạch huyết, ít sợi tạo keo. Động mạch và tĩnh mạch chính nằm chủ yếu ở giữa
lớp đệm và chia lớp này thành hai vùng là vùng trong và vùng ngoài [18].
+ Cơ niêm bao gồm chủ yếu là các sợi cơ trơn tạo thành bó đơn lẻ,
không liên tục, ít khi tạo thành bó liên tục. Tế bào cơ trơn có liên hệ mật thiết
với những mạch máu của lớp đệm. Khi đánh giá mức độ xâm lấn của u tránh
nhầm lẫn cơ niêm với lớp cơ thực sự của BQ [18].
vùng hoá dầu [4].
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính của UBQ chiếm 66% đối với nam
và 30% với nữ. Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc UBQ cao gấp 2-6 lần so
với những người không hút thuốc . Nguy cơ tăng ở những người nghiện thuốc
lâu năm . Người hút thuốc trên 60 năm thì nguy cơ cao gấp 6 đối nam và 5 lần
với nữ so với người không hút thuốc. Những người nghiện thuốc nặng (trên
40 điếu/ngày) thì nguy cơ UBQ cao gấp 3 lần những người hút ít kể cả nam
và nữ . Một số nghiên cứu cho thấy mức độ phơi nhiễm với thuốc lá của nữ
cao hơn nam. Nguy cơ UBQ giảm xuống sau khi ngừng thuốc. Sau 15 năm bỏ
thuốc thì nguy cơ UTBQ thấp ngang người không hút thuốc [2], [11].
Phơi nhiễm nghề nghiệp
UBQ có liên quan đến một số nghề nghiệp hoặc phơi nhiễm nghề
nghiệp. Năm 1895, Rehn đã quan sát thấy những người làm nghề nhuộm
anilline có tỉ lệ mắc UBQ cao hơn so với những người không làm nghề này.
Nhiều nghiên cứu sau đó đã chứng minh một số amin thơm khác gây UBQ
như: benzidine; 2-naphthylamin và có thể cả 1-naphthy lamin [2], [7], [19].
Những nghề được cho là có phơi nhiễm với UBQ bao gồm: hoá chất, nhuộm,
cao su, sơn, thuộc da, in, phòng thí nghiệm. Người ta ước tính phơi nhiễm với
những chất gây ung thư là nguyên nhân của 25% UBQ [2].
7
7
Một số thuốc
Một vài nghiên cứu dịch tễ học cho thấy việc lạm dụng dùng thuốc
giảm đau kéo dài có chứa phenacetin làm tăng nguy cơ UBQ, ung thư đài bể
thận và niệu quản. Một số loại thuốc gây ức chế tế bào như cyclophotphamide
Cà phê và đường hoá học
Không có bằng chứng nào cho thấy có sự liên quan giữa cà phê hoặc chất
có cafein với UBQ trong thực nghiệm trên động vật [2], [26]. Nhưng một số
nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những người uống cà phê có nguy cơ UBQ cao
hơn những người không uống. Gần đây, một số nghiên cứu chứng minh rằng
nguy cơ UBQ chỉ cao ở những người uống cà phê mà có hút thuốc [20].
Cho tới nay không có bằng chứng nào cho thấy kẹo và đường hoá học
có liên quan tới UBQ. IRAC Monographs Working Group xếp sarcharin vào
nhóm 3 và là nhóm không gây ung thư [2].
Tia bức xạ
Người ta cho rằng những người điều trị ung thư tiền liệt tuyến, ung thư
phần phụ bằng chạy tia thì có nguy cơ mắc UBQ cao hơn có thể tăng gấp 1,5-4
lần. Nguyên nhân có thể do sự tạo thành gốc tự do gây đột biến gen, nhiễm sắc
thể [2].
1.2.2. Yếu tố gen
Yếu tố phát triển biểu bì (Epidermal growth factor- EGF)
Có nhiều lý do để cho rằng EGF và ung thư bàng quang có liên quan
với nhau:
+ Tế bào u của UBQ thuộc nhóm tế bào biểu bì,
+ Nước tiểu bệnh nhân UBQ có nhiều EGF dạng hoạt động, và khi ở dạng
hoạt động EGF có khả năng kích thích sự phát triển của các tế bào ung thư
đường niệu ở BQ (gen của EGF nằm trên nhiễm sắc thể số 7). Kết quả này đã
được Kuranami chứng minh vào năm 1991. Tuy nhiên, không hẳn EGF có khả
năng kích thích tế bào u phát triển vì người ta không thấy sự khác biệt có ý nghĩa
9
9
10
10
xơ, các tế bào sụn, các tạo cốt bào, các tế bào nội mô và các bạch cầu đa nhân.
Cấu trúc của Collagenase bao gồm 5 domain: Trình tự đầu là tiền domain
(domain predomain), tiếp theo là domain tiền peptide để duy trì dạng không
hoạt động của enzyme trong các điều kiện sinh lý bình thường, một domain
xúc tác chứa vòng có khả năng liên kết với kẽm và cuối cùng là domain
hemopesin/vitronectin. Sự hiện diện của Collagenase cùng với một số enzyme
khác có ở trong mọi tổn thương u và ung thư, kể cả trong viêm. Thực tế, ở
trong mô, Collagenase hiện diện dưới dạng tiền Collagenase, không có hoạt
tính. Chúng chỉ trở thành có hoạt tính khi phân cắt domain tiền peptide của
phân tử này. Người ta thấy rằng các u BQ lành tính và các UTBQ nông,
không xâm nhập thì các collagenase ở dạng bất hoạt và ở UTBQ xâm nhập
chúng được hoạt hóa [27].
1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN U BÀNG QUANG
1.3.1. Triệu chứng lâm sàng
1.3.1.1. Triệu chứng cơ năng
Biểu hiện lâm sàng của UBQ thường không đặc hiệu. Triệu chứng lâm
sàng phụ thuộc vào mức độ lan rộng và vị trí của u [11],[21], [28], [29], [30].
Các biểu hiện chính bao gồm:
- Đái máu: Đái máu là một triệu chứng sớm, mang tính báo động và hay gặp
nhất. Tính chất đái máu của UBQ thường có đặc điểm [8], [11], [31]:
+ Có tính chất tự phát, không phải do ảnh hưởng của sự cố gắng hay
khi mệt mỏi.
+ Đái máu cuối bãi và bệnh nhân thường bất ngờ vì có máu trong các
giọt nước tiểu cuối bãi.
+ Thường không đau.
- Những rối loạn tiểu tiện: Ở giai đoạn đầu của UBQ thường không có dấu
1.3.2. Chẩn đoán hình ảnh
- Chụp UIV: Hình ảnh thường gặp là hình khuyết đơn lẻ hay nhiều
hình, cố định (di động khi có cuống), hình ảnh đường cứng một đoạn ở thành
BQ, hình ảnh thành BQ dầy. Hình khuyết ở vùng đáy BQ cần chẩn đoán phân
12
12
biệt với ung thư tiền liệt tuyến xâm nhập vào BQ. Chụp UIV còn cho phép
đánh giá tổn thương phối hợp ở đài bể thận, niệu quản, thậm chí niệu đạo
[11],[33], [34].
- Chụp BQ đối lưu: Các hình ảnh khối sùi dễ thấy hơn khối u loét, phản
ánh bằng một hay nhiều nốt cản quang nhẵn hay sùi gồ lên [11].
- Chụp CT: Cho phép xác định hình ảnh khu trú của u, độ dày lan tỏa
vào thành, những thay đổi của thành BQ, độ đậm đặc của mô mỡ quanh BQ
do thâm nhiễm (hình ngọn lửa hay rắc bột), đánh giá xâm lấn ngoài BQ, vào
thành bụng và các mô tạng quanh BQ khác [26],[35], [36].
1.3.3. Nội soi bàng quang:
Nội soi bàng quang là biện pháp quan trọng nhất để chẩn đoán u bàng
quang. Soi bàng quang xác định về số lượng, vị trí, hình dáng u ( có cuống
hay không có cuống). Hình ảnh nội soi u bàng quang có thể là những u nhú
trông như những múi thùy, thanh mảnh và hợp nhất lại giống như san hô.
Khối u có màu hồng nhạt, mật độ mềm và rất dễ chảy máu khi va chạm hoặc
khối u đặc sùi như hình súp lơ, màu trắng ngà, trên bề mặt khối u có thể thấy
tổ chức mủn hoại tử hoặc lắng đọng canxi gần giống như sỏi. Khi soi có thể
bấm sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh học, mức độ biệt hóa và giai đoạn của
khối u [10], ngoài ra cũng có thể đo được kích thước u qua nội soi.
Nội soi BQ thường rất có giá trị đối với những u khư trú, độ ác tính
thủ thuật nối dạ dày- BQ [16].
U có thể đơn độc hay nhiều khối. Khối u cũng có thể một hay nhiều tâm có
lẽ do kết quả của sự gieo rắc chứ không phải nhiều u thực sự ngay từ ban đầu [28].
U có thể có dạng lồi (nhú, políp, nốt, đặc), dạng phẳng, dạng loét hoặc xâm nhập
lan toả vào thành BQ [2], [24], [40]. Trong một u có thể kết hợp các dạng trên.
Khi ở dạng lồi u thường có cấu trúc nhú với trục liên kết là bó mạch xơ [2].
1.4.1.1. Phân loại u bàng quang:
Thành bàng quang có 3 lớp:
− Lớp niêm mạc
14
14
− Lớp cơ vân và trơn
− Lớp thanh mạc
Trong lớp niêm mạc và lớp cơ có nhiều mạch máu, thần kinh và ở vùng
tam giác có một số tuyến. Tất cả các thành phần trên đều có thể phát triển
thành các u khác nhau ở bàng quang nhưng 97% u bàng quang là loại u niêm
mạc bàng quang. Sự phân biệt u niêm mạc lành hay ác tính khi u còn ở lớp
niêm mạc rất khó khăn.
Tuỳ theo tính chất ác hay lành tính mà các khối u được gọi theo các tên
khác nhau.
U bàng quang nguyên phát:
U biểu mô
U nhú (Papilom) ( 3%) U lành với cấu trúc biêu mô niệu mạc, không nhiều
Ung thư biểu mô
hơn 6 lớp tế bào
* Giai đoạn quá phát phục hồi
Một vài giờ sau khi tiếp xúc với hoá chất, hai ba lớp tế bào của niêm
mạc bị phù nề. Tế bào to lên và mất đi tỉ trọng nguyên sinh chất. Trong nhân
tế bào xuất hiện chất chromatin, số lượng hạt nhân gia tăng, mạch máu dưới
lớp niêm mạc giãn và sung huyết
Lớp màng đáy chưa bị tác động. ở giai đoạn này nếu tác nhân gây ung
thư được lấy bỏ, tế bào lại hồi phục.
* Giai đoạn quá phát không phục hồi thể nhân hay thể gai
Nếu tác nhân gây ung thư tiếp tục tác động tới niêm mạc bàng quang,
người ta thấy xuất hiện những ổ quá phát thể nhân hay thể gai.
Trong lớp niêm mạc có nhiều mạch máu nhỏ, xung quanh có nhiều tế
bào phát triển tạo thành các gai nhỏ. Nhân tế bào to bất thường và có nhiều
hạt nhân.
Những gai này có chiều hướng phát triển trên bề mặt thành bàng quang
tạo thành hình ảnh quá phát thể gai
* Giai đoạn u gai
Các gai phát triển tiếp tục tạo thành u gai trên mặt niêm mạc bàng
quang và phát triển xâm lấn qua lớp màng đáy.
* Giai đoạn u ác
Lớp màng đáy bị phá huỷ, có thể do chất men tan của tế bào ung thư, tế
bào u hơi nhỏ lại và nhân tế bào tròn và to ra.
Ung thư tiếp tục phát triển theo chiều sâu và lan rộng theo các phía
hoặc theo các đường tua riêng biệt xuống phía dưới hoặc di căn theo đường
máu hay đường bạch mạch tới các hạch 88%, gan (11%), phổi (34%), xương
22% [1] [8]
1.4.2. Vi thể
Cho đến nay có nhiều cách phân loại về UĐN. Nhiều cách phân loại
làm tăng sự phức tạp về cấu trúc và tế bào chỉ của một loại u đơn giản. Hệ
Thứ hai, nhóm u biểu mô đường niệu dạng nhú tiềm năng ác tính thấp
có tiên lượng tốt không bị gán tên là ung thư.
17
17
Thứ ba, nhóm những ung thư không xâm nhập có độ ác tính cao bao
gồm nhiều loại u có những đặc điểm sinh học tương tự như UTXN (những u
này có sự mất ổn định về gen cao). Những nghiên cứu mới về gen càng khẳng
định sự tiến bộ trong cách phân loại mới lần này. Các nhóm u có tính ổn định
về gen cao hầu hết là không xâm nhập và có độ ác tính thấp và sau này hiếm
khi tiến triển thành xâm nhập.
Bất kì một phân loại mới nào ra đời nhằm thay thế hay bổ xung cho
phân loại này thì phải đảm bảo những ưu điểm nổi trội về tiên lượng, mức độ
dễ dàng áp dụng các tiêu chuẩn phân tử và hình thái học.
WHO cũng khuyến cáo không nên áp dụng cách phân loại cũ, bởi vì
việc dùng thống nhất phân loại mới giữa các cơ sở y tế sẽ tạo ra chẩn đoán
thống nhất, giúp cho việc dễ dàng đối chiếu, so sánh về lâm sàng, giải phẫu
bệnh, nhằm tạo sự hợp tác trong nghiên cứu cơ sở phân tử, xác định bản chất
sinh học ác tính, tính ổn định gen. Mục đích này không ngoài mong muốn
chẩn đoán chính xác, tách biệt giữa u ở giai đoạn pTa và pT1 [2].
1.5. PHÂN ĐỘ TNM VÀ GIAI ĐOẠN CỦA WHO NĂM 2002
T- U nguyên phát
TX
T0
Ta
Tis
T1
4b
U xâm nhập thành chậu hoặc thành bụng
N-Hạch lympho vùng
NX
Không đánh giá được hạch lympho vùng
N0
Không có hạch di căn ung thư
N1
Di căn ở một hạch ≤ 2cm (đường kính lớn nhất)
N2
Di căn ở một hạch lớn hơn 2cm nhưng nhỏ hơn 5cm
hoặc nhiều hạch nhưng nhỏ hơn 5cm đường kính
N2
Di căn ở một hạch có đường kính lớn hơn 5cm
M-Di căn xa
MX
T2
T3
T4b
N0
N0
N0
N0
M0
M0
M0
M0
T bất kỳ
N1, N2, N3
M0
T bất kỳ
N bất kỳ
M1
19
19
20
20
nhiên rất khó chế ngự được tình trạng són tiểu, nhất là với nữ giới và trong
những trường hợp như vậy, người ta cấy niệu quản vào lòng trực tràng đồng
thời hạ thấp trực tràng xuống phía hậu môn và khi đó cơ tròn hậu môn sẽ làm
nhiệm vụ chế ngự cả phân và nước tiểu. Các chỉ định gồm: Các u lớn không thể
áp dụng TUR, các u có độ mô học cao, nhiều u hoặc tái phát thường xuyên
TUR không khả thi, các CIS phát tán không còn đáp ứng với trị liệu bàng
quang (Intravesical therapy) và bệnh liên quan đến mô đệm tiền liệt tuyến [20],
[21], [28],[29].
b, Với các UBQ xâm lấn [20], [21],[29]
- Phẫu thuật triệt để
- Phẫu thuật cắt bỏ từng phần
- Phẫu thuật cắt niệu đạo tái cấu trúc đường niệu.
1.6.3. Xạ trị
Xạ trị trong UBQ được áp dụng là xạ kẽ hoặc hoặc xạ từ ngoài vào.
Trên thực tế, các UBQ ít nhậy cảm với tia nên ít chữa khỏi bằng xạ trị, bởi
vậy xạ trị thường được tiến hành như một liệu pháp bổ trợ sau phẫu thuật. Tác
dụng diệt tế bào u có tác dụng từ liều 35 G, liều trung bình là 50-70 G.
Phương pháp xạ qua da được tiến hành trên máy gia tốc hoặc cobalt. Liều
điều trị thường là 55-65G trong 6 tuần [20], [43].
1.6.4. Hóa trị
Có thể điều trị hóa chất tại chỗ hoặc toàn thân.
Điều trị tại chỗ được chỉ định trong các trường hợp:
+ Tổn thương ở T1, đặc biệt loại đa ổ.
+ Tổn thương T1a đa ổ, nhất là độ mô học 2,3.
+ Ung thư tại chỗ phát tán
+ Ta, T1 hoặc Tis tái phát nhanh.
giai đoạn muộn [2], [4], [12], [16].
22
22
Tuổi bệnh nhân: Một số ung thư gặp ở 20-30 tuổi thường biệt hoá cao,
không xâm nhập và có tiên lượng rất tốt [4].
Các yếu tố tiên lượng khác bao gồm: Vị trí, kích thước u, xâm nhập
mạch, đáp ứng viêm, kháng nguyên nhóm máu, những bất thường ở mức độ
phân tử là những yếu tố tiên lượng nhìn chung không có giá trị độc lập [10],
[44], [45].
1.8. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ U BÀNG QUANG TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
U bàng quang là loại u thường gặp nhất trong các loại u đường tiết
niệu. Theo Hội ung thư Mỹ, thì năm 1994 có khoảng 51.200 bệnh nhân mới,
và đã có khoảng 10.600 bệnh nhân tử vong. Trung bình hàng năm có khoảng
10.000 bệnh nhân tử vong vì u bàng quang.
Tỉ số mắc bệnh ở nam nhiều hơn ở nữ, khoảng 3:1. Ở nam giới, u bàng
quang được xếp hàng thứ 4 trong số các ung thư, ở nữ thì được xếp hàng thứ 5.
Ở Việt Nam, u bàng quang ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Bệnh
thường gặp nhiều ở người lớn từ 40-70 tuổi (78%) và ở nam nhiều hơn ở nữ [1].
U bàng quang có thể lành tính hoặc ác tính, tuy nhiên u có xu hướng dễ
trở thành ác tính. UTBQ là loại ung thư đứng hàng thứ 7 trong tổng số các
loại ung thư trên toàn thế giới. Theo Tổ chức y tế thế giới, ước tính hàng năm
trên thế giới có khoảng 260.000 nam và 76.000 nữ mắc bệnh này. Bệnh rất
hiếm gặp ở trẻ em, đỉnh cao của bệnh ở nhóm tuổi >40. UTBQ chiếm 3,2% các
ung thư trên toàn thế giới. Bệnh hay gặp ở nam nhiều hơn nữ. Tỉ số nam/nữ
trên thế giới là 3,5/1 [2], [22]. Sự khác biệt này là do thói quen hút thuốc, phơi
hang thứ 4 sau ung thư tiền liệt tuyến, phổi, trực tràng. Ở nữ giới ung thư bang
quang đứng hang thứ 8 trong số các ung thư [20]. Bệnh thường mắc ở nam cao
hơn nữ với tỉ lệ 3/1 [6], [33].
24
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu gồm 86 bệnh nhân được chẩn đoán U bàng
quang qua nội soi bàng quang tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/2013 đến
tháng 11/2014.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân nghiên cứu
+ Bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng U bàng quang và có chỉ định
nội soi bàng quang không phân biệt tuổi giới.
+ Có chẩn đoán nội soi, thể hiện được toàn bộ hình ảnh mô u.
+ Có chẩn đoán mô bệnh học.
25
25
+ Bệnh nhân tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân nghiên cứu
+ Các trường hợp không đầy đủ thông tin liên quan đến chẩn đoán (bao
gồm chẩn đoán nội soi, các thông tin các nhân).