1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các bệnh lý ngộ độc ở trẻ em thì ngộ độc chì đang là vấn đề
thời sự, được nhiều nước trên thế giới quan tâm, ở các nước phát triển cũng
như các nước đang phát triển. Bởi vì sự phổ biến và tính chất nguy hiểm
đối với tính mạng cũng như hậu quả lâu dài đối với sự phát triển tâm thần
và thể chất của trẻ em.
Chì là 1 nguyên tố có nhiều trong vỏ trái đất chiếm 0,002% trọng lượng
trái đất, dễ oxy hóa thành oxyt chì gây độc, chất này liên quan đến 150 nghề và
hơn 400 quá trình công nghệ sản xuất nhưng nó lại không có vai trò sinh lý đối
với cơ thể[27] (nồng độ chì máu cho phép < 5µg/dl, lý tưởng là 0µg/dl[22]).
Cùng với sự phát triển của công nghiệp thì sự ô nhiễm chì trong đất, trong nước
và trong không khí ngày càng lớn, cũng như các vật dụng có chứa chì ở xung
quanh trẻ em ngày càng gia tăng[27]. Ở Việt Nam có thói quen sử dụng thuốc
cam, thuốc tễ để điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ: tưa lưỡi, loét miệng,
biếng ăn Một số thuốc này bị làm giả, trong thành phần có nhiều kim loại nặng
như chì[1] nên trẻ em Việt nam có nguy cơ bị ngộ độc chì cao. Điển hình như
năm 2011- 2012, tại Trung tâm Chống độc- Bệnh viện Bạch Mai đã tiếp nhận
khám và tư vấn cho 2.550 trẻ em có uống thuốc cam ở 26 tỉnh thành phía Bắc có
753 trẻ em (chiếm tỉ lệ 29,5%) với nồng độ chì máu > 10µg/dl[16].
Ngộ độc chì gây tổn hại nặng nề đến sức khỏe con người, đặc biệt ở trẻ
em. Ngộ độc cấp tính, trẻ có thể bị hôn mê, co giật… thậm chí tử vong[27],
[31], [52]. Mạn tính ngộ độc chì làm trẻ biếng ăn, đau bụng, nôn kéo dài, gây
thiếu máu, chậm phát triển thể chất, chậm phát triển trí tuệ (mất khả năng học
tập và phục vụ)[33], [2] trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Ngộ độc
chì không chỉ ảnh hưởng đến tương lai mỗi đứa trẻ, hạnh phúc của mỗi gia đình mà
còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng.
2
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm của ngộ độc chì
1.1.1. Đặc điểm của ngộ độc chì
Chì là một kim loại màu xám rất dễ uốn, có thể dát thành những tấm
mỏng, điểm nóng chảy 327
0
C, sôi ở1740
0
C, từ 550
0
C chì bay hơi và biến
thành chì oxyt khi tiếp xúc với không khí[33].
Chì ở trạng thái không kết hợp thì không độc nhưng lại dễ chuyển trạng
thái oxy hóa biến thành chì oxyt gây độc[33], [27]. Con người sử dụng nước
đi qua đường ống dẫn bằng hợp chất chứa chì dễ bị ngộ độc chì[3].
Ngộ độc chì là tình trạng ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính do hít phải hơi
của chì hay do các hợp chất chì xâm nhập vào cơ thểqua đường tiêu hoá[38].
Ngộ độc chì ở người lớn thường là bệnh nghề nghiệp hoặc do tự tử. Ở trẻ
em, ngộ độc chì có thể mắc phải do môi trường bị nhiễm chì hay thói quen
sinh hoạt như:
Qua hô hấp: Hít phải các hạt bụi chì. Bụi chì được thải ra môi trường
do công nghiệp luyện chì và luyện kim loại[27], do sử dụng xăng pha chì
(năm 1973 tại Canada chì trong khí thải ôtô chiếm 73% tổng chất thải có
chứa chì trong môi trường[38]). Chì có ở trong sơn tường của các ngôi nhà, ở
Mỹ người ta thấy các ngôi nhà cũ được sơn từ năm 1976 có chứa chì, qua thời
gian sơn bị bong tróc trẻ em ăn phải hoặc hít phải bụi chứa chì[33]. Các hoạt
động có nguy cơ làm trẻ em bị ngộ độc chì cao như sơn, hàn, làm gốm, làm
đạn, pháo[27] hay là làm lưới chì (các ngư dân Việt Nam), tái chế ắc quy
(Văn Lâm, Hưng Yên)[1]. Trẻ em cũng có thể bị ngộ độc chì do hít phải bụi
ngày đến 2 năm tuổi chiếm 42% ngộ độc ở trẻ em cùng lứa tuổi[62]. Trẻ em
5
và phụ nữ có thai là các đối tượng có nguy cơ cao bị hấp thu chì. Ở trẻ em
mối quan hệ tay miệng là nguyên nhân chủ yếu của việc ăn phải bụi chì. Sự
hấp thu chì cũng có thể do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chì: 5-10% người lớn,
60% ở trẻ em[36].
Qua đường hô hấp, sự hấp thu chì phụ thuộc vào kích thước các hạt bụi
chì,hạt bụi càng nhỏ thì càng dễ hấp thu. Một lượng chì đáng kể được vận
chuyển từ các phế nang vào hệ tuần hoàn: 30-50% lượng chì trong phế nang,
và sau đó được hấp thu gần như hoàn toàn vào máu >90%[27].
1.1.2.2 Vận chuyển
Sau khi được hấp thu, 95% chì được cố định ở hồng cầu, 5% tồn tại
trong huyết tương. Dạng tồn tại trong huyết tương của chì quyết định sự
khuyếch tán đến các cơ quan khác như thận, não, xương[27], [33].
1.1.2.3 Phân phối
Sau khi hấp thu và vận chuyển trong máu, chì được phân phối đến 4
nhóm cơ quan sau, tùy theo thời gian bán thải- t/2 của chì tại đó:
Nhóm 1: Chì trao đổi rất nhanh:Các protein huyết tương, t/2 vài ngày[26], [47].
Nhóm 2: Chì trao đổi nhanh: Tại các mô mềm (thận, não, lách,gan, tủy
xương, hồng cầu…) t/2 khoảng 30 ngày[26], [47].
Nhóm 3: Thời gian t/2 trung bình: Cơ, xương xốp. Trong xương xốp, t/2
khoảng 2,4 năm theo nghiên cứu của Christofferson và cộng sự [26]
Nhóm 4: Thời gian t/2 dài: Xương đặc, răng,tóc, t/2 khoảng từ 9,5 năm[26] đến
27 năm trong xương chày- theo nghiên cứu của Nillsson và cộng sự[47].
1.1.2.4. Thải trừ[53]
Quá trình thải trừ chì diễn ra theo 3 pha tùy theo thời gian bán thải của chì
Pha 1: Thải trừ nhanh dạng chì không cố định trong huyết tương.
Pha2: Thải trừ chậm dạng chì cố định trong hồng cầu, não, các mô xốp.
Pha3: Thải trừ rất chậm với dạng chì tồn tại trong các cơ quan có t/2 rất
dẫn đến tổn thương màng hồng cầu làm tan máu gây tình trạng thiếu máu và
tăng hồng cầu lưới. 7
-
Ức chế các enzyme tổng hợp hemoglobine
Hình 1.1. Tác động của chì lên quá trình tổng hợp Hemoglobin
+ Chì gây ức chế sự hoạt động của enzyme ALAD (acide aminolevulinique
dehydratase), dẫn đến sự tăng đào thải ALA (acide aminolevulinique) qua nước tiểu.
+ Ức chế hoạt động của enzyme ferrochelatase làm tăng proto-
porphyrine và sắt trong máu. Protoporphyrine tự do sẽ kết hợp với kẽm tạo
thành protoporphyrine-kẽm (PPZ).
+ Ức chế enzyme decarboxylase tổng hợp coproporphyrine làm tăng đào
thải coproporphyrine trong nước tiểu và trong phân.
Thiếu máu do ngộ độc chì thì thường ở mức độ nhẹ hoặc trung bình.
Thiếu máu có thể là đẳng sắc hoặc nhược sắc với kích thước hồng cầu bình
thường, có thể kèm theo tăng nhẹ nồng độ ferritine máu hoặc không tăng.
Glycine
Succinyl- CoA
ALA
Porphobilinogen
Coproporphyrin
Protoporphyrin
Heme
ALA synthetase
Ferrochelatase
ALA dehydratase
9
điện cơ đo tốc độ dẫn truyền xung thần kinh). Tổn thương hay gặp nhất là
liệt giả tủy C7, liệt đối xứng hai bên, chọn lọc các nhóm cơ duỗi, không tổn
thương các nhóm cơ ngửa, dẫn đến hiện tượng bàn tay rủ. Tổn thương sợi
cảm giác thường kín đáo hơn.
1.1.3.4. Tổn thương thận[27],[33]
Chì gây tổn thương chức năng ống thận làm tăng đào thải N-
acetylglucosaminidase trong nước tiểu. Chì cũng gây thoái hóa các tế bào ống
lượn gần làm giảm sự tái hấp thu chọn lọc các microglobuline (retinol binding
protein, α-1-microglubuline, β-2-microglubuline), xét nghiệm thấy Microalbumin
niệu. Trong một vài trường hợp đặc biệt là ở trẻ em, người ta nhận thấy sự có
mặt của các aminoacid, glucose trong nước tiểu và giảm phospho máu đồng thời
thấy sự gia tăng chất này trong nước tiểu- biểu hiện hội chứng Toni-Debre-
Fanconi. Các tổn thương ống thận có thể hồi phục sau khi ngừng tiếp xúc với
chì. Suy thận có thể xảy ra sau 10 đến 30 năm tiếp xúc với chì.
1.1.3.5. Tổn thương gan
Gan đóng vai trò tích trữ và thải chì. Chì làm giảm hoạt động
cytochromP
450
. Trong trường hợp ngộ độc chì cấp gan có thể to nhẹ, các xét
nghiệm chức năng gan thay đổi không đáng kể[33].
1.1.3.6. Tổn thương tim mạch[33]
Chì tác động vào các kênh gây lên các biến đổi điện tim ở những bệnh
nhi ngộ độc chì: nhịp nhanh kịch phát trên thất, rối loạn nhịp, rối loạn dẫn
truyền. Trong trường hợp ngộ độc chì cấp, có hiện tượng tăng huyết áp vừa
phải kèm theo trong các cơn đau bụng chì.
10
Nồng độ chì
máu(µg/dL)
Khuyến cáo
I
<10
Không có tình trạng ngộ độc chì. Cần theo dõi
nồng độ chì máu của trẻ cho đến 6 tuổi nếu trẻ
trong nhóm nguy cơ.
II
10 – 24
Khám lâm sàng (tìm các dấu hiệu thiếu máu).
Kiểm soát môi trường. Giảm và loại bỏ các chì
phơi nhiễm. Theo dõi nồng độ chì máu 3-4
tháng/lần.
III
25 – 44
Nhập viện. Kiểm soát môi trường. Giảm, loại bỏ
nguồn chì phơi nhiễm.
IV
45 – 69
Nhập viện cấp cứu để được điều trị. Kiểm soát
môi trường. Giảm, loại bỏ nguồn chì phơi nhiễm.
V
≥ 70
Nhập viện cấp cứu. Kiểm soát môi trường. Giảm,
loại bỏ nguồn chì phơi nhiễm.
- Theo phác đồ BYT[2] chia ngộ độc chì ở trẻ em thành 3 mức độ.
Theo một thống kê khác tỷ lệ trung bình hàng năm của ngộ độc chì ở trẻ
em của Pháp là 5,9/100.000trẻ em/năm. Tỷ lệ phần trăm của trẻ em có nồng
độ chì trong máu ở trên ngưỡng 10µg/dl tăng từ 24,5% năm 1995 lên 8,5%
vào năm 2002[32].
Ở Việt Nam ngộ độc chì ở trẻ em đã và đang được quan tâm nhiều trong
mấy năm gần đây. Năm 1999, tác giả Lê Hồng Phong nghiên cứu 87 trẻ em 5
tuổi tại một số nhà trẻ thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Qua xét nghiệm nồng độ
13
chì trong các mẫu tóc thấy có tình trạng ngộ độc chì do tình trạng ô nhiễm môi
trường[15]. Theo tác giả Lỗ Văn Tùng (2011), nghiên cứu 109 trẻ em tại Đông
Mai, Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên (làng nghề sản xuất chì tái chế) có 100% trẻ
có nồng độ chì máu > 10µg/dl [1]. Từ cuối năm 2011 đến năm 2012, Trung tâm
Chống độc khám sàng lọc ngộ độc chì ở 2.550 trẻ em (có uống thuốc cam) thì có
753 trẻ em có nồng độ chì máu > 10µg/dl chiếm tỉ lệ 29,5%[16].
1.2. Điều trị ngộ độc chì
Tiêu chuẩn nhập viện[2]:
a, Ngộ độc trung bình và nặng (theo mức độ chì máu).
b, Hoặc diễn biến phức tạp cần theo dõi sát và thăm dò kỹ hơn.
1.2.1.Điều trị không đặc hiệu[2], [33]
- Điều trị triệu chứng:
+ Xử trí cấp cứu điều trị các triệu chứng: suy hô hấp, co giật, hôn mê,
tăng áp lực nội sọ,…theo phác đồ cấp cứu.
+ Dùng thuốc chống co giật đường uống nếu có sóng động kinh trên
điện não đồ.
+ Truyền máu nếu thiếu máu nặng.
+ Dùng thuốc chống co thắt nếu đau bụng.
- Điều trị để hạn chế hấp thu chì.
+ Xác định nguồn chì và ngừng phơi nhiễm.
+ Rửa dạ dày: Nếu mới uống hoặc nuốt chì dạng viên trong vòng 6h.
• BAL, EDTA: 3-5 ngày/đợt.
• Succimer: 19 ngày/đợt.
•D-penicillamin: 7– 30 ngày/đợt, theo dõi nếu không có tác dụng phụ thì
dùng tối đa 30 ngày/đợt, tạm ngừng hoặc giảm liều ngay khi có tác dụng phụ.
+ Khoảng thời gian nghỉ:
• Dùng BAL, EDTA: Sau đợt 1 nghỉ 2 ngày, sau đợt 2 nghỉ 5-7 ngày, các
đợt sau có thể dài hơn tùy theo nồng độ chì máu.
15
• Succimer: Thường nghỉ ít nhất 2 tuần trước khi dùng thuốc đợt tiếp theo.
• D-penicillamin: Bệnh nhi có triệu chứng nhẹ, nghỉ 10-14 ngày trước
khi bắt đầu đợt gắp tiếp theo, các đợt nghỉ 14 ngày.
1.3. Đặc điểm sử dụng D-penicillamin trong điều trị gắp chì ở trẻ em
1.3.1. D-penicillamin
Penicillamin là dimethylcystein có hai đồng phân D và L. Đồng phân L
đối kháng với Pyrodoxin (vitaminB6) gây độc với cơ thể nên y học chỉ sử
dụng đồng phân D (hình1.2)[58].
Hình 1.2: Cấu tạo D-penicillamin và phức Chì- D-penicillamin[30]
Từ năm 1953, D-penicillaminđãđược sử dụng trong điều trị: bệnh rối
loạn chuyển hoá đồng Wilson[61], bệnh cystein niệu, viêm khớp dạng thấp,
điều trị ngộ độc kim loại nặng, viêm gan mạn tiến triển. D-penicillamin tạo
cải thiện tình trạng thiếu máu[18], [45]. Thuốc được dùng đường uống. Sau khi
uống D-penicillamin hấp thụ khoảng 50-70%. Tác dụng của D-penicillmin có
hai pha, pha nhanh có nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương đạt khoảng 2
giờ sau khi uống, pha chậm có nồng độ đỉnh sau 4- 6 ngày (khi thuốc gắn vào
các mô sâu)[46]. Vì thế D-penicillamin không chỉ thải được chì ở máu, hồng
cầumà cả ở não, thận, gan và xương[34]. Ở trong máu khoảng 80% D-
penicillamin liên kết với protein huyết tương, gan là nơi chuyển hóa chủ yếu D-
penicillamin. Chỉ rất ít thuốc được đào thải dưới dạng không biến đổi và được
thải trừ qua nước tiểu[30].
Năm 1956, D-penicillaminđược sử dụng điều trị ngộ độc chì ở trẻ em đầu
tiên với nồng độ chì máu 25-40µg/dl[42]. Sau đó có nhiều nghiên cứu điều trị D-
penicillamin ở trẻ em ngộ độc chì nhưng chưa có nghiên cứu nào sử dụng thuốc
này ở nồng độ chì máu >70µg/dl hay trẻ em có bệnh não chì[25], [30].
Hiện nay, D-penicillamin được cơ quan kiểm tra thực phẩm và thuốc
Hoa Kỳ (Food and Drug Administration-FDA) khuyến cáo là thuốc được lựa
chọn thứ 3 (sau EDTA và Succimer) để điều trị ngộ độc chì ở trẻ em vì các
tác dụng không mong muốn của nó[22], [42]. Theo các nghiên cứu trước đây,
các tác dụng không mong muốn của D-penicillamin thường gặp: buồn nôn,
nôn[52]; tăng bạch cầu ưa acid[59]; giảm bạch cầu và tiểu cầu có hồi
phục[57]; ngứa, sẩn, mề đay, phù quinke, hen, đau bụng, đại tiểu tiện không
tự chủ, buộc bệnh nhi phải ngừng điều trị[24], [52]. Ít gặp các tổn thương với
thận protein niệu, tiểu máu vi thể[44], [57]. D-penicillamine cũng làm cơ thể
mất các chất dinh dưỡng cần thiết như pyridoxine (vitamin B
6
), kẽm, sắt,
17
đồng, canxi và một số các chất vi lượng khác. Hơn nữa, hiệu quả điều trị của
thuốc bịảnhhưởng nhiều bởi chế độ ăn uống: thức ăn có sắt, canxi, chất kháng
acid làm giảm hấp thu khoảng 35% lượng thuốc uống, chế độ ăn, uống ít nước
thuốc gắp chì khác, điều trị ở trẻ em có nồng độ chì máu < 70 µg/dl. Liều
khởi đầu từ 20- 25mg/kg/ngày, tăng dần trong 2 tuần (bảng 1.2).
Tại Trung tâm Chống độc, cuối năm 2011 và đầu năm 2012, đã khám
và điều trị cho nhiều bệnh nhi ngộ độc chì đa số do uống thuốc cam. Trong
điều kiện không có thuốc gắp chì khác nên D-penicillamin được chọn điều trị.
Khi điều trị D-penicillaminliều 30mg/kg/ngày cho 5 trẻ em đầu tiên đã gặp 2
trẻ bị hạ bạch cầu. Trung tâm Chống độc giảm liều điều trị D-penicillamin
20mg/kg/ngày có 1 bệnh nhi bị giảm bạch cầu. Cũng trong thời gian này,
Trung tâm Chống độc có tiếp nhận một số bệnh nhi ngộ độc chì từ Bệnh viện
Nhi Trung ương chuyển sang có dùng D-penicillamin liều 10mg/kg/ngày,
nhưng hiệu quả gắp chì thấp. Nên Trung tâm Chống độc lựa chọn liều D-
penicillamin 15mg/kg/ngày để điều trị gắp chì.
19
Bảng 1.1: Các nghiên cứu điều trị ngộ độc chì ở trẻ em bằng
D-penicillamin
Tác giả
Đối tượng nghiên cứu
Kết quả
ShannonMG
(2000)[55].
Nghiên cứu hồi
cứu
N= 55 trẻ em, tuổi
trung bình: 37,4 ± 24,6
(tháng), (từ 1- 15tuổi),
Nồng độ chì máu trung
cứu có đối
chứng. [57]
N=84 trẻ, tuổi trung
bình 3 tuổi (từ 1-
15tuổi), nồng độ chì
máu từ 25-40µg/dl,
dùng liều từ 25-
30mg/kg/ngày (trung
bình 27,5mg/kg/ngày).
Sau 76 ngày, chì máu giảm 33%
(p<0,0001). Có 17trường hợp chì
máu không giảm (20,2%). Có 28
trường hợp gặp tác dụng không
mong muốn: 8 giảm bạch cầu, 7
nổi ban dị ứng, 7hạ tiểu cầu, 3 tăng
ure máu, 2 đau bụng.
20
Bảng 1.1: Các nghiên cứu điều trị ngộ độc chì ở trẻ em bằng
D-penicillamin
Tác giả
Đối tƣợng nghiên cứu
Kết quả
Marcus
SM(1982)[44]
N=67 trẻ em, nồng độ
chì máu 40-60mg/dl.
Liều điều trị là
30mg/kg/ngày
chảy, tiểu máu vi thể, sốt, tăng
bạch cầu ưa acid.
Không thấy báo cáo về nồng độ chì
niệu. 21
Bảng 1.2: Cách sử dụng D-penicillamin theo hướng dẫn của Bộ Y tế [2]
Nồng độ
chì máu
(µg/dl)
Liều dùng
Cách dùng
Chì máu
45 – 70
Hoặc (hiếm khi):
D-penicillamin:
25-35mg/kg/ngày, bắt đầu
liều nhỏ hơn 25% liều này,
sau 2 tuần tăng về liều
trung bình.
- Liều trong ngày chia thành các
liều nhỏ, uống xa bữa ăn.
- Nếu không có chỉ định gắp nhanh
chóng thì chỉ nên dùng trong 1
tháng, sau đó tạm nghỉ ít nhất 2 tuần
D-penicillamin dễ bị giảm hấp thu khi gặp một số các thức ăn chứa
sắt, canxi, kẽm đồng và các thuốc kháng acid[49]. Nên thời điểm uống
thuốc D-penicillamin là rất quan trọng. Thời điểm dùng thuốc tốt nhất là
lúc dạ dày rỗng, trước khi ăn 1 giờ hoặc sau khi ăn 2 giờ đồng hồ, pha với
nước, nước hoa quả, không pha với sữa hay các thức uống có chứa: sắt,
canxi và yếu tố vi lượng[49].
Bệnh nhi ngộ độc chì mãn tính thường có các triệu chứng nhẹ cân,
chậm phát triển chiều cao, thiếu máu thiếu sắt, táo bón nên vấn đề dinh dưỡng
rất quan trọng nhất là các trẻ từ 1-6 tuổi. Theo các nghiên cứu khi điều trị cho
trẻ ngộ độc chì thì việc bổ sung sắt, kẽm, đồng, canxi là rất cần thiết.
Sắt: Là chất quan trọng trong cấu tạo hồng cầu[8]. Trẻ em ngộ độc chì
thường bị thiếu máu thiếu sắt[50]. Mặt khác, việc điều trị D-penicillamin sẽ
thải mất một phần sắt ra nước tiểu[46], [61]. Vì vậy cần thiết phải bổ sung sắt
trong quá trình điều trị, bổ sung sắt có thể qua thức ăn hoặc qua thuốc uống.
Các thực phẩm chứa nhiều sắt như: gan, trứng, thịt có màu đỏ, thịt bò, thịt
lợn, cá ngừ. Các rau có màu xanh cũng có hàm lượng sắt cao. Trẻ cũng có thể
được bổ sung qua các chế phẩm sắt có hóa trị 2 (ferrous iron) như sulfat sắt,
gluconat sắt, ascorbat sắt, lactat sắt, succinat sắt, fumarat sắt. Lượng sắt cần bổ
sung hàng ngày cho trẻ là 4- 6mg/kg/ ngày[8], [31]. Để trẻ dễ hấp thu sắt thì các
chế phẩm này được uống xa thuốc D-penicillamin và trẻ cần được cung cấp
thêm các thức ăn có giàu vitamin C (chanh, cà chua, khoai tây)[31].
D-penicillamin cũng làm giảm hàm lượng canxi máu do thuốc có khả năng
tạo phức với kim loại hóa trị 2, nên làm mất canxi qua nước tiểu [46]. Vì vậy việc
bổ sung thêm canxi là rất quan trọng. Nhu cầu canxi của trẻ em là khác nhau giữa
các lứa tuổi Nhu cầu hàng ngày: trẻ< 1tuổi (300- 500mg), trẻ em từ 1- 10tuổi
(500- 700mg),trẻ em > 10tuổi (> 1000mg). Các thực phẩm có giầu canxi như:sữa,
23
trứng, phomát, tôm, cua, hải sản, lá rau có màu xanh đậm. Cơ thể trẻ hấp thu và sử
dụng canxi tốt trẻ em nên được tắm nắng 15- 30 phút một ngày để cơ thể tạo ra
Dimercaptol sẽ kết hợp với chì để tạo thành phức (hình 1.3). Sau đó, phức chì
H
C
S
H
C
S
Pb
H
C
H
OH
H
CH
2
BAL
OH
SH
SH
CH
2
CH
Pb- BAL
24
này được thải ra qua mật và nước tiểu[33], [58] sau 8 giờ điều trị. Thuốc được
hòa tan trong lipid nên dễ dàng vào các mô như: gan, não, thận, tim, hồng
cầu. Vì thế, Dimercaprol được chỉ định điều trị trong các bệnh não do chì
(nồng độ chì máu >70µg/dl và dùng kết hợp với EDTA)[51]. Theo báo cáo
của tác giả Mortensen ME (1993): Trẻ em ngộ độc chì sau khi điều trị bằng
CH
2
N
CH
2
CH
2
CH
2
CH
2
N
Pb
CH
2
COO
CH
2
COO
CH
2
NaOOC
CH
2
CH
2
N
CH
2
CH
được chuyển hóa và thải qua phân, 90% lượng EDTAđược thải ra nước tiểu
sau 8 giờ điều trị[58], [33].Tuy nhiên, thuốc này có nhiều bất lợi thường gặp:
Một là EDTA có thể gây ra sự phân bố lại chì từ xương đến não và mô mềm
khác như gan, thận, tim… Do đó, EDTA làm tăng nguy cơ gây bệnh não do
chì và gây ra độc tính như: trên tim mạch (sóng T đảo ngược, nhịp tim không
đều, hạ huyết áp), tổn thương thận hoại tử ống lượn gần, đái máu, protein
niệu, đường niệu, suy thận cấp, độc tính với thận phụ thuộc liều), tổn thương
gan (tăng nhẹ AST, ALT) [58], [29]. Hai là thuốc không qua được hàng rào
máu- não nên người ta nghi ngờ hiệu quả của trong việc thải trong não để làm
giảm những ảnh hưởng tác động của chì lên hệ thần kinh sự phát triển trí tuệ
của trẻ[54]. Ba là thuốc tạo phức với chì và cả kim loại hóa trị 2, 3 khác rồi
tăng đào thải chúng qua nước tiểu nên làm cơ thể thiếu các yếu tố vi lượng
cần thiết khác như: kẽm, đồng, sắt, coban và mangan[22], [23]. Một bất lợi
khác của điều trị EDTA là chi phí cao, bệnh nhi cần phải được nhập viện để
tiêm truyền. Phác đồ điều trị lâu này có thể dẫn đến tổng chi phí 30.000 USD
cho một bệnh nhi[22]. Xử trí các tác dụng không mong muốn: Bệnh nhi được
dùng liều thấp nhất có hiệu quả, khi truyền thuốc theo dõi điện tim và huyết
áp, theo dõi số lượng nước tiểu của bệnh nhi hằng ngày, làm xét nghiệm tổng