đặc điểm dịch tễ học, chẩn đoán và điều trị bệnh giun truyền qua đất - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh do nhiễm giun truyền qua đất (GTQĐ) là những bệnh do các loại
giun có thể thực hiện chu kỳ phát triển của chúng mà không cần có sự tham
gia của vật chủ trung gian (VCTG): sự phát triển của trứng và ấu trùng (AT)
xảy ra ở môi trường bên ngoài, ở ngoài cơ thể vật chủ (như giun đũa, giun tóc,
giun móc, giun lươn, giun kim) [11].
Nhiễm GTQĐ (Soil Transmitted Helminthes-STHs) là một trong những
bệnh phổ biến nhất ở những người sống trong điều kiện thiếu vệ sinh, ở
những quốc gia đang phát triển. Có khoảng hơn 300 triệu người nhiễm giun
nặng, hơn 150.000 các ca tử vong mỗi năm (Crompton 1999; Montresor và
cs, 2002). Nhiễm giun truyền qua đất ảnh hưởng tới sự phát triển về thể
chất, tinh thần và trí tuệ của con người, gây trở ngại đến sự phát triển kinh
tế (De Silva và cs, 2003). Gánh nặng của bệnh GTQĐ tác động một cách
mạn tính, âm ỉ, kéo dài ảnh hưởng tới sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng
của vật chủ mà chúng ký sinh (Stephenson, Latham and Ottesen 2000;
Stoltzfus and others 1997).
Bệnh GTQĐ, phổ biến là giun đũa, giun tóc, giun móc Các bệnh giun
này có hầu hết ở các nước trên thế giới, nhưng tỷ lệ cao ở các nước có khí hậu
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Theo thông báo của WHO (1987), ước tính khoảng
hơn một tỷ người trên thế giới nhiễm các loại giun này, khoảng 2 tỷ người có
yếu tố nguy cơ [87]. Sự nhiễm các loại giun này có liên quan chặt chẽ với tình
trạng cuộc sống thiếu thốn và nghèo nàn. Các bệnh giun này không những
phổ biến mà nó còn gây nhiều tác hại, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con
người, đặc biệt đối với trẻ em: làm giảm khả năng phát triển về thể chất, trí
tuệ, thậm chí còn là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến tử vong.
Theo A. Montresor, D.W.T. Crompton (1998), có hơn 1 tỷ người nhiễm giun
đũa với ít nhất 60.000 người tử vong/năm; 1,4 tỷ người nhiễm giun tóc với
1
10.000 người tử vong/năm và 1,3 tỷ người nhiễm giun móc, mỏ với 65.000
người tử vong/năm [73].
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là điều kiện thuận lợi

cháu gái 5 tuổi từ một vụ tả. Năm 1761, Roederes, Butter đã mô tả về hình
dạng và đặt tên là Trichuris. Sau đó với nhiều cách đặt tên khác nhau: Ascaris
trichiura (Linnaeus, 1771; Stiles, 1901), Trichocephalus hominis (Schrank,
1788)…Đến năm 1941, những Chuyên gia ký sinh trùng Châu Mỹ thống nhất
cách gọi tên là Trichuris trichiura [61].
1.3. Lịch sử nghiên cứu giun móc
Năm 1838, Dubini đã phát hiện ra giun móc trưởng thành trên một tử thi
phụ nữ người Milan. Năm 1843, ông đã mô tả tỉ mỉ về loại ký sinh trùng này
và đặt tên là Agchylostoma duodenale. Sau đó, nhiều tác giả khác ở Ai Cập
cũng đã phát hiện giun móc trên người và mô tả tỉ mỉ hơn.
3
Với nhiều tên gọi khác nhau: Ancylostoma duodenale (Creplin, 1845),
Uncinaria duodenale (Railliet, 1885)…Đến năm 1915, Ủy ban quốc tế gồm
66 nhà khoa học thống nhất cách gọi tên giun móc là Ancylostoma duodenale
trên danh mục động vật học [61].
Năm 1902, Stiles C.W đã mô tả một loại giun tròn giống với A.
duodenale, nhưng có cấu tạo khác nhau ít nhiều, ông đã mô tả và đặt tên là
Necator americanus [61].
Ở Việt Nam, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã có những điều tra đầu
tiên ở người: đó là công trình của Mathis, Léger, Salamon, Nevew và
Maurriquand…Đặc biệt là công trình của Mathis, Léger (1911) đã điều tra cơ
bản, toàn diện về các loại giun đường ruột, tiếp đó là những nghiên cứu (NC)
điều trị bằng thuốc Tây y.
Sau năm 1954 đến nay, nhất là từ khi đất nước được thống nhất đã có rất
nhiều công trình NC trên lĩnh vực về các bệnh giun như: NC điều tra cơ bản,
NC về hình thể, đặc điểm sinh học, phân bố dịch tễ, bệnh học, phương pháp
(PP) phòng chống…[36], [42].
2. DỊCH TỄ HỌC BỆNH GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT
2.1. Tác nhân gây bệnh
2.1.1. Bệnh giun đũa

đã thụ tinh bị bóc vở bán phần. Hình thể giống trứng đã thụ tinh, lớp vỏ ngoài
bị mất, chỉ còn lại một lớp vỏ dày, nhẵn không màu.
* Trứng giun đũa chưa được thụ tinh: Hình bầu dục, kích thước lớn hơn
trứng giun đũa đã được thụ tinh khoảng 90 μm. Vỏ có 2 lớp, ngoài là lớp
albumin xù xì, lớp vỏ trong mảnh hơn, bên trong chứa đầy hạt to, tròn, chiết
quang. Ngoài ra còn gặp trứng giun đũa chưa thụ tinh bị bóc vỏ bán phần mất
lớp albumin: hình thể giống trứng giun đũa chưa được thụ tinh, lớp vỏ ngoài
bị mất, chỉ có 1 vỏ nhẵn, mỏng có 2 đường viền, không màu, bên trong có các
hạt to, tròn, chiết quang.
Hình 2. Hình ảnh trứng giun đũa
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng giun đũa:
* Điều kiện nhiệt độ: Nhiệt độ thuận lợi nhất mà trứng phát triển thành
ấu trùng nằm trong vỏ bọc là 25-30
0
C. Ở nhiệt độ này, sự phát triển được
hoàn thành trong vòng 10-15 ngày. Ở nhiệt độ thấp hơn, thời ký phát triển của
trứng thành AT kéo dài thêm.Ở nhiệt độ cao hơn, thời kỳ phát triển rút ngắn
lại. Giới hạn nhiệt độ chịu đựng được để trứng phát triển là 12-36
0
C. Nếu
nhiệt độ ở gần mức tối đa hoặc tối thiểu chịu đựng được thì chỉ có một tỷ lệ
nhỏ trứng phát triển được.
Trứng giun đũa chịu đựng được những tác động khác nhau của môi
trường bên ngoài. Trứng giun đũa bền vững nhất với nhiệt độ thấp. Trên thực
nghiệm làm lạnh đóng băng ở -1 đến 5 độ C cũng không ảnh hưởng đến sức
sống của trứng ở những giai đoạn phát triển khác nhau. Trứng giun đũa vẫn
6
còn sống, sau khi đã ở nhiệt độ âm 27
0
C trong 10 ngày. Do vậy, trong điều

đực có gai giao hợp.
7
Hình 3. Hình ảnh giun tóc trưởng thành
*Hình thể của trứng giun tóc: Trứng giun tóc hình bầu dục, hai cực có
hai nút trong. Vỏ dày có 2 lớp, kích thước 30x50μm, khi mới bài xuất bên
trong là một khối nhân có hạt, để lâu cố hình phôi dâu hoặc hình AT, màu
vàng sẫm.
Hình 4. Hình ảnh trứng giun tóc
Con cái đẻ khoảng 2.000 trứng/ngày, được thải ra cùng với phân ở giai
đoạn chưa phát triển hết. Sự phân chia của trứng và sự phát triển của AT đến
giai đoạn nhiễm xảy ra ở môi trường bên ngoài khi có các điều kiện thuận lợi.
Thời gian trứng chín là 15-120 ngày, tùy theo nhiệt độ (15-30
0
C) và độ ẩm
của đất. Ở nhiệt độ 35
0
C, quá trình này xảy ra nhanh hơn 11 ngày nhưng có
đến 50% trứng bị chết [11]. Ở nhiệt độ thấp hơn, thời gian phát triển của
trứng sẽ kéo dài (đến 19 ngày ở 25
0
C, 57 ngày ở 20
0
C). Để cho trứng chín
được ở môi trường bên ngoài có độ ẩm thích hợp, thì nhiệt độ của đất có một
ý nghĩa lớn. Điều kiện bắt buộc để trứng phát triển được là phải có oxy. Trong
8
môi trường không có oxy, trứng không phát triển nữa tuy vậy nó vẫn còn sống
được thêm một thời gian (10 ngày ở 30
0
C) và lâu hơn ở nhiệt độ thấp hơn.

kích thước 50x60μm. Về cấu tạo, khi trứng mới bài xuất ra khỏi cơ thể có từ
4-8 nhân. Sau 4-8 giờ, trứng có hình phôi dâu. Sau 12-48 giờ, trứng có hình
ảnh ấu trùng. Trứng giun móc thường có màu xám nhạt, giữa nhân và vỏ có
khoảng trống sáng.
* Hình thể ấu trùng: Khi mới thoát vỏ, AT có kích thước dài 0,2-0,3mm,
chiều ngang 17-20μm. Thực quản có 2 ụ phình, giữa 2 ụ phình có một eo thắt
gọi là ấu trùng giai đoạn I. Ấu trùng giai đoạn II dài 0,4-0,5mm, chiều ngang
20μm. Thực quản có hình trụ. Ấu trùng giai đoạn III có kích thước lớn hơn
khoảng 560μm, chiều ngang 24μm.
Trứng theo phân ra ngoài, phát triển thành AT kho có nhiệt độ thích hợp,
độ ẩm cao và không khí. Nhiệt độ thuận lợi từ 15-35
0
C (tối thiểu 30-32
0
C). Ở
điều kiện này, sau 24-36 giờ thì AT chín và rời khỏi vỏ bọc. AT (larve) sống
ở trong đất bằng chất hữu cơ và lột xác hai lần trong vòng 5-10 ngày, từ AT
có túi phình ở thực quản (larve rhabditoide). AT strongyloide nếu gặp điều
kiện không thuận lợi ở môi trường bên ngoài, có thể có một vỏ bọc mỏng,
sáng óng ánh (AT có kén). AT strongyloide là AT nhiễm (invasive state)
nghĩa là có khả năng xâm nhập cơ thể người.
Trứng và AT giun móc chịu đựng rất kém những điều kiện bất lợi của
môi trường bên ngoài. Những AT có kén có sức chịu đựng tốt hơn và có thể
sống trong đất từ 3 tuần đến vài tháng ở nhiệt độ dưới 10
0
C và trên 50
0
C thì
10
chúng không phát triển được. Trứng và AT giun móc chịu đựng kém tác dụng

2.3.2. Giun tóc
Sơ đồ 2. Chu kỳ sinh học của giun tóc
Giun tóc đực và giun cái trưởng thành ký sinh ở đại tràng, chủ yếu ở
vùng manh tràng. Khi ký sinh, giun tóc cắm phần đầu vào niêm mạc ruột để
hút máu và phần đuôi của giun ở ngoài lòng ruột. Sau khi giao hợp, giun cái
đẻ trứng. Trứng theo phân ra ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ
ẩm, oxy), trứng giun sẽ phát triển thành trứng mang AT.
Người ăn phải trứng giun tóc có AT lẫn trong rau, nước uống…trứng
qua miệng, thực quản tới dạ dày. Nhờ sức co bóp cơ học và tác dụng dịch
vị của dạ dày làm cho AT thoát khỏi vỏ trứng. Ấu trùng di chuyển thẳng
12
tới manh tràng để phát triển thành giun tóc trưởng thành. Thời gian hoàn
thành chu kỳ giun tóc khoảng 30 ngày. Giun tóc sống trong ruột người
khoảng 5-6 năm.
Ngoài lây nhiễm qua đường tiêu hóa, giun đũa và giun tóc còn có khả
năng nhiễm vào cơ thể qua đường hô hấp.
2.3.3. Giun móc
Sơ đồ 3. Chu kỳ sinh học của giun móc
Giun móc đực và cái trưởng thành ký sinh ở tá tràng, sau khi giao hợp,
giun cái sẽ đẻ trứng. Khi ký sinh phần đầu của ruột non, giun ngoạm vào niêm
mạc ruột để chiếm thức ăn và hút máu. Sau khi giun cái đẻ trứng, trứng theo
phân ra ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, oxy), trứng giun
sẽ phát triển thành trứng mang AT giai đoạn I sau 24 giờ, ấu trùng này phát
triển và lớn lên nhờ các chất hữu cơ ở trong đất thành ấu trùng giai đoạn III.
AT giai đoạn III có các hướng động đặc biệt có khả năng chui qua da vào
người. Ngoài những yếu tố nêu trên, tính chất thổ nhưỡng cũng có ảnh hưởng
tới sự phát triển của AT. Đất màu, phù sa ven sông, đất mùi tạo điều kiện
thuận lợi cho AT phát triển; đất mặn, đất mặn hạn chế sự phát triển của AT.
13
Sau khi xuyên qua da, AT theo đường tĩnh mạch về tim phải. Từ tim

Thường giun đũa phải trưởng thành ở ngoài cơ thể người. Điều này
quyết định các yếu tố truyền nhiễm, không thể có sự lây truyền trực tiếp từ
người sang người. Đất có ý nghĩa quan trọng nhất trong cơ chế truyền bệnh
giun đũa. Rau quả (rau sống, dưa chuột, hành…) bị nhiễm bẩn khi dùng phân
tươi để bón cây, cũng có thể truyền bệnh. Nước, ruồi giữ vai trò thứ yếu.
2.4.2.2. Bệnh giun tóc
Yếu tố truyền nhiễm cơ bản là đất và nước bị nhiễm trứng giun tóc. Ruồi
và tay bẩn cũng có một vai trò nhất định trong việc truyền bệnh.
2.4.2.3. Bệnh giun móc
Những yếu tố và sinh hoạt như sàn nhà bằng đất, đi chân đất, ăn rau quả
không rửa sạch, dùng phân tươi để bón cây…đều có một vai trò lớn trong việc
làm lây bệnh.
2.4.3. Khối cảm thụ
* Tuổi: Mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm bệnh. Tuy nhiên, giun đũa thì trẻ
em mắc nhiều hơn.
* Giới: Không có sự khác nhau về giới trong nhiễm giun truyền qua đất.
* Nghề nghiệp: Do đặc điểm KST liên quan mật thiết với sinh địa cảnh,
tập quán canh tác…nên trong bệnh giun truyền qua đất có tính chất nghề
nghiệp rất rõ rệt ở một số bệnh: nông dân dễ nhiễm giun móc…
* Khả năng miễn dịch: Trẻ em tỷ lệ nhiễm giun đũa cao hơn và cường
độ nhiễm giun cao hơn người lớn trong đó có lý do miễn dịch.
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh giun truyền qua đất
2.5.1. Yếu tố địa lý, khí hậu
Trứng giun đũa, tóc và móc không có khả năng phát triển trong cơ thể
người thành giun trưởng thành, muốn lây truyền được, chúng phải có một
15
giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh. Các điều kiện thuận lợi cho sự sinh
trưởng và phát triển của trứng giun ở ngoại cảnh là: nhiệt độ, độ ẩm, oxy,
độ pH của đất…
- Nhiệt độ thích hợp cho trứng giun phát triển là 24-30

còn 1-2%, đến tháng 4 hoặc tháng 5 năm sau mới có điều kiện phát triển
thành AT.
- Chất đất cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng giun như: đất
cát, vùng ven biển, hầm mỏ và các đường hầm nơi mà nhiệt độ và độ ẩm cao
là điều kiện rất thuận lợi cho AT, trứng giun phát triển, đặc biệt là AT trứng
giun móc [4], [9], [20]. Chính vì vậy, những vùng có điều kiện địa lý, khí hậu
khác nhau thì tỷ lệ nhiễm giun khác nhau. Ở Đông Nam Á nói chung, Việt
16
Nam nói riêng có điều kiện địa lý, khí hậu rất thuận lợi cho sự phát triển của
trứng và AT giun, đặc biệt những vùng nông thôn, vùng trồng màu, vùng mỏ.
- Mật độ dân số cao ở những thành phố, thị trấn, đồng bằng tạo điều kiện
thuận lợi lan truyền bệnh giun sán giữa người với người [42].
2.5.2. Yếu tố về con người
Người là vật chủ của giun đũa, giun tóc, giun móc nên những điều kiện
về địa lý, khí hậu chỉ đủ điều kiện cho trứng giun và AT giun tồn tại và phát
triển ở ngoại cảnh. Trứng giun và AT giun sẽ không tồn tại sau một thời gian
nếu như không được nguồn truyền nhiễm bổ sung thêm mầm bệnh. Từ môi
trường, trứng hoặc AT giun có thể vào được cơ thể con người hay không, phụ
thuộc rất nhiều vào yếu tố liên quan đến đời sống sinh hoạt của con người. Tỷ
lệ người nhiễm sẽ giảm đi rất nhiều, nếu như không bị tái nhiễm vì giun có
thời gian sống ở ruột người một thời gian nhất định [24], [43]. Những điều
kiện đã góp phần ảnh hưởng vào quá trình này là:
- Quản lý phân người chưa chặt chẽ:
+ Việc sử dụng phân người làm phân bón, trong khi đó phân chưa được
ủ hay chưa được xư lý.
+ Sử dụng hố xí không hợp vệ sinh.
+ Thói quen phóng uế bừa bãi ra môi trường xung quanh, những nguồn
phân này là một khối lượng mầm bệnh khổng lồ thường xuyên gieo rắc ra
ngoại cảnh. Tiềm năng sinh sản của mỗi loài giun cái rất cao: khoảng 24 vạn
trứng/ngày/con đối với giun đũa, 2000 trứng/ngày/con đối với giun tóc, 9000-

700 triệu người nhiễm giun tóc và giun móc.
Năm 1991, trên thế giới ước tính có khoảng hơn 1 tỷ người nhiễm giun
đũa, 800-900 triệu người nhiễm giun móc trong đó: 685 triệu người Đông
Nam Á, 132 triệu người ở Châu Phi, 104 triệu người ở Trung Nam Mỹ [75].
18
Theo Later Chan và cs (1994), trên thế giới có 1.471 triệu người nhiễm
giun đũa, 1.048 triệu người nhiễm giun tóc và 1.297 triệu người nhiễm giun
móc, mỏ [59].
Theo Carlo Urbani (1998), trên thê giới có khoảng 1,4 tỷ người nhiễm
giun đũa, 1,4 tỷ người nhiễm giun tóc và 1,3 tỷ người nhiễm giun móc [75].
2.6.1.1. Tình hình nhiễm giun đũa
Giun đũa phân bố rộng khắp trên thế giới nhưng không đều. Những nước
có nền kinh tế thấp, trình độ văn hóa lạc hậu…thường có tỷ lệ nhiễm cao. Vì
vậy Schullz gọi bệnh giun đũa là “vấn đề bị quên lãng ở những dân tộc bị
quên lãng” [39]. TLN giun đũa ở một số nước Tây Phi (51,0%), Đông Phi
(29-44%), Cu Ba (20%), Pháp (8,2%), Mỹ (16,5%) [42]. Châu Á có TLN
giun đũa cao nhất (70%) [92].
Theo Sturchler D., ở những nước có TLN giun đũa từ 50% trở lên trong
những năm 80 là: Ấn Độ, Banglades, Mianma, Indonesia, Malaysia,
Philippine, Trung Quốcm Kenya, các nước Tây Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, I-ran,
Afganistan, Brazil, Colombia, Mexico, Peru [38].
2.6.1.2. Tình hình nhiễm giun tóc
Giun tóc có sinh thái giống giun đũa nên phân bố bệnh và TL bệnh của
giun tóc tương tự giun đũa, một số nước nhiệt đới có TLN tới 90%, một số
nước vùng ôn đới có TLN rất thấp [4].
2.6.1.3. Tình hình nhiễm giun móc (Gồm Ancylostoma duodenale và Necator
americanus)
Ancylostoma duodenale và Necator americanus có đặc điểm sinh thái
hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau một số chi tiết nhỏ về hình thể. Bệnh
giun móc phổ biến ở hấu hết các nước trên thế giới, chủ yếu ở các nước nhiệt

sau: Bệnh giun đũa là bệnh phổ biến, tỷ lệ nhiễm cao hơn hẳn các bệnh giun
sán khác, TL chung khoảng 80%. Tuy phân bố rộng khắp nhưng TL không
đồng đều giữa các khu vực khác nhau, ở đồng bằng có TLN cao nhất. TLN
cao nhưng cường độ nhiễm không cao, đa số các vùng điều tra có trung bình
dưới15.000 trứng/gam phân. Mọi lứa tuổi đều nhiễm giun đũa, lưa tuổi cao
20
nhất là 5-9 tuổi. Không có sự khác nhau về CĐN và TLN giữa nam và nữ.
Nhiễm giun đũa phối hợp với nhiễm nhiều loại giun khác rất phổ biến (89%).
Tình trạng tái nhiễm rất nghiêm trọng, sau 6 tháng TL tái nhiễm là 68%. TLN
giun đũa có khuynh hướng tăng lên ở miền núi và miền Nam, do di dân từ
miền xuôi đến tất cả các vùng kinh tế mới, mang theo cả tập quán dùng phân
tươi bón ruộng. Về mùa nhiễm, qua xét nghiệm ở miền Bắc, xác định TL
trứng giun đũa phát triển đến giai đoạn nhiễm cho thấy: tháng 5&9 có khả
năng nhiễm cao nhất [26].
2.6.2.2. Tình hình nhiễm giun tóc
Do chu kỳ của giun tóc giống giun đũa, do trứng cũng có vỏ dày, có sức
đề kháng giống giun đũa, nên phân bố bệnh giun tóc ở Việt Nam có những
đặc điểm tương tự giun đũa [25]. TLN và CĐN giun tóc thấp hơn giun đũa,
TLN chung khoảng 52% [36]. Số lượng trứng trung bình/gam phân dưới 1000
trứng ở đa số các vùng được điều tra. Về lứa tuổi nhiễm bệnh, trẻ em dưới 1
tuổi hầu như không bị nhiễm giun tóc. Như vậy, bệnh giun tóc không nhiễm
sớm như bệnh giun đũa, nguyên nhân có thể do giun tóc có mật độ khuếch tán
ngoại cảnh thấp hơn so với giun đũa; lứa tuổi 2-3 tuổi vẫn có mức độ nhiễm
giun tóc thấp, như vậy chứng tỏ giun tóc thường nhiễm muộn; ở lứa tuổi trên
3 tuổi bệnh giun tóc tuy tăng dần theo tuổi nhưng không có hiện tượng tăng
vọt và đột biến; ở lứa tuổi cao hơn 35-60 tuổi, bệnh giun tóc chưa có những
biểu hiện giảm TL bệnh. Điều này chứng tỏ tuổi thọ của giun tóc dài hơn
nhiều so với giun đũa nên bệnh khó tự hết và không có hiện tượng giảm bệnh
tự nhiên theo tuổi. TL tái nhiễm giun tóc thấp hơn, sau 6 tháng điều trị TL tái
nhiễm khoảng 51%.

công nhân ba nông trường chè là 49,9%, CĐN trung bình là 734±54,4
trứng/gam phân [27].
22
Tác giả Nguyễn Thị Việt Hòa và cs (2011), nghiên cứu tại một số xã của
tỉnh Bắc Giang từ 2005-2009 kết quả cho thấy: TLN KST chung là 55,2%,
trong đó giun đũa (43,1%), giun tóc (21,7%), giun móc (3,0%). TLN giun
giảm sau 3 lần điều trị từ 45,4% xuống còn 25,5% [19].
Theo Nguyễn Sơn (2011), TLN giun chung là 49,5-95,4%, trung bình
61,1%, trong đó: giun đũa (36,8-87,5%), giun tóc (4,0-35,5%), giun móc (2,9-
11,8%) [37].
Theo Nguyễn Võ Hinh và cs (2011), TLN giun chung của học sinh 27
trường tiểu học của tỉnh Thừa Thiên Huế (2005-2008) là 7,94%, trong đó:
giun đũa (2,55%), giun tóc (2,96%), giun móc (3,24%) [17].
Theo Nguyễn Trọng Phú và cs (2007), TLN giun chung là 91,0%, trong
đó TLN giun đũa là 66,3%, giun tóc là 63,9%, giun móc là 57,9% [33].
2.7. Tác hại của bệnh giun truyền qua đất
2.7.1. Tác hại của giun đũa
2.7.1.1. Tác hại gây ra do ấu trùng giun đũa
Trong giai đoạn chu du, AT giun đũa gây tổn thương những cơ quan, tổ
chức mà AT đi qua, biểu hiện rõ hơn cả là phổi với hội chứng Loeffler. Tại
đây, AT gây tổn thương phế nang, chảy máu đồng thời gây viêm, dị ứng…
làm cho người bị nhiễm AT giun có biểu hiện ho khan, đau ngực, bạch cầu ái
toan (BCAT) tăng cao trong máu.
Ở Việt Nam, Đặng Văn Ấn, Đỗ Dương Thái, Phạm Trí Tuệ đã NC
hội chứng này bằng thực nghiệm trên người tự nguyện và đi tới nhận định
rằng [41]:
- Nếu nhiễm AT giun đũa, hội chứng Loeffler nhất định sẽ xảy ra ngày
thứ 7 đến ngày thứ 10.
- Mức độ của hội chứng phụ thuộc vào cơ địa bệnh nhân, triệu chứng
rầm rộ trên những người có cơ địa dị ứng.

24
được 99% lượng vitamin A, sau khi tẩy giun cho các em, theo dõi khả năng
hấp thu vitamin A tăng lên rõ rệt. Kết quả này phù hợp với NC của
Tanumigardjo S.A và cs [83].
Để NC khả năng chiếm vitamin A của giun đũa, Mahalanabis tiến hành
NC trên 28 người nhiễm giun đũa, thấy nồng độ vitamin A trong máu ở mức
thấp hơn so với 10 người trứng (không nhiễm giun). Sau đó tẩy giun cho 14
người, theo dõi nồng độ vitamin A trong máu tăng lên rõ rệt [68].
Kết qủa NC của Carrera và cs thấy những người nhiễm giun đũa khả
năng tiêu hóa Lactose bị giảm sút [58].
Một NC cho thấy, mặc dù nhiễm giun đũa không dẫn đến giảm hấp thu
sắt nhưng nó đã ảnh hưởng đến hấp thu sắt ở những người có đồng thời thiếu
sắt [66].
NC trên những trẻ em nhiễm giun đũa, thấy TL thiếu máu của những trẻ
này là 12,3% hoặc 19,4% [23], [67].
Kết quả NC trên ruột lợn bị nhiễm giun Ascaris suum, dưới kính hiển vi
điện tử cho thấy:
- Có hiện tượng phì đại lớp cơ niêm mạc ruột non, hiện tượng sói mòn
nhu mô niêm mạc ruột, có sự xâm nhập của tế bào mastocyte, tế bào BCAT
và các tế bào đa sản cho các tổ chức tế bào ruột [62], [81].
- Các tổn thương không xảy ra trên toàn bộ bề mặt niêm mạc ruột, chỉ
thấy từng vùng niêm mạc ruột thay đổi, hình thái cao, thấp, phì đại, đặc biệt
xuất hiện các điểm như là tổn thương niêm mạc ruột [70].
Tác động cơ học của giun đũa gây ra những biến chứng nguy hiểm
thường do sự di chuyển của giun hoặc do búi giun cuộn vào nhau gây tắc ruột.
Sự di chuyển của giun do pH của ruột thay đổi, do thuốc làm giun bị kích
động, do người bị sốt cao, do ăn các chất kích thích (ớt, tỏi…).Theo một số
tác giả hiện tượng di chuyển của giun do nhiều giun hơn là trong trường hợp
chỉ có một con giun hoặc có nhiều loại giun [6], [57]. Sự di chuyển của giun
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status