1
T VN
Bnh quanh rng l mt trong hai bnh vựng rng ming m theo WHO
l him ha th ba ca loi ngi sau cỏc bnh ung th v tim mch [17].
Theo iu tra ca cỏc nc trờn th gii cng nh Vit Nam thỡ bnh vựng
quanh rng gp mi la tui, c bit vi hn 70% s ngi trng thnh
cỏc nc mc bnh ny v khụng cú s khỏc bit v t l bnh gia nhng
nc phỏt trin v nc ang phỏt trin. Bnh lý vựng quanh rng rt phc
tp v bao gm hai tn thng chớnh: Tn thng viờm v tn thng thoỏi
húa. Giai on u, quỏ trỡnh viờm gõy hụi ming, chy mỏu li khi ỏnh rng
hoc chy mỏu t nhiờn, dn dn rng di lch, tha ra, tt li, h c chõn rng
gõy ờ but. Giai on nng, t chc quanh rng b phỏ hy nhiu lm rng
lung lay, sc nhai kộm v cui cựng gõy mt rng, nh hng nhiu ti thm
m v phỏt õm ca bnh nhõn.
Bnh tõm thn phõn lit l mt bnh khỏ ph bin nc ta cng nh
trờn th gii, Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2002), tỷ lệ ngời mắc bệnh tâm thần
phân liệt chiếm khoảng 0,48 - 0,69% dân số và mỗi năm cứ 10000 ngời dân
từ 12 đến 60 tuổi có một ngời mắc tâm thần phân liệt [17],[45]. Tại Việt
Nam, theo Trần Văn Cờng (2002) tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt chiếm
khoảng 0,3 - 1% dân số [2].
Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng có xu hớng tiến triển
mạn tính, làm suy giảm nặng nề các chức năng tâm thần, mất đi khả năng lao
động và làm tan rã nhân cách của ngời bệnh dẫn đến sa sút trí tuệ. Bệnh
nguyên, bệnh sinh của bệnh cho đến nay vẫn cha đợc hiểu biết rõ ràng [1] [15]
[4] [13] [14].
Những biểu hiện của bệnh gồm các triệu chứng rối loạn về t duy, hành
vi, nhận thức, cảm xúc, tri giác Triệu chứng đặc trng của bệnh là tính bị động
, bị chi phối trong các biểu hiện loạn thần nh hoang tởng, ảo giác và một số
các triệu chứng âm tính mà hậu quả của nó là khó khăn trong việc giao tiếp
2
với mọi ngời xung quanh, sự tan rã sâu sắc nhân cách và suy giảm nhận thức
kinh tế- xã hội, vùng địa lý… cho nên đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu
dịch tễ học trên phạm vi toàn cầu. Người ta đã cố gắng tìm ra các chỉ số nhằm
thống nhất hơn trong việc mô tả tình trạng của bệnh cũng như nhu cầu điều trị
bệnh quanh răng cộng đồng. Trong những năm 1950 người ta có các biện
pháp làm sáng tỏ nguyên nhân của bệnh quanh răng (Russel- 1956, Ramf
ford. S. P- 1959) [37], những năm 1970 các nhà khoa học đã đánh giá giá trị
của các phương pháp điều trị khác nhau để giải quyết vấn đề viêm quanh răng
(Ramf ford và cộng sự - 1975, Ainamo. J và Ray. I- 1975, Rooling. B và cộng
sự- 1976) [6], trên cơ sở sự kết hợp giữa hệ thống nhu cầu điều trị tổ chức
quanh răng: PTNS của Johansen và cộng sự- 1973[28], sự phân chia hàm
thành 6 vùng lục phân của O. Leary- 1967 [35], với sự ghi nhận phân đôi của
Ainamo. J và Ainamo. A- 1978, chỉ số quanh răng cộng đồng về nhu cầu điều
trị: CPITN đã ra đời. Sau những thảo luận mở rộng và kiểm tra, CPITN đã
được hoàn chỉnh và mô tả năm 1982 (Ainamo, Barmes. Beagrie và cộng sự)
được WHO, FDI thông qua năm 1984, được nhiều nước trên thế giới áp dụng.
Mục đích và mục tiêu cho sức khỏe quanh răng đã được đề nghị- CPITN được
4
xem ở mức độ quốc gia, sau hội nghị Hội nha khoa quốc tế (FDI) năm 1985,
nó mang tính toàn cầu [40].
Trên thế giới nhiều nghiên cứu về dịch tễ học bệnh của vùng quanh
răng được thực hiện. Người ta thấy tất cả những thương tổn của tổ chức
quanh răng trong đó viêm lợi và viêm quanh răng mãn là những bệnh phổ
biến nhất [43].
- Tình trạng viêm lợi:
Được phát hiện những năm 1930, từ 40 năm sau đó các chỉ số đánh giá
tình trạng lợi như SBI, GI ra đời, phát triển và đạt được những kết quả thống
nhất hơn [26]. Người ta chứng minh rằng, viêm lợi xuất hiện và lưu hành rất
cao ở nhóm tuổi vị thành niên: Theo Muhleman và Mazor (1958) tuổi 13 ở
Thụy điển bị viêm lợi là 93%, theo Rosenzwing (1960), tuổi 17 ở Ấn độ bị
viêm lợi là 100% [30], ở Mỹ (1974) 6-7 tuổi viêm lợi 23% và 18-74 tuổi viêm
Về nhu cầu điều trị: Nhờ có các chương trình tuyên truyền và hướng
dẫn VSRM cộng đồng, một số nước đã có sự thay đổi về tỷ lệ viêm lợi và
viêm quanh răng. Trong một nghiên cứu của Bian Jin You ở vùng Yuncheng
(Trung Quốc) sau chiến dịch “Ngày cho hàm răng của bạn”- do họ phát động,
thì tỷ lệ viêm lợi giảm xuống từ 99% (1990) còn 63% và tỷ lệ cao răng cũng
giảm từ 85% xuống 43% (1996) [30].
Tuy nhiên, một số nước khu vực Đông Nam Á nhu cầu điều trị vẫn còn
ở mức cao. Chẳng hạn như Thái Lan là một nước đẩy mạnh công tác chăm
sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng, nhưng qua kết quả điều tra toàn quốc, thì
nhóm tuổi 35- 44 mới có hơn 1% lợi hoàn toàn khỏe mạnh, 58% có túi lợi
nông và 11% có túi lợi sâu [38].
6
Các nghiên cứu về bệnh quanh răng ở bệnh nhân tâm thần trên thế giới
Trên thế giới chưa có nghiên cứu nào riêng biệt về bệnh quanh răng
trên bệnh nhân TTPL. Tuy nhiên đã có nhiều nghiên cứu thực hiện trên bệnh
nhân tâm thần trong đó có bệnh nhân TTPL, kết quả đã cho thấy ảnh hưởng
của bệnh tâm thần lên tình trạng bệnh quanh răng nói riêng và tình trạng bệnh
răng miệng nói chung thông qua: Sự thay đổi hành vi và tác động của các loại
thuốc chống trầm cảm và chống loạn thần.
Sự thay đổi hành vi ở đây bao gồm sự thay đổi về thói quen VSRM và
các thói quen xấu khác ảnh hưởng đến vùng quanh răng.
Nghiên cứu của Shweta UJaoney BDS và CS (2010) tiến hành trên 100
bệnh nhân tâm thần trong đó có 50 bệnh nhân điều trị nội trú và 50 bệnh nhân
điều trị ngoại trú với nhóm chứng là 50 người khỏe mạnh không mắc bệnh
tâm thần trong cộng đồng đã đưa ra kết luận: Vấn đề lớn nhất đối nhóm bệnh
nhân thiệt thòi và thiếu sự quan tâm của xã hội này là ở chỗ những bệnh nhân
này thiếu sự khéo léo, khả năng về thể chất và tinh thần để thực hiện các biện
pháp vệ sinh răng miệng và do đó tình trạng sức khỏe răng miệng nhóm dân
số này rất kém. Nhiều chứng rối loạn tâm thần khiến cho bệnh nhân tiêu thụ
CPI phụ thuộc vào tuổi
tác, thời gian mắc bệnh
tâm thần và thói quen
VSRM.
8%
48%
76%
12%
4%
36,7%
40,8%
38,8%
20,4%
2%
52%
38%
32%
10%
1%
TN
- Hướng dẫn VSRM
- Hướng dẫn VSRM, lấy
cao răng
- Điều trị phức hợp
100%
100%
50%
100%
67%
11%
Fairouz Sayegh và CS (2010) nghiên cứu trên 40 bệnh nhân tâm thần
điều trị ngoại trú tại cộng đồng và nhóm chứng gồm 40 bệnh nhân khỏe
mạnh, cũng cho kết luận: Nhóm bệnh nhân tâm thần có sức khỏe răng miệng
kém hơn và có nhu cầu điều trị cao hơn so với nhóm đối chứng. Với kết quả
như sau:
Nhóm nghiên cứu Nhóm chứng
Không chải răng 50% 2,5%
Chải răng không thường
xuyên
25% 37,5%
Chải răng 1 lần/ ngày 5% 22,5%
Chải răng 2 lần/ ngày 12,5% 37,5%
Chải răng nhiều hơn 2
lần/ ngày
7,5% 0%
PlI 1,96 1,55
CPI
- Lợi lành mạnh
- Chảy máu
- Cao răng
- Túi lợi nông
- Túi lợi sâu
0%
15,06%
48,11%
28,45%
8,36%
1,25%
27,5%
46,6%
nhất ở lứa tuổi 65 (51,47%), thấp nhất ở lứa tuổi từ 15-19 (1,44%). Theo số
liệu điều tra lần này, có thể nói bệnh viêm quanh răng găp bệnh viêm quanh
11
răng gặp nhiều ở người già và tỷ lệ mắc ở nam cao hơn nữ (18,62% và
17,92%) là không có sự khác biệt [12].
Những năm gần đây việc điều tra xác định bệnh quanh răng người ta
đánh giá bằng các chỉ số trong đó chỉ số nhu cầu điều trị bệnh quanh răng
cộng đồng CPITN đã được áp dụng tại Việt Nam.
Theo kết quả điều tra cơ bản trong toàn quốc tiến hành từ năm 1981-
1983 của Phân viện và Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương, Nguyễn Văn Cát và
cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở Miền Nam: 91,3% và Miền Bắc: 82,10% [16].
Theo số liệu kết quả cuộc điều tra cơ bản SKRM toàn quốc tiến hành
năm 1990 ở các tỉnh đại diện (Phía Bắc, phía Nam, miền Trung, đồng bằng
Châu Thổ, Trung du, miền Núi, Nông thôn và Thành thị) ở các nhóm tuổi (12,
15 và 35- 44) [17] thì tỷ lệ mắc bệnh quanh răng cao, đặc biệt là chỉ số viêm
lợi và cao răng ở 3 nhóm tuổi đều trên 90%.
Trong một điều tra riêng rẽ về bệnh quanh răng ở các tỉnh phía Nam
Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh [2] tác giả Nguyễn Cẩn cho biết tỷ lệ
người có cao răng rất cao, xuyên suốt các lứa tuổi, gần giống như các nước,
đặc biệt là các nước thuộc thế giới thứ 3, viêm lợi luôn đi với cao răng, 1/3
viêm lợi sẽ tiến triển sang viêm quanh răng sau một thời gian, thường thì sau
35 tuổi.
Báo cáo kết quả điều tra cơ bản SKRM các tỉnh phía Bắc năm 1995
được công bố [7] [5] cho thấy rõ ở 3 nhóm tuổi 12, 15, 35-44 tỷ lệ người có tổ
chức quanh răng hoàn toàn lành mạnh rất thấp chưa quá 3%. Chương trình
điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 do Việt Nam và Úc hợp tác đã cho kết
quả > 90% người được khám bị bệnh viêm lợi và viêm quanh răng [18].
Theo tác giả Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải trong
báo cáo điều tra SKRM toàn quốc năm 2001 thì tỷ lệ người có bệnh quanh
răng rất cao ở mức 96,7% trong đó có 31,8% có túi lợi bệnh lý nông và sâu [11].
Từ lâu người ta đã nhận thấy các ảnh hưởng qua lại phức tạp của yếu tố
toàn thân, tại chỗ cũng như ngoại cảnh đối với sự hình thành và phát triển của
bệnh quanh răng.
Trong những năm 1960 đa số các giả thuyết cho rằng VQR là do
nguyên nhân toàn thân và yếu tố tại chỗ (tại chỗ là vi khuẩn và sang chấn
khớp cắn). Vai trò của vi khuẩn với các men của nó là mắt xích đầu tiên trong
quá trình phá hủy tổ chức quanh răng: Green (1960), Ramfjord (1961) và Loe
(1965) đã chứng minh ảnh hưởng của mảng bám răng tới viêm lợi [8].
Rosling (1976) cũng kết luận: nếu kiểm soát được mảng bám răng và vệ sinh
răng tốt bệnh sẽ ổn định, xương ổ răng bị tổn thương sẽ được phục hồi [8].
Ngày nay người ta nhấn mạnh vai trò của vi khuẩn trong mảng bám
răng và sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể, đây là hai yếu tố chính khởi
phát bệnh quanh răng. Ngoài ra người ta còn thấy yếu tố làm bệnh nặng thêm
như sang chấn khớp cắn hoặc những bệnh toàn thân khác trong một số hội
chứng [8].
Các yếu tố toàn thân liên quan tới VQR: bệnh đái tháo đường, xơ gan,
bệnh nội tiết, bệnh tim mạch và cả những điều kiện khác như hình thể, vị trí
răng, bất bình thường của cung răng, những sai sót trong điều trị trong đó
bệnh đái tháo đường có liên quan rất mật thiết đến bệnh VQR.
14
1.2.1.1. Mảng bám răng (MBR)
- Cấu tạo: MBR bản chất là vi khuẩn, trung bình 1mm
3
có 10
8
vi khuẩn
gồm 200 loại khác nhau có loại đã biết nhưng có loại chưa biết. Mảng bám
hoàn chỉnh sau 14-21 ngày có khả năng gây bệnh.
- Những loại vi khuẩn liên quan tới các thể bệnh viêm lợi và VQR:
+ Bacteroides Intermedius
những cơ chế miễn dịch (Miễn dịch dịch thể, miễn dịch qua trung gian tế
bào), hoặc ức chế phòng vệ của túc chủ. Trong tác động gián tiếp hệ thống
miễn dịch tế bào đóng vai trò liên quan trực tiếp đến phản ứng viêm vùng
quanh răng và phản ứng viêm được biết rõ nhất bằng tỷ lệ protein C phản ứng
tăng cao trong huyết thanh [23]
1.2.1.2. Cao răng
Hình thành từ quá trình vô cơ hóa MBR hoặc do sự lắng cặn muối
canxi trên bề mặt răng, cổ răng. Là tác nhân gây hại sau MBR, theo vị trí bám
có hai loại cao răng: trên lợi và dưới lợi.
- Cao răng trên lợi: có màu vàng hoặc nâu xám, thường có ở những
răng cạnh lỗ tuyến nước bọt, mặt ngoài răng 6-7 hàm trên, mặt trong nhóm
răng cửa và răng 6 hàm dưới.
- Cao răng dưới lợi: nhìn rõ khi lợi bong ra khỏi cổ răng, màu xám,
bám chắc vào răng, có thể nhìn thấy qua lợi, ánh sáng đèn và phim sau ổ răng.
1.2.1.3. Vi khuẩn trong mảng bám răng
Vai trò gây bệnh của vi khuẩn trong mảng bám răng đã được chứng
minh từ những công trình gây viêm thực nghiệm của Loe (1965). Đây là
nguyên nhân chủ yếu gặp hầu hết trong các bệnh quanh răng.
16
Qua nhiều năm nghiên cứu các quần thể khác nhau trên thế giới thấy
rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa MBR (hay mảng bám vi khuẩn) với tỷ lệ
bệnh quanh răng và mức độ trầm trọng của bệnh.
Cho đến nay bệnh viêm lợi và VQR phải được coi như là những bệnh
nhiễm khuẩn (Page và Schroeder 1992), trong đó mỗi bệnh được đặc trưng
bởi sự chiếm ưu thế của một hay nhiều vi khuẩn đặc hiệu:
- VQR cấp ở người trẻ:
+ Actinobacillus Actinomycetemcomitans (Slots và cộng sự 1976)
+ Bacteroides Gingivalis (Tanner và cộng sự 1979)
+ Eikenella Corrodens (Mandel 1984)
- VQR tiến triển nhanh:
- Viêm lợi do MBR đơn thuần.
- Viêm lợi do MBR phối hợp với các yếu tố toàn thân: Nội tiết, bệnh
máu,
- Viêm lợi do thuốc.
- Viêm lợi do thiếu dinh dưỡng: thiếu Vitamin C,
Các bệnh ở lợi không do MBR:
- Do vi khuẩn đặc hiệu: Neiseseria gonorrhe, Treponia pallidium,
- Do virus: herpes,
- Do nấm: Candida,
- Do di truyền: U lợi xơ dạng lông.
-Do bệnh toàn thân biểu hiện ở lợi: dị ứng,
- Do sang chấn.
- Phản ứng kháng nguyên.
B. VQR mạn tính: Khu trú, toàn bộ.
C. VQR tiến triển nhanh: Khu trú, toàn bộ.
18
D. VQR là biểu hiện của bệnh toàn thân: Bệnh máu, bệnh liên quan
đến thay đổi gen.
E. Hoại tử quanh răng: Viêm lợi loét hoại tử, viêm quanh răng loét
hoại tử.
F. Apxe quanh răng: Apxe lợi, apxe quanh răng.
G. VQR phối hợp với tổn thương nội nha
H. Dị dạng bẩm sinh hay mắc phải:
Yếu tố tại chỗ tăng MBR: Giải phẫu, chất hàn răng,
Dị dạng niêm mạc: Giảm độ sâu ngách tiền đình, bất thường phanh
môi, má,
Biến dạng lợi- niêm mạc và bờ xương ổ răng: Thiếu chiều cao
xương ổ răng, tăng sản lợi,
Sang chấn khớp cắn.
1.2.3. Các chỉ số đánh giá tình trạng quanh răng [10]
xã hội đều bị đảo lộn. Người bệnh nghĩ và làm những điều dị kỳ không ai
hiểu được [17].
1.3.1.2 Giảm sút thế năng tâm thần.
Đó là giảm sự năng động, nhiệt tình trong mọi hoạt động tâm thần, cảm
xúc ngày càng cùn mòn, khô lạnh, tư duy ngày càng nghèo nàn, ý chí suy đồi,
hoạt động giảm dần và không thiết làm gì.
Các triệu chứng âm tính thường tiến triển dần dần, âm ỉ làm tan rã nhân
cách của người bệnh một cách sâu sắc [17].
20
1.3.1.3. Các triệu chứng âm tính thường gặp.
Các triệu chứng âm tính là khá phong phú song theo các tác giả: Kaplan
H.I. và CS. (1994) thấy các triệu chứng âm tính thường gặp trong bệnh TTPL
là [47]:
* Các rối loạn tư duy:
+ Tư duy chậm chạp: khả năng suy nghĩ rất khó khăn, dòng ý tưởng rất
chậm sau mỗi câu hỏi BN phải suy nghĩ rất lâu mới trả lời được.
+ Tư duy ngắt quãng: khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng của BN như bị
cắt đứt làm cho BN không nói được nữa. Mãi sau mới lại tiếp tục nói về một
chủ đề khác.
+ Tư duy nghèo nàn: ngôn ngữ nghèo nàn cả về lượng từ và nội dung,
giảm vốn từ, lượng từ khi nói. Giảm sút các ý tưởng diễn đạt, nội dung sơ sài,
đơn điệu.
* Các rối loạn cảm xúc:
+ Cảm xúc cùn mòn: biểu hiện đặc trưng bởi nét mặt khô khan, vô cảm.
Nghèo nàn trong cử chỉ biểu lộ cảm xúc, trong giao tiếp không dùng lời như
biểu hiện nét mặt, tiếp xúc bằng mắt, âm điệu lời nói kém linh hoạt.
+ Cảm xúc không thích hợp: là trạng thái mất sự phù hợp giữa nội dung
tư duy và biểu lộ cảm xúc như tin vui thì khóc, chuyện buồn lại cười.
+ Các biểu hiện khác của cảm xúc: lãnh đạm, thờ ơ, giảm hoặc mất ham
muốn và hứng thú, thu rút xã hội. Người bệnh hoàn toàn không muốn tiếp xúc, xa
Đó là các triệu chứng rất phong phú, đa dạng và luôn luôn biến đổi, chúng
có thể xuất hiện riêng lẻ, nhưng cũng có thể kết hợp với nhau thành những hội
chứng. Các triệu chứng dương tính thường gặp là các hoang tưởng, ảo giác, kích
động tâm thần vận động.
22
Theo Snejnhepxki A.V. (1982) có 9 hội chứng dương tính thay thế nhau
từ nhẹ đến nặng gồm [16]:
1. Hội chứng suy nhược.
2. Hội chứng cảm xúc.
3. Hội chứng giống tâm căn.
4. Hội chứng paranoia.
5. Hội chứng ảo giác paranoid.
6. Hội chứng paranoid.
7. Hội chứng paraphrenia.
8. Hội chứng căng trương lực.
9. Trạng thái cuối cùng.
Năm 1987 Andersen đã liệt kê khá đầy đủ các triệu chứng dương tính
của bệnh TTPL và cho đến nay rất nhiều các tác giả đã sử dụng trong nghiên
cứu của mình gồm [38]:
1. Các ảo giác.
2. Các hoang tưởng.
3. Các hành vi dị kỳ:
- Về diện mạo bên ngoài, ăn mặc.
- Về ứng xử xã hội, tình dục.
- Hành vi kích động, tấn công.
- Hành vi định hình lặp lại.
4. Các rối loạn hình thức tư duy dương tính:
- Tư duy lệch lạc (derailment): dòng tư duy lúc đầu tưởng như theo đúng
một chủ đề, sau đó lại chệch sang chủ đề khác.
- Tư duy sai chủ đề (tangentiality): dòng tư duy ngay từ đầu đã sai chủ đề.
phân liệt chu kỳ. Trong các thể bệnh tiến triển chu kỳ, trầm cảm Paranoid
được coi là thể bệnh thường gặp [17], [47].
1.3.4. Triệu chứng suy giảm chức năng nhận thức trong tâm thần phân liệt.
Theo Hardy-Bayle M.C. và CS. (2003): “Nhận thức là hoạt động của trí
óc qua đó con người hiểu biết về sự vật, hiện tượng được phản ánh trong suy
nghĩ. Nhận thức bao gồm tất cả các mặt của sự hiểu biết, suy nghĩ và ghi nhớ”
.Trên phương diện sinh lý thần kinh “Nhận thức có thể hiểu là quá trình tiếp
nhận, xử lý, lưu trữ và sử dụng các thông tin” có liên quan chặt chẽ với hoạt
động chức năng và giải phẫu của não [46].
Suy giảm nhận thức là tình trạng suy giảm các hoạt động nhận thức như
chú ý, trí nhớ, sự định hướng, tri giác, tư duy…. Đa số các nhà khoa học đều
công nhận rằng có sự suy giảm nhận thức nhiều mức độ trong bệnh TTPL.
Suy giảm nhận thức được coi là một đặc điểm phổ biến của bệnh. Suy giảm
trong chức năng nhận thức có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới khả năng sống tự
lập cũng như khả năng thích ứng và tái hòa nhập xã hội của người bệnh [57].
Sự suy giảm chức năng nhận thức có tính chất tăng dần trong TTPL đã
được biết đến. Peled A. (1999) nhận thấy các thiếu sót về nhận thức xuyên
suốt quá trình tiến triển của bệnh, sự thiếu sót nhận thức thể hiện ở khả năng
nhận thức về bản thân, về mức độ bệnh lý của mình và nhận thức về các sự
kiện cuộc sống cũng như mục đích sống [62].
Nghiên cứu của O'Leary D.S. và CS. (2000), về chỉ số trí tuệ (IQ) năm
1999 trên 116 bệnh nhân TTPL thấy rằng chỉ số trí tuệ tỉ lệ nghịch với lứa tuổi
của bệnh nhân, cụ thể nhóm: 25-40 tuổi IQ = 82,9; 41-50 tuổi IQ = 67,4 và 51-
60 tuổi IQ = 52,0 [61].
25
1.3.5. Chẩn đoán xác định bệnh TTPL
1.3.5.1.Ti sêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL của Tổ chức Y tế Thế giới năm
1992 (ICD-10) [1], [4], [20], [47].
Mặc dù không xác định được các triệu chứng đặc trưng của bệnh một
cách chặt chẽ, nhằm mục đích thực tiễn người ta chia các triệu chứng thành