SĐẶT VẤN ĐỀ
Phá thai to là chủ động sử dụng các phương pháp khác nhau để chấm
dứt thai trong tử cung cho thai đến 22 tuần tuổi.
Việt nam là một trong những nước có tỷ lệ phá thai khá cao trong khu
vực và trên thế giới. Tỷ lệ phá thai/tổng số đẻ chung toàn quốc là 52%, tỷ lệ
phá thai là 83/1.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và tỷ suất phá thai là 2,5
lần/phụ nữ (nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam sẽ có 2,5 lần phá thai trong cả cuộc
đời sinh đẻ của mình) . Phá thai là biện pháp không mong muốn, cũng như
không khuyến khích vì có nhiều tai biến, biến chứng, nhất là đối với phá thai
ba tháng giữa, nhưng với những lý do khác nhau, trong đó có những lý do bệnh
lý của mẹ và thai nên nhiều phụ nữ buộc phải phá thai ở tuổi thai này .
Có hai phương pháp phá thai ba tháng giữa bao gồm phá thai nội khoa
và phá thai ngoại khoa đã và đang được áp dụng. Những phương pháp cổ điển
như: đặt túi nước ngoài buồng ối, bơm chất gây sẩy vào trong hoặc ngoài
buồng ối . . . hiện nay hầu như không được áp dụng nữa vì ít hiệu quả và gây
nhiều tai biến. Phương pháp phá thai ngoại khoa bằng nong và gắp (D & E)
thường chỉ áp dụng cho tuổi thai dưới 18 tuần, chỉ phù hợp với những cơ sở y
tế có trang thiết bị thật tốt và đội ngũ thầy thuốc có tay nghề cao, có thể gặp
những tai biến như: băng huyết, thủng tử cung (TC), rách cổ tử cung (CTC),
tổn thương các tạng lân cận phải can thiệp. . ., .
Vị thành niên (VTN) là đối tượng rất nhạy cảm, cơ thể chưa trưởng
thành, lại thiếu hiểu biết nên khi có thai thường để thai to mới đi phá thai,
điều này gây ra hệ lụy lớn cho chuyên nghành phụ sản và cho xã hội.
Tình hình quan hệ tình dục sớm và nạo phá thai ở tuổi VTN tại nhiều nước
đang tăng lên ở mức báo động, đặc biệt là các nước đang phát triển. Hoạt động
tình dục của VTN đến sớm và nhiều hơn so với trước kia tùy thuộc vào từng
1
Quốc gia và nền văn hóa khác nhau. Ở các nước phát triển như Newzealand có
49% VTN (15 - 19 tuổi) có quan hệ tình dục trước hôn nhân, Ở Mỹ là 46% và
Thụy Điển là 54,2 % nam VTN đã có quan hệ tình dục. Tại Indonesia, theo cơ
quan kế hoạch Quốc gia đã đưa ra thông báo hơn một nửa số thanh thiếu niên ở
• VTN giữa: từ 14 - 16 tuổi.
• VTN muộn: từ 17 - 19 tuổi.
1.1.2. Sức khỏe sinh sản vị thành niên
Sức khỏe sinh sản VTN là những nội dung về sức khỏe sinh sản liên quan
đến lứa tuổi vị thành niên, bao gồm sức khỏe và dinh dưỡng, nhất là đối với vị
thành niên gái. Những hiểu biết về cách giữ gìn sức khỏe khi có thai, biến đổi
của cơ thể trong giai đoạn phát triển quan trọng này của mỗi con người, phát
triển hiểu biết về tình dục học và sức khỏe tình dục là những mặt quan trọng
của SKSS trong suốt đời người. Ngoài ra, những vấn đề khác của tuổi VTN
hiện còn là những bất cập như tình yêu, quan hệ tình dục, phòng tránh thai,
nạo hút thai. Sinh đẻ ở tuổi VTN, viêm nhiễm đường sinh sản, các bệnh lây
truyền qua đường tình dục ( BLTQĐTD), bao gồm cả HIV/AIDS .
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển cũng thu hút sự chú ý đến những
nhu cầu về sức khỏa sinh sản (SKSS) của VTN đã và đang bị các dịch vụ
3
SKSS hiện hành ở phần lớn các nước bỏ quên. Chương trình hành động của
Hội nghị tuyên bố rất rõ ràng rằng cần phải cung cấp rộng rãi các thông tin và
dịch vụ cho VTN để giúp họ hiểu được các nhu cầu tình dục của bản thân và
bảo vệ họ trước nguy cơ có thai ngoài ý muốn, các bệnh LTQĐTD có thể dẫn
đến nguy cơ vô sinh.
1.1.3. Tình dục
Là nhu cầu sinh lý và tình cảm tự nhiên của con người. Tình dục có thể là
các cử chỉ hành động đem lại cho nhau khoái cảm như âu yếm, hôn, vuốt ve và
kích thích để đạt khoái cảm. Giao hợp chỉ là một hình thức để thể hiện tình dục.
Tình dục (TD) bao hàm những ý nghĩa cá nhân và xã hội cũng như là hành
vi tình dục và sinh học. Một cách nhìn toàn diện về tình dục bao gồm các vai
trò xã hội, đặc điểm cá nhân, giới và nhận dạng tình dục, sinh học, hành vi
tình dục, các mối quan hệ, suy nghĩ và cảm xúc. Việc thể hiện tình dục bị ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm những lo ngại mang tính xã hội, đạo đức,
kinh tế, tinh thần, văn hóa và phẩm hạnh .
Phát triển chiều cao nhanh chóng, các tuyến bã hoạt động mạnh, xuất hiện
trứng cá…
- Tử cung, âm đạo, buồng trứng phát triển to ra, xương hông nở ra và
xuất hiện kinh nguyệt [14].
1.2.1. Giải phẫu và mô học tử cung khi chưa có thai
• Tử cung là một tạng rỗng của cơ quan sinh dục, nằm sau phúc mạc,
trong tiểu khung, thông vào ổ phúc mạc qua vòi tử cung bằng lỗ
5
bụng vòi, thông với bên ngoài qua âm đạo. Tử cung có hình nón dẹt,
chia thành ba phần: thân, eo và cổ (hình 1.1) [19], [20].
Hình 1.1. Sơ đồ hình tử cung cắt đứng ngang [20].
• Thân tử cung: hình thang, rộng ở trên, có hai sừng hai bên, dài khoảng
40mm, rộng khoảng 45mm.
• Eo tử cung: thắt nhỏ, dài khoảng 5mm.
• Cổ tử cung: là phần thấp nhất của tử cung, hình trụ bên trong là ống
CTC, được giới hạn bởi ba lớp: niêm mạc, cơ và thanh mạc, trong đó
lớp cơ là dày nhất. Bản chất cấu tạo cơ thành tử cung là cơ trơn, xen kẽ
có các mô liên kết. Tỷ lệ giữa cơ trơn và mô liên kết giảm dần từ đáy tử
cung đến CTC.
• Cơ của CTC chủ yếu là các thớ cơ dọc, khi chuyển dạ các thớ cơ từ thân tử
cung co rút làm CTC ngắn dần gọi là hiện tượng xóa - mở CTC.
1.2.2. Những biến đổi về tâm lý trong thời kỳ VTN: tùy theo từng giai đoạn
phát triển của thời kỳ VTN mà có những biến đổi về tâm lý khác nhau [14].
6
1.2.2.1. Thời kỳ VTN sớm
- Bắt đầu ý thức mình không còn là trẻ con, muốn được độc lập, muốn
được tôn trọng, được đối xử bình đẳng như người lớn.
- Chú trọng đến các mối quan hệ bạn bè, quan tâm đến hình thức bên
ngoài và những thay đổi của cơ thể. Tò mò, thích khám phá, thử nghiệm. Bắt
đầu phát triển tư duy trừu tượng, có những hành vi mang tính thử nghiệm, bốc
CTC là một đoạn đặc biệt của TC, nằm dưới vùng eo TC. Nó có hình
trụ, dài 2,5 cm, rộng 2 - 2,5 cm và rộng nhất ở quãng giữa. Có 2 lỗ: lỗ trong
và lỗ ngoài. Âm đạo (ÂĐ) bám vào CTC chếch từ sau ra trước, chia CTC
thành 2 phần: Phần trên ÂĐ và phần trong âm đạo. CTC ở người chưa đẻ có
hình trụ tròn đều, mật độ chắc, lỗ ngoài CTC hình tròn. Sau khi sinh đẻ, CTC
dẹt theo chiều trước sau, mềm hơn, lỗ ngoài CTC rộng ra và không tròn như
trước, hình thành nên môi trước và môi sau. Các tài liệu kinh điển cho rằng
càng sinh đẻ nhiều CTC càng ngắn, nhưng các tài liệu gần đây lại cho rằng
sau sinh đẻ CTC thay đổi chủ yếu theo chiều rộng, ít thay đổi chiều dài. Chiều
dài CTC ổn định vào khoảng 25 mm [28], [29].
Phần cơ của CTC không giống như phần cơ của thân TC. Cơ của CTC
chủ yếu là các thớ cơ dọc, phần lớn từ thân TC đi xuống, chỉ có một ít các thớ
cơ từ ÂĐ đi lên [30]. CTC có rất ít cơ bị phân tán trong một mô xơ chun, chỉ
có rất ít thớ cơ chạy dọc ở gần ngoại vi. Cấu trúc này làm cho CTC có đặc
tính ưu việt là rất dễ xóa, mở trong chuyển dạ [31].
8
Khi có thai CTC ít thay đổi hơn so với thân TC, bình thường CTC rất
chắc. Khi có thai CTC mềm ra là do mô liên kết ở CTC tăng sinh và giữ nước,
mềm từ ngoại vi đến trung tâm. Cơ của người con rạ mềm sớm hơn so với
người con so.
Các tuyến trong ống CTC chế tiết rất ít hay ngừng chế tiết. Chất nhầy
CTC đục và đặc quánh lại tạo thành một cái nút bịt kín ống CTC. Nút nhầy
CTC ngăn cách BTC với âm đạo, ngăn cách không cho thụ tinh lần thứ hai và
không cho nhiễm khuẩn bộ phận sinh dục trên [32].
1.3.1.2. Thay đổi của TC khi có thai từ tuần 13 đến 22
Từ sau tuần 13, thai và phần phụ lớn nhanh, do đó kích thước TC cũng tăng.
- Thân TC: bình thường lớp cơ thân TC dày 1 cm, ở tuổi thai 4 - 5
tháng lớp cơ dày nhất, khoảng 25 mm. TC có hình không đối xứng (dấu hiệu
Piszkacsek). Ở tuổi này thai chưa lớn, ngôi chưa ổn định, hình thái TC không
đều. Chiều cao TC trên vệ khoảng 8 - 12 cm. Vào thời điểm 16 - 20 tuần, đáy
(CCTC). Những diễn biến trong quá trình sẩy thai có một số điểm giống và
khác với chuyển dạ thai đủ tháng. Thay đổi tại thân tử cung không khác với
chuyển dạ đủ tháng, tuy nhiên có một đặc điểm đáng chú ý là ở tuổi thai này,
cơ tử cung dầy hơn so với cơ tử cung khi thai đủ tháng dẫn đến áp lực tạo ra
từ CCTC có thể sẽ khác nhau.
Tại tuổi thai tuần 13 đến 22, đoạn dưới tử cung chưa hình thành, các
tác động của CCTC chủ yếu thể hiện trên sự biến đổi ở CTC làm CTC co
ngắn dần rồi mở. Kích thước và trọng lượng thai ở tuần 13 đến 22 chưa lớn,
các bộ phận của cơ thể chưa đủ chắc, dưới áp lực mạnh của những co bóp từ
thân tử cung, nên thai có thể bị đẩy ra ngoài mà không cần CTC mở hết. Dưới
tác động của CCTC, một phần thai và buồng ối dồn xuống làm giãn căng giãn
10
eo tử cung. Lỗ trong CTC có thể giãn ra sớm hơn, trong khi đó độ dài ống
CTC chưa thay đổi, đồng thời lỗ ngoài CTC chưa kịp mở. Rau thai nằm ở
đoạn eo nhưng CTC chưa xoá mở hết tạo nên hình dáng giống con quay vì
vậy được gọi là dấu hiệu con quay, một dấu hiệu khi thai đang sẩy.
Ba yếu tố chính tác động đến quá trình sẩy thai 13 đến 22 tuần giống
như sinh lý chuyển dạ đủ tháng gồm: CCTC, ngôi thai và sự chín muồi CTC.
Ở tuổi thai này, ngôi thai chưa ổn định cho nên bất kỳ phần nào của thai cũng
có thể trở thành ngôi. Tác động mở CTC không phải do ngôi thai mà do nước
ối ít nên cũng không có tác dụng làm mở CTC, vì vậy CCTC là động lực
chính gây xóa mở CTC. Nhưng do chưa chuyển dạ, không có CCTC vì vậy
phải có sự tác động để gây cơn co tử cung đồng thời có yếu tố làm chín muồi
CTC thì mới gây được chuyển dạ để đẩy thai và phần phụ ra khỏi BTC.
Mặt khác, tế bào cơ tử cung trong giai đoạn 13 đến 22 tuần ít nhạy cảm
đối với những yếu tố kích thích gây cơn co, trong khi đó ở tuổi thai này CTC
có chiều dài lớn nhất trong toàn bộ thai kỳ và hoàn toàn chưa có yếu tố nào
hình thành sự chín muồi để chuẩn bị cho chuyển dạ. Những yếu tố nêu trên là
cản trở chính và gây khó khăn cho sự giãn nở và mở CTC trong quá trình sảy
thai 13 đến 22 tuần.
[63].
12
Tác dụng của PG
PG được tổng hợp ở nồng độ rất thấp, chỉ khoảng vài nanogam/gam
mô. Chúng có mặt ở khắp nơi trong cơ thể, phạm vi tác dụng rất rộng nên còn
được gọi là hormon tổ chức. PG là một nhóm các chất có cấu trúc tương tự
nhau nhưng tác dụng dược lý của các PG rất khác nhau, thay đổi tùy loại, liều
lượng, theo loài và tùy theo giới.
Các tác dụng dược lý của các PG
- Gây co hoặc giãn cơ trơn phụ thuộc vào các thụ thể, làm thay đổi cấu
trúc tổ chức CTC, ức chế bài tiết dịch dạ dày, ức chế hoặc thúc đẩy sự tập
trung tiểu cầu làm tăng tính thấm thành mạch, làm giảm hormon steroid ở hệ
thống sinh dục - tiết niệu, ức chế các hormon phân giải, gây phản ứng viêm,
sốt, đau, giãn mạch, buồn nôn, nôn, đau thắt bụng, tiêu chảy [43].
- Trên tử cung: PG làm tăng co bóp tử cung nhịp nhàng nên có tác dụng
gây chuyển dạ đẻ.
- Trên CTC: PG tác động lên các tổ chức liên kết ở CTC làm CTC chín
muồi, thuận lợi cho chuyển dạ ở nơi PG có thể gây cơn co TC ở bất kỳ thời
điểm nào của thai kỳ. Sự tổng hợp PG ngày càng tăng trong quá trình có thai
và có nồng độ cao trong dịch ối, màng rụng và tử cung, nhất là vào thời kỳ
đầu giai đoạn chuyển dạ [44].
PGF
2
α
và PGF được dùng trong lâm sàng để gây sẩy thai và gây chuyển
dạ đẻ.
1.5. Nguyên nhân phát sinh cơn co tử cung gây sẩy thai
Nhiều nghiên cứu cho rằng prostasglandin tăng dần theo tuổi thai đồng
thời không những khởi phát CCTC mà còn tham gia vào quá trình đẩy nhanh
sự chín muồi CTC, làm thuận lợi cho sẩy thai. Nguyên nhân phát sinh chuyển
1.7. Quá trình thụ thai, hình thành và phát triển của thai
1.7.1. Quá trình thụ thai
Sự thụ thai bao gồm hai quá trình: sự thụ tinh và sự làm tổ của trứng.
Để diễn ra quá trình thụ tinh phải có sự góp mặt của một tế bào đực (tinh
trùng) và một tế bào cái (noãn bào). Sự kết hợp giữa hai tế bào này sẽ tạo ra
một tế bào mới gọi là trứng. Trứng sẽ làm tổ để phát triển thành thai và phần
phụ của thai [46], [47], [48].
1.7.2. Quá trình hình thành và phát triển của thai
Sau khi thụ tinh, trứng phân chia rất nhanh để phát triển thành thai và
các phần phụ của thai. Về phương diện tổ chức, quá trình phát triển của trứng
chia làm hai phần: Phần trứng sau này trở thành thai và phần trứng sau này trở
thành phần phụ của thai giúp cho thai phát triển. Về phương diện thời gian,
quá trình phát triển của trứng chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ sắp xếp tổ chức.
Bắt đầu từ lúc thụ tinh cho đến hết tháng thứ hai và thời kỳ hoàn chỉnh tổ
chức: từ tháng thứ ba đến khi đủ tháng [46], [49].
Hình 1.4. Quá trình thụ thai, hình thành và phát triển của thai [21].
15
Thai
3 Tháng đầu
3 tháng giữa 3 Tháng cuối
Chi tiết phôi thai
Vòi tử
cung
Tử cung
Buồng trứng
- Tháng thứ 3
Đầu và mặt: đầu phát triển to ra và cổ cũng dài ra, mặt đã được tạo hình
hoàn chỉnh với cằm, trán cao.
Tim hoàn chỉnh với 4 ngăn.
Chi trên có chiều dài tương ứng với thai, chi dưới phát triển mạnh và dần
XX, một số quốc gia đã chấp nhận và cho phép phá thai tại các cơ sở y tế
nhằm bảo vệ nhân quyền và sức khỏe cho người phụ nữ.
Y học hiện đại sử dụng phương pháp dùng thuốc hoặc thủ thuật, phẫu
thuật để phá thai. Phá thai bằng thủ thuật gây nhiều tai biến do can thiệp trực tiếp
vào BTC, có thể dẫn đến băng huyết, tổn thương CTC và TC, nhiễm khuẩn, vô
sinh về sau [52]. Do đó, phương pháp phá thai nội khoa hiện nay được đánh giá
là an toàn nhất. Phương pháp này được áp dụng tại nhiều nước, đặc biệt ở châu
Âu, châu Mỹ từ những năm 1980, cho kết quả và độ an toàn rất cao. Tuy nhiên
tại các nước đang phát triển thì vấn đề này vẫn còn rất mới.
Tại Việt Nam, luật bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em ra đời năm 1960 đã
đề cập đến phá thai. Luật bảo vệ sức khỏe con người năm 1989 đã đặc biệt nhấn
mạnh người phụ nữ Việt Nam được quyền phá thai ngoài ý muốn [53].
Từ năm 1998, phương pháp hút chân không được áp dụng cho tất cả
các trường hợp phá thai ba tháng đầu. Đối với phá thai ba tháng giữa, phương
pháp nong và nạo chỉ được áp dụng ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh với tuổi
thai khá nhỏ dưới 18 tuần.
Phá thai bằng thuốc ở Việt Nam được Bộ Y tế cho phép nghiên cứu
thực hiện đầu tiên ở Bệnh viện Hùng Vương năm 2002 với sự trợ giúp của
Trung tâm đào tạo về kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ sinh sản Paris (Pháp), tỉ lệ
thành công trên 90%, đồng thời cho thấy đây là phương pháp an toàn, ít tai
biến hơn nạo hút thai, ít ảnh hưởng tới tâm lý của người phụ nữ [54].
Cuối năm 2003, hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe sinh sản Bộ Y tế Việt Nam đã cho phép áp dụng phương pháp phá
17
thai bằng thuốc ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương đối với thai đến hết 49 ngày
tuổi. Đối với phá thai ba tháng giữa, nhiều tác giả trong nước và trên thế giới
đã nghiên cứu và đưa vào áp dụng việc sử dụng MSP để gây sẩy thai, đem lại
tỷ lệ thành công khá cao, vào khoảng 75% đến 95%. Năm 2009, phác đồ MSP
trong phá thai ba tháng giữa được Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản Bộ Y tế nước ta cho phép áp dụng tại các bệnh viện
Để nơi rộng tuổi thai có thể nong và gắp, các bác sĩ Châu âu như Van
Lim đã sáng chế ra các kẹp gắp thai khỏe và dễ dàng điều khiển hơn để gắp
các mô trong BTC Phương pháp D & E thực sự được hình thành từ đó.
Kể từ đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước đến nay D & E đã trở thành phương
pháp phá thai ba tháng giữa phổ biến nhất ở Hoa Kỳ. Vào năm 1995, 95% các
trường hợp phá thai 3 tháng giữa ở Hoa Kỳ được thực hiện bằng phương pháp
này. Đây cũng là phương pháp được những người cung cấp dịch vụ phá thai
ngoài hệ thống y tế quốc gia ở Anh sử dụng nhiều nhất [52].
Các tai biến có thể gặp gồm có: sót rau hoặc mô thai, nhiễm khuẩn,
chảy máu nhiều, tổn thương các tạng lân cận phải can thiệp. . . , tuy nhiên tỷ
lệ các tai biến này rất thấp.
Phương pháp mổ thai hoặc cắt TC cả khối
Phương pháp mổ lấy thai được chỉ định cho những trường hợp chống
chỉ định với phá thai đường dưới hoặc phá thai đường dưới thất bại. Thuận lợi
nữa của phương pháp này là có thể kết hợp thắt hai vòi TC nếu như thai phụ
không muốn có thai nữa [1].
Phương pháp cắt TC cả khối tức là cắt luôn toàn bộ TC hoặc cắt không
hoàn toàn TC mà không cần lấy bỏ thai ra trước. Phương pháp này thường
19
được áp dụng cho những trường hợp bệnh lý của mẹ như: Bệnh tim mạch
nặng, hen phế quản nặng hoặc nhiễm khuẩn TC nặng. Bằng cách cắt TC cả
khối sẽ giúp cho bệnh nhân ít nguy cơ bị nhiễm khuẩn nặng, nhất là nguy cơ
viêm nội tâm mạc (Osler) ở tim sau phá thai.
1.8.2.2. Phương pháp nội khoa
Là phương pháp gây sẩy thai bằng cách kích thích để tạo cơn co TC
giống như chuyển dạ để đưa bào thai ra khỏi BTC. Đây là phương pháp phá
thai có nguồn gốc kinh điển nhất trong lịch sử loài người.
Có thể tạm chia các phương pháp gây sẩy thai nội khoa làm 2 nhóm:
- Làm tăng thể tích buồng ối
Bơm chất gây sẩy vào trong buồng ối. Các chất được bơm vào buồng ối
Từ năm 1906 Dale đã nói đến tác dụng trợ đẻ của tinh chất thùy sau
tuyến yên (post- hypophyse). Năm 1953 Duvigneaud tổng hợp được oxytocin
và đưa vào sử dụng [61].
Oxytocin được sử dụng hết sức rộng rãi trong sản phụ khoa.
Trong trường hợp thai chưa đủ tháng, TC có ít cơ quan cảm thụ
(receptor) hơn các trường hợp thai đủ tháng, vì vậy liều lượng oxytocin sử
dụng cho các trường hợp phá thai 3 tháng giữa thường cần cao hơn các trường
hợp gây chuyển dạ khi thai đã đủ tháng.
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ gây sẩy thành công của oxytocin đạt từ
80% đến 90%, tỷ lệ sót rau và thai cần phải nạo ở mức 27%. Thời gian gây
21
sẩy trung bình dao động trong khoảng từ 8 đến 13 giờ. Chống chỉ định đối với
phá thai 3 tháng giữa: khối u tiền đạo, TC có sẹo mổ cũ, rau tiền đạo…[62].
- Phương pháp Stein
+ Phương pháp Stein cổ điển.
Cho bệnh nhân tắm nước ấm, thụt tháo, dùng estrogen và quinine trước
khi truyền oxytocin để gây sẩy thai [60].
+ Phương pháp Stein cải tiến
Dùng estrogen, cụ thể là benzogynestryl 10 mg/ngày, trong 3 ngày liền.
Đến ngày thứ 4 truyền oxytocin tĩnh mạch gây cơn co TC. Liều
oxytocin truyền mỗi ngày tối đa là 30 đơn vị truyền từng đợt trong 3 ngày
liền, mỗi đợt cách nhau 7 ngày cho đến khi thai sẩy [60].
Ưu điểm của phương pháp là dễ thực hiện, giá thành rẻ, hiệu quả cao.
Tuy nhiên có thể gặp một số tác dụng phụ và tai biến do truyền
oxytocin tĩnh mạch như hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim, ngộ độc nước, vỡ TC.
- Gây sẩy thai bằng PG
Các PG được biết đến như là một chất làm mềm mở CTC và gây sẩy thai,
gây chuyển dạ từ đầu những năm 1970. Các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm
hiểu, phát hiện ra các dạng PG với ít tác dụng phụ hơn [63].
Trong các chế phẩm tổng hợp tương tự PG, MSP được sử dụng để gây
- Misoprostol
(C
22
H
38
O
5
)
Alsoben
Cytotec
Viên nén:
100 mcg và 200
mcg
- MSP đơn thuần: tỷ lệ sẩy
thai: 60% - 85%.
- MSP + MFP: tỷ lệ sẩy thai
85%- 99%.
- Sulproston
- PGE
2
- C
23
H
31
NO
7
S
Nalodor
Dung dịch tiêm
bắp, liều 250 mcg/
H
36
O
5
Prostodin Dung dịch, tiêm
bắp 125 mcg/ml,
250 mcg/ml
- Paz (2002): tỷ lệ sẩy thai
72%.
- Mohamed (1998): tỷ lệ sẩy
thai 80%/ 24h.
- Munthali (2001): tỷ lệ sẩy
23
thai 83,8%/ 24h.
1.9.1. Ứng dụng của PG trong sản khoa
* Các chỉ định
- Phá thai ngoài ý muốn: thai 3 tháng đầu, 3 tháng giữa.
- Phá thai bệnh lý: thai lưu, thai dị dạng.
- Làm chín muồi CTC trước nạo hút thai.
- Gây chuyển dạ trong các trường hợp thai già tháng, ối vỡ non.
- Cầm máu sau đẻ.
* Chống chỉ định
- Các nguyên nhân sản khoa: bất tương xứng thai và khung chậu, ngôi
bất thường, TC có sẹo mổ cũ, rau tiền đạo, suy thai.
- Tiền sử nhạy cảm với PG.
- Rối loạn chức năng gan, thận.
- Các bệnh hen phế quản, giãn phế quản, glaucome, basedow.
+ Các tác dụng không mong muốn
PG có một số tác dụng không mong muốn như: sốt, nôn, buồn nôn, tiêu
chảy, đau đầu, rét run . . . nhưng không gây hậu quả nghiêm trọng và nhanh
(như PGF
2
α
), ngược lại là
β
. Trong tự nhiên không thấy PG
β
.
25