tình hình đặc điểm lâm sàng và căn nguyên gây dị ứng thuốc tại bệnh viện trung ương 108 - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều thập kỷ qua, các tai biến do thuốc nói chung và dị ứng
thuốc nói riêng vẫn là mối quan tâm của nền y học trong nước và thế giới.
Ngày nay, với sự phát triển hiện đại hóa, công nghiệp hóa, trong đó có sự phát
triển mạnh mẽ của ngành dược phẩm đã đưa ra thị trường nhiều loại thuốc
mới có hiệu quả điều trị bệnh tốt, góp phần nâng cao chất lượng sống và sức
khỏe cho nhân loại. Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc đã có gây ra những phản
ứng có hại cho con người trong đó có dị ứng thuốc.
Dị ứng thuốc (Drug allergy) là thuật ngữ chuyên môn nói về phản ứng
của cơ thể đối với một loại thuốc nào đó. Tất cả các loại thuốc đều có thể có
những phản ứng phụ không mong muốn, trong đó có dị ứng thuốc. Các loại
thuốc kháng sinh, thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc dùng ngoài, kem mỹ
phẩm đều có thể gây dị ứng. Tỷ lệ dị ứng thuốc trước đây từ 2,5 đến 3% dân
số, đến nay tỷ lệ tăng lên 7-8% và có xu hướng tăng dần [2], [66].
Có rất nhiều kiểu dị ứng khác nhau. Có loại xảy ra trong vòng một vài
ngày đến vài tuần sau khi dùng thuốc. Khi dị ứng thường có các dấu hiệu như
ngứa, da đỏ, nổi mụn phỏng nước Một trong những loại hình dị ứng nguy
hiểm là sốc phản vệ (anaphylaxis). Loại hình này xảy ra ngay sau dùng thuốc
có thể tính bằng giây đến vài giờ với biểu hiện khó thở, thở khò khè, chân tay
run rẩy, toát mồ hôi, tim đập nhanh, hạ huyết áp, buồn nôn, đau bụng và tiêu
chảy và có thể trụy tim mạch.
Phản ứng có hại nói chung và dị ứng thuốc nói riêng đã được nhiều tác
giả trong và ngoài nước nghiên cứu như Nguyễn Năng An [2], Nguyễn Văn
Đoàn [6], Phạm Văn Hiển [12], Nguyễn Khắc Viện [24]… và Arvidson [27],
Park [54],…nghiên cứu. Các nghiên cứu đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau
và đều cho thấy tính đa dạng, phức tạp của dị ứng thuốc. Theo Demoly và
cộng sự đã chỉ ra rằng những phản ứng có hại do thuốc nói chung và dị ứng
2
thuốc nói riêng thực sự đang còn là một gánh nặng là một thách thức với
chuyên ngành dị ứng [37].

- Quá liều (overdosage): quá liều xảy ra do dùng quá liều thuốc theo
qui định hoặc do giảm bài tiết, chậm đào thải của cơ thể và cuối cùng gây
ngộ độc cấp hoặc mạn tính.
- Tình trạng đặc ứng (idiosyncrasy): tình trạng xảy ra do thiếu hụt men
chuyển hóa hoặc liên quan đến sự thiếu hụt men trong một số cá thể nhưng
không có biểu hiện lâm sàng cho đến khi dùng thuốc phát bệnh ra như thiếu
máu huyết tán xảy ra sau khi dùng penicillin hoặc sulfonamid ở những ai đã
có sẵn thiếu hụt men glucose-6-phosphatdehydrogenase ở màng hồng cầu.
- Hiện tượng không dung nạp (intolerance): Bệnh có tính chất cá thể
như một liều thấp chlopromazine có thể gây hạ huyết áp.
- Tác dụng phụ (side efect): tác dụng dược lý ngoài mong muốn như
buồn nôn, đau đầu Nhưng các tác dụng này sẽ mất đi khi ngừng thuốc hoặc
giảm liều điều trị.
- Phản ứng dị ứng (allergic reaction): có sự tham gia của hệ miễn dịch
dịch thể hoặc miễn dịch qua trung gian tế bào.
- Tác dụng thứ phát (sencondary efect): xảy ra sau khi dùng thuốc liều
cao kéo dài có biểu hiện giống nhau trên mọi bệnh nhân cùng dùng một loại
thuốc và không có tác dụng điều trị bệnh.
1.1.2. Danh pháp dị ứng thuốc
Nhiễm độc thuốc (Toxidermie).
4
Dị ứng da do thuốc (Allergie cutanée de medicamenteuse).
Phản ứng thuốc (Adverse cutaneous drug reaction - ACDRS).
1.2. Tình hình dị ứng thuốc
Dị ứng thuốc thường gặp khoảng 2-3% số bệnh nhân điều trị nội trú.
Nếu tính toàn bộ các biến chứng do thuốc điều trị ở bệnh nhân nội trú tỉ lệ lên
tới 19% [25]. Phần lớn các phản ứng thuốc là nhẹ kèm theo có triệu chứng
ngứa và khỏi sau khi ngừng uống thuốc [3], [4]. Tuy nhiên, một số trường
hợp dị ứng thuốc nặng đe dọa tính mạng người bệnh. Dị ứng thuốc có thể gây
nên do dùng thuốc đường toàn thân (tiêm, uống) hoặc tại chỗ (bôi, nhỏ thuốc).

Phản ứng kháng nguyên kháng thể với điều kiện thừa dị nguyên trong
dịch thể, tạo nên phức hợp hòa tan. Phản ứng này có sự tham gia của bổ thể
và cả phức hợp kháng nguyên-kháng thể-bổ thể làm tổn thương thành mạch.
Kháng thể là IgG hoặc ít hơn là IgM được hình thành chống lại thuốc
với sự tham gia hoạt hoá của bổ thể, phức hợp miễn dịch lắng đọng ở thành
mạch máu nhỏ gây viêm mao mạch (Vasculitis) nội mạc mạch máu bị tổn
thương, kết dính tiểu cầu gây tắc nghẽn, thiếu máu, hoại tử tổ chức.
Bệnh thường xảy ra trong vòng 5-7 ngày sau khi dùng thuốc (Sulfamid,
penicillin, Streptomycin, PAS ). Biểu hiện bằng viêm mao mạch, tổn thương
dạng mày đay, viêm khớp, viêm thận, viêm phế nang, thiếu máu tan huyết,
mất bạch cầu hạt, viêm đa dây thần kinh, viêm cơ tim, sốt, nổi ban viêm mao
mạch có xuất huyết.
1.3.4. Týp IV
Phản ứng ngoại ban dạng sởi (Morbiliform). Phản ứng miễn dịch trung
gian tế bào (cell mediated immune reaction), kiểu mẫn cảm muộn các lympho
bào mẫn cảm phản ứng với thuốc giải phóng ra các cytokin gây nên một đáp
ứng viêm da.
Viêm da tiếp xúc và ban đỏ nhiễm sắc cố định thuộc loại này.
Ngoài ra, còn phân loại các hình thái lâm sàng dị ứng thuốc theo cơ
chế phản ứng miễn dịch tăng mẫn cảm:
6
- Phản ứng ngoại ban (Exanthematous): type IV, III ?
- Ban mề đay, phù mạch: type I, type III.
- Ban đỏ nhiễm sắc cố định: type III ?, IV ?
- Ban mụn nước, bọng nước: type IV ?
- Hội chứng Stevens – Johnson: type III, type IV ?
- Viêm mao mạch (vasculitis): type III.
- Ban dạng lichen: type IV.
- Phản ứng quang dị ứng (photoallergic): type IV.
1.4. Các thuốc hay gây dị ứng [2], [4]

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu suy hô hấp, trụy tim mạch và tình trạng sốc.
- Chẩn đoán dựa vào: thường sốc xảy ra ngay sau khi khi tiêm, một vài
phút, cá biệt có trường hợp sau khi uống thuốc, nhỏ thuốc vào mắt, mũi, lưỡi
hoặc bôi thuốc ở da, niêm mạc hoặc ngửi hơi thuốc. Có trường hợp muộn hơn
(sau 1 giờ hoặc lâu hơn). Xuất hiện các triệu chứng sau:
+ Bệnh nhân hốt hoảng bồn chồn, sợ hãi, mặt tái nhợt, da lạnh, trường
hợp nặng thì bệnh nhân bị ngã và ngất.
+ Mạch nhanh, nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt có thể không đo được, nhịp tim
nhanh nhỏ hoặc ngừng tim.
+ Khó thở: do co thắt thanh quản, nghẹt thở có khi phải mở khí
quản cấp cứu hoặc thở nhanh nông.
+ Các triệu chứng khác có thể có hoặc không như: ban mày đay ở da,
đau bụng, ỉa chảy, hôn mê.
- Xử trí: phải khẩn trương, chính xác, kịp thời mới hy vọng cứu được
tính mạng của người bệnh. Cần phải xử trí ngay tại chỗ xảy ra sốc phản vệ.
+ Ngừng ngay đường tiếp xúc với dị nguyên.
+ Thuốc adrenalin là thuốc chủ yếu: Adrenalin ống 1 mg, tiêm bắp
hoặc tiêm dưới da theo liều: 1/2 ống đến 1 ống người lớn (trẻ em 0,01 mg/kg
cân nặng cho cả trẻ em và người lớn). Tiếp tục tiêm adrenalin liều như trên cứ
10-15 phút/ 1 lần cho đến khi huyết áp trở lại bình thường.
+ Ủ ấm, nằm đầu thấp, theo dõi huyết áp 10 - 15 phút/1 lần.
8
+ Các thuốc khác: solumedron 40 mg x 1 đến 2 ống tiêm bắp thịt hoặc
tiêm tĩnh mạch; dimedrol 1% x 1 đến 2 ống tiêm bắp thịt. Hai thuốc này tiêm
ngay sau khi tiêm mũi adrenalin đầu tiên.
+ Chú ý thông khí, thổi ngạt, thở oxy, hô hấp hỗ trợ (bóp bóng), mở khí
quản nếu cần thiết.
Nếu bệnh nhân vẫn chưa thoát được sốc thì thiết lập một đường truyền
tĩnh mạch Adrenalin để duy trì huyết áp, bắt đầu bằng 0,1 microgam/kg/phút.
Điều chỉnh tốc độ theo huyết áp (khoảng 2 mg Adrenalin/1 giờ cho người lớn

- Định nghĩa: ban đỏ nhiễm sắc cố định tái phát (BĐNSCĐ) là một
phản ứng da do thuốc, đa số do thuốc uống, có đặc điểm lâm sàng là các tổn
thương đỏ da hình tròn, bầu dục, nề, có khi nổi bọng nước trung tâm, trợt và
nhiễm sắc ở giai đoạn thoái lui. Bệnh thường tái phát sau những lần dùng
thuốc, cố định ở vị trí lần trước và có thể thêm vị trí mới, thường xuất hiện
sau vài giờ dùng thuốc và sự xuất hiện tổn thương thường có báo trước bởi
cảm giác nóng bỏng, căng ở vị trí mà sau đó sẽ mọc tổn thương.
- Căn nguyên: do dị ứng với thuốc hoặc thức ăn. Các thuốc hay gây ban
đỏ nhiễm sắc cố định tái phát như thuốc kháng sinh (nhóm cyclin, β-lactam,
nhóm sulphamid), metronidazol, thuốc chống viêm hạ sốt, thuốc điều trị bệnh
goutte (allopurinol, colchicin), thuốc an thần… và các thức ăn như các loại
đậu, đậu Hà lan, thực phẩm có màu.
- Cơ chế sinh bệnh: có thể xem như là do mẫn cảm, tái phát khi bệnh
nhân dùng lại thuốc đã dùng hoặc có công thức hóa học gần nhau. Điều đáng
chú ý là tổn thương tái phát bao giờ cũng xuất hiện ở vị trí trước đó đã bị và
10
phản ứng Prausnitz-Kustner thì âm tính còn tét nội bì thì dương tính ở vùng
da tổn thương mà thôi. Như vậy, hiện tượng mẫn cảm thuộc loại đặc biệt,
trong đó không có vai trò của dịch thể.
- Lâm sàng: vị trí tổn thương có thể bất kỳ nơi nào, nhưng thường gặp
nhất bộ ở phận sinh dục ngoài, quanh miệng, quanh mắt, có thể ở mu bàn tay,
thân mình. Khi tái phát tổn thườn lại xuất hiện ở các vị trí bị lần trước và có
thể có thêm vị trí mới. Tổn thương là các mảng đỏ da, hình tròn hoặc bầu dục,
đương kính từ 1 đến vài cm, hơi nề, ranh giới rõ rệt, màu đỏ chói, đỏ sẫm, có
nề cộm làm gờ cao hơn, có cảm giác rát bỏng. Số lượng tổn thương thường ít
một vài đám ít khi có trên 10 đám. Tổn thương vùng sinh dục và miệng gây
viêm trợt và đau rát. Bệnh hay tái phát do bệnh nhân những lần đầu không
biết do dị ứng với thuốc gì nên lại dùng thuốc làm bệnh tái phát. Sau uống
thuốc 30 phút đến 8 giờ sẽ xuất hiện tổn thương, tổn thương kéo dài nếu tiếp
tục dùng thuốc, nếu ngừng thuốc bệnh sẽ thuyên giảm sau một vài tuần và

là một vòng mụn nước nhỏ, ngoài ria là một vòng ban đỏ, tạo nên hình bia
bắn. Tiến triển nặng thì chuyển thành hội chứng Stevens-Johnson.
Chẩn đoán xác định: dựa vào tiền sử dùng thuốc, hình ảnh lâm sàng, và
xét nghiệm đặc hiệu để tìm nguyên nhân.
Điều trị: ngừng thuốc đang dùng. Corticoid dùng sớm với thể nhẹ
1mg/kg cân nặng/24 giờ, thể trung bình 1,5-2 mg/kg cân nặng/24 giờ. Có thể
kết hợp kháng sinh nhóm ít gây dị ứng (macrolid), chăm sóc hộ lý hợp lý (bột
talc vô trùng, chấm thuốc sát khuẩn ) và nâng cao thể trạng bằng đường ăn
uống và tĩnh mạch.
1.5.5. Nhiễm độc da dị ứng thuốc
Đây là dạng hay gặp nhất trên lâm sàng, thường là loại típ III, típ IV.
12
1.5.5.1.Chẩn đoán
 Chẩn đoán xác định: để chẩn đoán dị ứng dạng này dựa vào:
- Tiền sử sử dụng thuốc: sử dụng thuốc trước đó nhiều giờ, nhiều ngày
và có mối liên quan với biểu hiện lâm sàng. Hỏi kĩ tiền sử dùng thuốc có giá
trị góp phần chẩn đoán dị ứng thuốc.
- Tổn thương da dưới các dạng sau:
+ Ban đỏ, ban đỏ dạng sởi, đỏ tươi hoặc đỏ thẫm, rải rác hoặc hầu khắp
toàn thân.
+ Ban đỏ-mụn nước, bọng nước, sau đó dẫn đến loét trợt, vảy tiết
+ Ban đỏ-róc vảy, ngứa, có thể có sẩn.
+ Ban mày đay
+ Ban xuất huyết và thường tiến triển nặng.
+ Phù nề vùng mặt (mi mắt, môi, mặt), chân tay, có khi phù toàn thân.
+ Loét niêm mạc miệng, sinh dục, mắt, mũi, hầu họng.
+ Ngứa tùy theo loại hình lâm sàng.
+ Xác định được thuốc gây dị ứng: test da, phản ứng tiêu bạch cầu đặc
hiệu, chuyển dạng lympho
 Chẩn đoán mức độ:

25%, thuốc chống co giật 10% [4].
+ Lâm sàng: Bệnh thường xuất hiện ở người đang khỏe mạnh, sau khi
sử dụng thuốc từ 10-30 ngày, sớm nhất là 1 ngày, trung bình 14 ngày và có
14
bệnh nhân sau 45 ngày [4]. Nữ gặp gấp hai lần nam. Bệnh tiến triển cấp tính trong
một vài giờ, đôi khi đột ngột xuất hiện sốt cao, rét run, đánh trống ngực, nhức đầu,
mất ngủ, đau miệng ăn không ngon. Bệnh tiến triển nặng dần sau 2-3 ngày với
bệnh cảnh lâm sàng đầy đủ điển hình, đôi khi bán hôn mê, sốt cao liên tục.
Tổn thương da: xuất hiện các ban đỏ giống ban sởi hoặc hồng ban lan
tỏa, hồng ban đa dạng. Tiếp theo nổi phỏng nước lùng nhùng, lan rộng và lột
da, da dễ bong tạo nên những đám trợt da, dấu hiệu Nikolsky dương tính.
Bệnh nhân đau rát nhiều.
Tổn thương niêm mạc: viêm trợt niêm mạc môi miệng, họng hầu và có
thể viêm niêm mạc thực quản, dạ dày-ruột; viêm giác mạc, viêm loét sinh dục
Dấu hiệu toàn thân: sốt cao 39-40 độ C ở tất cả bệnh nhân, mệt mỏi,
có thể có bệnh nhân bán hôn mê, hôn mê, xuất huyết tiêu hóa, viêm phổi,
viêm phế quản, phù phổi, viêm gan (tăng enzym gan), viêm cầu thận, viêm
tụy, rối loạn nước điện giải
+ Tiến triển: trước năm 1960 tỷ lệ tử vong là 80-100%, theo Habif nếu
không điều trị kịp thời và đúng cách sẽ tử vong từ 25-100% do rối loạn nước
điện giải, nhiễm khuẩn huyết là chủ yếu, nhiễm khuẩn phổi, dinh dưỡng kém
(trích dẫn theo 4) và theo Fitzpatrick thì 15-25% bệnh nhân tử vong do nhiễm
trùng huyết tụ cầu, vi khuẩn Gram âm, chảy máu dạ dày (trích dẫn theo 4).
+ Các biến chứng: nhiễm khuẩn huyết, suy gan, thận, mắt (giảm thị lực
không phục hồi, dính mi, xơ cứng cùng đồ, dính kết mạc, lộn mi, lông quặm,
mù), hẹp thực quản, hẹp âm đạo, thiểu dương, mất móng.
+ Chẩn đoán xác định: tiền sử (77% do thuốc), lâm sàng (bọng nước,
da phồng rộp, xé rách trên nền da đỏ, bóc tác thượng bì ồ ạt cấp tính…
Nikolsky dương tính), tổn thương niêm mạc mắt, môi miệng, họng, sinh dục
và tổn thương nội tạng (gan, thận, phổi, rối loạn nước điện giải ) và toàn

16
1.6. Một số xét nghiệm chẩn đoán dị ứng thuốc [2], [8], [9]
1.6.1. Các xét nghiệm trên bệnh nhân
Hiện nay xu hướng bỏ, ít áp dụng, hoặc tiến hành một cách rất thận
trọng các loại test thử trên bệnh nhân trừ test áp, test contem (patch test) xác
định viêm da do hoá chất, viêm da tiếp xúc.
Có các loại thử ứng trên da bệnh nhân như sau:
- Phản ứng rạch da (cutireaction): Do Blackley sử dụng từ 1873 sau
đó Von Pirquet dùng lại năm 1906.
+ Dùng kim chủng đậu rạch da cẳng tay dài 0,5-1cm không chảy máu.
+ Kháng nguyên thử là thuốc men, nhị hoa. Pha loãng kháng nguyên 1/10 -
1/20 trong NaCl 9
o
/
oo
sau 20-30 phút dùng bông tẩm NaCl 9
o
/
oo
lau sạch.
+ Kết quả: dương tính là nổi sẩn mày đay có quầng viêm đỏ > 5mm.
+ Tai biến: cá biệt có tai biến gây nguy hiểm tính mạng.
- Phản ứng nội bì (intradermoreation): Từ 1908 Mantoux và Mandel
dùng phản ứng này trong thử ứng Tubeculin, sau đó Robert Cooke đưa vào
xét nghiệm năm 1918.
+ Dùng bơm tiêm kiểu Tuberculin loại 1ml, kim nhỏ ngắn 1-2cm.
+ Pha loãng kháng nguyên 1/5000 1/50.000 1/500.000 các đậm độ
khác nhau.
+ Tiêm nội bì - mỗi chỗ cách nhau ít nhất 3cm.
+ Đọc kết quả sau 15-20-30 phút, kết quả dương tính đỏ lan rộng, sẩn

+ Tiêm 1/10ml huyết thanh đó vào trung bì 1 người lành khoẻ mạnh
(đánh dấu vị trí đó).
+ 24 giờ sau dung dịch kháng nguyên nghi ngờ tiêm vào chỗ đó; 40
phút nếu có sẩn nề ban đỏ là dương tính.
1.6.2. Thử ứng sinh vật in vitro
- Ưu điểm: không tiến hành trên người bệnh nên an toàn.
18
- Nhược điểm: độ chính xác của các test này chưa cao, cao nhất là test
chuyển dạng lympho bào cũng chỉ đạt 70%.
- Hỏi kỹ tiền sử dùng thuốc để xác định các thuốc bệnh nhân đã dùng
để làm test là rất cần thiết.
1.6.2.1. Phát hiện thể địa dị ứng
- Bạch cầu ái toan: cao 70% trong các trường hợp dị ứng nhiễm ký sinh
trùng đường ruột, bệnh thận…
- Khả năng gắn histamin của huyết thanh (Pouvoir histaminopexique):
Năm 1952, Parot Laborde và Urquia nhận thấy huyết thanh người lành có khả
năng cố định trong ống nghiệm một phần histamin cho thêm vào.
Nguyên lý: Dung dịch histamin gây co thắt ruột non chuột lang (ghi lại
đồ thị bằng bình Schult
3
- Dale), sau đó cho huyết thanh người lành vào, ruột
non vẫn co thắt nhưng yếu đi 30% so với cường độ cũ. Huyết thanh người dị
ứng chỉ làm giảm co thắt ruột non chuột lang từ 0 - 10%. Tức là huyết thanh
người dị ứng ít có chất ức chế tác dụng gây co thắt của histamin.
- Kết dính huyết thanh histamin Latex: Các hạt polystyren latex cố định
histamin trên bề mặt của nó. Huyết thanh người lành pha loãng 1/160-1/1280
kết dính với các hạt này. Huyết thanh người dị ứng chỉ có khả năng kết dính ở
nồng độ đậm đặc 1/10-1/40.
1.6.2.2. Phát hiện kháng thể dị ứng
 Ngưng kết hồng cầu thụ động (phương pháp Boyden):

dịch. Nếu tiếp xúc với các hồng cầu có tẩm thuốc dị ứng nguyên sẽ có hình
hoa hồng nghĩa là có ít nhất 4 hồng cầu trở lên bám quanh một tế bào
Lympho. Kết quả đọc bằng số hoa hồng trên 1000 tế bào lympho so với ống
chứng của người bình thường.
 Thử ứng tán hạt bạch cầu ái kiềm của Shelley:
- Nguyên lý: bạch cầu ái kiềm rất giàu histamin.
20
- Trong phản ứng kháng nguyên - kháng thể (KN - KT) bạch cầu ái
kiềm bị tán hạt, giải phóng ra histamin. Làm xét nghiệm này người ta lấy bạch
cầu ái kiềm của thỏ vì có đến 500 bạch cầu ái kiềm trong 1mm
3
nhiều gấp 10
lần so với máu người; sau đó làm 4 phiến đồ:
+ 1 phiến dàn bạch cầu ái kiềm thỏ.
+ 1 phiến dàn bạch cầu ái kiềm thỏ + 1 giọt huyết thanh xét nghiệm.
+ 1 phiến có bạch cầu ái kiềm + 1 giọt KN (thuốc nghi vấn).
+ 1 phiến có bạch cầu ái kiềm + 1 giọt KN + 1 giọt huyết thanh.
3 phiến đầu là đối chứng thường tỷ lệ tán hạt < 20%.
+ Phiến cuối là phiến phản ứng, kết luận nếu tán hạt là 50% là dương
tính, còn tán hạt 30-50% là nghi ngờ.
Thử ứng này chỉ có giá trị với loại dị ứng có kháng thể lưu hành, dị ứng
nhanh, loại qua trung gian tế bào (dị ứng chậm týp IV) thường âm tính.
Kháng nguyên là các thuốc penixilin, aspirin, pyramydon.
 Thử nghiệm chuyển dạng lympho bào:
- Đây là loại thử ứng có giá trị chẩn đoán cao dị ứng thuốc, độ chính
xác đạt 60-70%, có giá trị với cả dị ứng thể dịch cũng như dị ứng tế bào. Tế
bào lympho là tế bào có thẩm quyền miễn dịch, thêm kháng nguyên vào môi
trường nuôi cấy tế bào lympho của bệnh nhân dị ứng có thể làm tế bào
lympho tăng sinh chuyển dạng thành lymphoblast.
- Phương pháp làm thử ứng này khá phức tạp cần có trang bị và kỹ

người bệnh đầu tiên bị trụy tim mạch do dùng penicillin và Wilisky-1954
công bố ca tử vong đầu tiên do penicillin [59].
Ado và cộng sự-1961 đã nêu 1266 ca dị ứng cấp tại Matcova, trong đó
do kháng sinh 25,98%, vaccin, huyết thanh 2,8%, do dẫn chất salycilat 10,1%,
vitamin 6% và cũng tại Matcova từ 1961-1972 có 3512 ca điều trị dị ứng
thuốc thì có 9,8% sốc phản vệ, 1,7% tử vong, trong đó chủ yếu là do
penicillin 78%, treptomycin 14,9% [1].
Tại Mỹ, theo Fitsch và cộng sự, tỷ lệ tử vong hàng năm do do tai biến
về thuốc là 1,8% [40], [41].
22
Theo Usmani và cộng sự - 2007, sau 3 năm điều tra cho thấy 1616 ca
tai biến do penicillin trong đó 99,5% có tổn thương da, có 49,07% sốc phản
vệ dẫn đến 4,45% tử vong [64].
Theo Sharma và cộng sự, tại bệnh viện Chandigarh Ấn độ từ 1994-
2000 có 500 ca dị ứng thuốc, do kháng sinh 42,6%, thuốc tâm thần 22,2%,
chống viêm giảm đau không steroid 18% [60].
Theo Tremlett và cộng sự - 2007, tại Canada tỷ lệ phản ứng thuốc trong
cộng đồng dân cư là 6,7%, tử vong 0,32% [65].
1.7.2. Nghiên cứu dị ứng thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, dị ứng thuốc đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm
qua. Từ những năm 1960, Võ Văn Vinh thông báo trường hợp sốc phản vệ
đầu tiên do penicillin. Nguyễn Năng An, Lê Văn Khang cũng đã nêu các bệnh
nhân sốc phản vệ do kháng sinh [2].
Lê Văn Khang, đã nghiên cứu từ 1981-1990 cho kết quả dị ứng với
kháng sinh 80,3%, trong đó do penicillin 36,3%, ampicillin 19%, treptomycin
16%, tetracyclin 12%, sulfamid chậm 7,2% .Loại phản ứng tức thì 58,7% với
biểu hiện lâm sàng là mày đay, ban đỏ, phù Quinck và loại phản ứng chậm
42,3% với biểu hiện là đỏ da toàn thân, viêm da tiếp xúc dị ứng, hội chứng
Stevens-Johson, hội chứng Lyell [13].
Nguyễn Văn Đoàn nghiên cứu bệnh nhân tại khoa Dị ứng-Miễn dịch

hiệu chẩn đoán thuốc gây dị ứng đạt 93% [5].
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1. Bệnh nhân
69 bệnh nhân dị ứng do thuốc được xác định bằng phản ứng tiêu bạch
cầu đặc hiệu, điều trị nội trú tại khoa Da liễu- Dị ứng Bệnh viện TƯQĐ 108
từ tháng 7/2012 đến tháng 7/2013.
2.1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán các loại hình dị ứng thuốc
- Tiền sử có dùng thuốc trước đó
- Tổn thương da: Tuỳ theo bệnh mà có biểu hiện lâm sàng tương ứng:
Tổn thương da có thể là ban đỏ, sẩn nề, sẩn viêm, mụn nước, bọng nước…
- Tổn thương niêm mạc: mắt, miệng, sinh dục,
- Dấu hiệu Nikolsky
- Toàn thân: sốt, mệt, bán hôn mê, hôn mê
- Xác định được nguyên nhân dị ứng do thuốc.
2.1.1.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Tất cả mọi bệnh nhân dị ứng thuốc đủ tiêu chuẩn chọn.
- Mọi lứa tuổi, mọi giới.
- Bệnh nhân có XN phản ứng tiêu BC đặc hiệu dương tính.
- Bệnh nhân đồng ý nghiên cứu.
2.1.1.4. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh nhân dị ứng có xét nghiệm phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu
không phát hiện có thuốc gây dị ứng.
- Bệnh nhân không đồng ý hợp tác nghiên cứu.
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu bệnh án nghiên cứu
- Trang thiết bị phục vụ xét nghiệm

Trích đoạn Đặc điểm lõm sàng dị ứng thuốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status