Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Mục lục
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Lời nói đầu
Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hoá,Việt Nam sau khi tổ
chức thành công hội nghị APEC đã chính thức ra nhập WTO đưa nền kinh tế
đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong đó có sự phát triển không
ngừng của du lịch. Ngành du lịch đóng một vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Đến nay trung bình mỗi năm ngành du lịch đã đón hơn 10
triệu lượt khách trong nước và hơn 4 triệu lượt khách quốc tế. Du lịch nước ta
ngày càng phát triển , đăc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn. Hệ
thống khách sạn với số lượng lớn đã tạo ra diện mạo mới cho kiến trúc cảnh
quan đô thị.Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển này sự bộc lộ ra những hạn
chế là điều không thể tránh khỏi .Kinh doanh khách sạn cũng không nằm
ngoài xu hướng trên. Vượt xa mức cầu, cung về khách sạn đã phát triển với
tốc độ kỉ lục (16% - 18% ) thị trường cung ứng dịch vụ lưu trú đã trở nên sôi
động khi có sự tham gia của hàng loạt các khách sạn dưới nhiều hình thức .
Song cũng chính điều này đã buộc các doanh nghiệp khách sạn phải đối mặt
với tình trạng gay gắt. Để tồn tại và phát triển trong thị trường “nóng” này các
doanh nghiệp khách sạn cần thiêt phải có các biện pháp hữu hiệu nhằm thúc
đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả .Và một biện pháp đã đem lại sự thành
công cho không ít khách sạn đó là công tác quản trị nhân lực trong khách sạn.
Từ nhận định trên em quyết định chọn đề tài “Đào tạo nhân lực trong
các khách sạn tại Việt Nam’’ làm đề án môn học với mục đích tìm hiểu rõ
thực trạng đào tạo nhân lực trong các khách sạn tại Việt Nam và tìm hiểu các
biện pháp đào tạo, phân bổ để có cơ cấu lao động hợp lý, quyền lợi của người
lao động được đảm bảo nhằm phát huy khả năng của người lao động trong
sản xuất đem lại hiệu quả kinh doanh trong toàn khách sạn.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
1
du lịch”.
1.1.1.2. Khái niệm kinh doanh khách sạn
“Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp
các dịch vụ lưu trú , ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng
các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có
lãi”. (Giáo trình “Quản trị kinh doanh khách sạn” – trường Đại học Kinh tế
quốc dân).
Như vậy , bản chất của kinh doanh khách sạn là:
Kinh doanh dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung
kèm theo , hoạt động này nhằm sản xuất, bán, trao đổi và phục vụ cho việc ăn
uống của khách tại khách sạn.
Kinh doanh dịch vụ bổ sung là kinh doanh các dịch vụ giải trí , các dịch
vụ khác theo thứ hạng của khách sạn và theo bộ tiêu chuẩn quốc gia về phân
hạng cơ sở lưu trú du lịch của Tổng cục du lịch Việt Nam.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
3
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Hoạt động kinh doanh của các loại hình cơ sở lưu trú gọi chung là
khách sạn nhằm cung cấp các tiện nghi lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi
giải trí, cung cấp mọi thông tin và các phương tiện đi lại cho khác…
1.1.1.3. Vai trò, vị trícủa việc kinh doanh khách sạn
Vai trò của ngành kinh doanh khách sạn là điều kiện không thể thiếu để
đảm bảo cho du lịch tồn tại và phát triển, khách sạn là nơi dừng chân của
khách trong hành trình du lịch của họ. Khách sạn cung cấp cho khách những
nhu cầu thiết yếu (ăn uống, nghỉ ngơi…) và những nhu cầu vui chơi giải trí
khác. Kinh doanh khách sạn tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa ngành
du lịch phát triển, tạo công ăn việc làm trong ngành, tạo nguồn thu ngoại tệ
lớn cho ngành, là cầu nối giữa ngành du lịch với các ngành khác. Kinh doanh
khách sạn vì mục tiêu thu hút được nhiều khách du lịch, thoả mãn nhu cầu của
khách du lịch ở mức độ cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho ngành du lịch, cho
1.1.1.5. Các loại hình dịch vụ trong khách sạn
Hầu hết các sản phẩm trong khách sạn đều là dịch vụ. Nó được phân
chia làm 2 loại dịch vụ chính và dịch vụ bổ sung.
- Dịch vụ chính
Là những dịch vụ không thể thiếu được trong kinh doanh khách sạn và
trong mỗi chuyến đi của du khách. Nó bao gồm dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn
uống. Các dịch vụ này đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của con người đó là
ăn và ngủ. Đối với khách sạn thì nó đem lại nguồn doanh thu chính và giữ vị
trí quan trọng nhất trong các loại hình kinh doanh của khách sạn. Song yếu tố
để tạo nên sự độc đáo trong sản phẩm khách sạn lại là ở sự đa dạng và độc
đáo của dịch vụ bổ sung
- Dịch vụ bổ sung
Là những dịch vụ đưa ra nhằm thoả mãn nhu cầu đặc trưng và bổ sung
của khách, là những dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu lại của khách
ở khách sạn cũng như làm phát triển mức độ phong phú và sức hấp dẫn của
chương trình du lịch.
Thông thường trong khách sạn có những thể loại: dịch vụ văn hoá, dịch
vụ thể thao, dịch vụ thông tin và văn phòng, dịch vụ y tế, dịch vụ hàng lưu
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
5
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
niệm …dịch vụ bổ xung tạo cho khách cảm giác không nhàm chán, thú vị khi
lưu lại khách sạn, đây là một biện pháp nhằm kéo dài thời gian khách lưu lại
tại khách sạn
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn
Kinh doanh khách sạn là ngành kinh doanh dịch vụ, sản phẩm tạo ra
chủ yếu phải có sự tiếp xúc giữa con người với con người, nên nó có những
đặc điểm riêng biệt.
Kinh doanh khách sạn chịu sự phụ thuộc bởi tài nguyên du lịch. Vì
khách sạn là nơi cư trú tạm thời, là điểm dừng chân của khách, số lượng
Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh doanh du lịch thì lao động có những đặc
thù riêng:
- Lao động trong kinh doanh du lịch bao gồm hoạt động sản xuất vật
chất và phi vật chất. Mà hoạt động chiếm tỉ trọng lớn là sản xuất phi vật chất
(lao động chủ yếu tạo ra sản phẩm là dịch vụ, các điều kiện thuận lợi cho
khách tiêu thụ sản phẩm)
- Lao động trong du lịch có tính chuyên môn hoá cao nó thể hiện ở
việc tổ chức thành các bộ phận chức năng, trong mỗi bộ phận thì nó lại được
chuyên môn hoá sâu hơn. Do thời gian lao động phụ thuộc vào thời gian, đặc
điểm tiêu dùng của khách (không hạn chế về mặt thời gian), vì vậy lao động
phải phân thành nhiều ca để đảm bảo cho chất lượng dịch vụ và sức khoẻ của
lao động .
- Cường độ lao động cao nhưng phân bố không đều do đặc điểm tiêu
dùng của khách du lịch là khác nhau nên lao động phải chịu một áp lực tâm lý
lớn đặc biệt là lao động nữ.
- Lao động được sử dụng không cân đối trong và ngoài thời vụ.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
7
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
1.2.1.2. Đặc điểm về cơ cấu lao động
Lao động trong du lịch là tổng hợp của lao động nhiều ngành nghề khác
nhau, trong đó lao động nghiệp vụ trong khách sạn chiếm tỉ trọng tương đối
lớn.
Lao động trong du lịch đa số là lao động trẻ và không đồng đều theo
lĩnh vực: Độ tuổi trung bình từ 30-40 tuổi. Trong đó lao động nữ có độ tuổi
trung bình từ 20-35, nam từ 30-45 tuổi.
Độ tuổi của lao động thay đổi theo từng bộ phận, bộ phận đòi hỏi mức
tuổi thấp như ở lễ tân, bar, bàn. Nhưng bộ phận quản lý lại có độ tuổi cao hơn.
Trình độ văn hoá của lao động trong du lịch cũng chênh lệch và khác
nhau theo cơ cấu nhưng có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, trình độ ngoại
khách sạn cũng mang những nét đặc thù.
- Đội ngũ lao động trong khách sạn chủ yếu là lao động trực tiếp.
Kinh doanh khách sạn là ngành kinh doanh - dịch vụ. Có nghĩa là
sản phẩm du lịch chỉ có thể là sản phẩm hoàn chỉnh khi có sự tham gia tính
trực tiếp của đội ngũ nhân viên trong khách sạn. Điều này được thể hiện qua
sự tiếp xúc trực tiếp giữa người tiêu dùng và nhân viên. Như vậy sản phẩm dù
có thế nào đi chăng nữa thì cũng không tự nó cung cấp cho người tiêu dùng
một sự thoả mãn nếu không có sự phục vụ trực tiếp của con người với tư cách
là người phục vụ.
- Khả năng cơ giới hoá, tự động hoá thấp trong quá trình sử dụng lao
động.
Kinh doanh khách sạn nhằm đáp ứng của khách du lịch mà nhu cầu
trong du lịch mang tính chất tổng hợp và đồng bộ. Điều này có nghĩa là nhu
cầu du lịch rất đa dạng và phong phú. Khách không chỉ đòi hỏi đáp ứng nhu
cầu cơ bản mà còn là nhu cầu đặc trưng, nhu cầu bổ sung, trong mỗi nhu cầu
lại có sự khác nhau tuỳ vào đặc trưng từng khách. Do vậy khách sạn không
thể đưa ra cùng một phương thức phục vụ với mọi đối tượng khách, hay nói
cách khác, người ta sẽ không chấp nhận trong cùng một thời gian, một địa
điểm khách sạn cung ứng những sản phẩm có tính chất hàng loạt và đồng
nhất. Như vậy, sản phẩm của khách sạn phải là sản phẩm có tính chất tổng
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
9
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
hợp và đa dạng mà các phương tiện máy móc nhiều khi rất khó để sản xuất.
Chính vì thế mà khả năng cơ giới hoá, tự động hoá trong công việc trong
khách sạn là rất thấp.
- Thời gian lao động phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của khách.
Đặc điểm này là do giờ làm việc thường bị đứt đoạn và tương ứng
với thời gian đến và đi của khách. Ngày làm việc trong khách sạn thường kéo
dài 24/24 và người lao động phải làm việc cả trong các ngày chủ nhật, ngày lễ
- Hệ số luân chuyển lao động lớn.
Lao động trong khách sạn có độ tuổi tương đối trẻ (trung bình từ 26 -
40) đặc biệt là các bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách, như bộ phận lễ tân,
bộ phận nhà hàng, bar độ tuổi trung bình rất trẻ (từ 26 - 30). Chính đặc điểm
này đã tạo ra hệ số luân chuyển cao. Ngoài ra bộ phận có độ tuổi trung bình
cao là bộ phận quản lý từ 40 - 50 tuổi.
Qua đó có thể thấy tổ chức lao động trong khách sạn phụ thuộc vào tính
thời vụ, độ tuổi và giới tính nên nó có tính luân chuyển trong công việc, khi
một bộ phận có yêu cầu lao động trẻ mà hiện tại nhân viên của bộ phận là có
độ tuổi cao, vậy phải chuyển họ sang một bộ phận khác một cách phù hợp và
có hiệu quả. Đó cũng là một trong những vấn đề mà các nhà quản lý nhân sự
của khách sạn cần quan tâm và giải quyết
1.3. Đào tạo nhân lực trong khách sạn
1.3.1. Một số khái niệm
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi người, gồm có thể lực và trí
lực. Như vậy, nhân lực có thể hiểu là yếu tố lao động sống. Ta biết rằng trong
sản xuất kinh doanh việc tận dụng thể lực của con người là không bao giê
thiếu hoặc lãng quên, còn khai thác các tiềm năng về trí lực của con người
cũng được chú ý, nhưng còn ở mức mới mẻ chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là
kho tàng còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người. Từ khái niệm về nhân lực thì ta
có thể hiểu nhân lực trong khách sạn là tập hợp nguồn lực của toàn bộ đội ngù
cán bộ nhân viên trong khách sạn.
Đào tạo là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực tốt của tổ chức, là điểu kiện để quyết định để tổ chức có thể đứng vững
thắng lợi trong môi trường cạnh tranh trong các tổ chức, công tác đào tạo và
phát triển cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
11
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Đào tạo nhân lực là nhằm trang bị những kỹ năng và kiến thức cần thiết
tranh trước các đối thủ.
- Nhân viên được phát triển về năng lực và năng suất trong tương lai
sẽ được tăng cường đồng thời với khả năng tự giải quyết khó khăn của họ
được nâng cao.
- Để chuẩn bị cho những người lao động thực hiện được những trách
nhiệm và nhiệm vụ mới do có sự thay đổi trong mục tiêu: cơ cấu, thay đổi về
luật pháp, chính sách và kỹ thuật công nghệ mới tạo ra.
- Để hoàn thiện khả năng người lao động (nhiệm vụ hiện tại cũng như
nhiệm vụ tương lai một cách có hiệu quả).
1.3.3. Vai trò của đào tạo nhân lực
Đào tạo và phát triến nhân lực được xem là yếu tố cơ bản nhằm thực
hiện các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực
khách sạn không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với người lao động mà còn có vai
trò quan trọng đối với doanh nghiệp và xã hội.
- Đối với người lao động: Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực tạo ra sự gắn
bó giữa người lao động và khách sạn, giúp người lao động thực hiện công
việc tốt hơn. Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng
của người lao động, tạo sự chuyên nghiêp, tư duy mới và gắn bó người lao
động với khách sạn.
- Đối với nhân viên mới: quá trình đào tạo lần đầu cung cấp cho họ
thông tin cần thiết về khách sạn, về công việc họ sẽ đảm nhận, giúp họ giải
quyết những khó khăn và nhanh chóng hội nhập với môi trường làm việc.
Đối với nhân viên đang làm việc tại khách sạn quá trình đào tạo và
bồi dưỡng giúp họ phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tạo tiền đề
cho việc nâng cao năng suất chất lượng lao động, giúp người lao động tự tin
hơn, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
13
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Đối với các nhà quản trị khách sạn, bồi dưỡng nhân lực giúp giúp họ
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
- Đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên khách
sạn tập trung chủ yếu về các kiến thức về ngành kinh doanh khách sạn, bồi
dưỡng các kỹ năng nghiệp vụ cho nhân viên lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp. Bên
cạnh đó phải quan tâm bồi dưỡng kinh nghiệm và phẩm chất nghề nghiệp cho
nhân viên. Đối với các nhà quản trị thì chú trọng phát triển kỹ năng nhân sự,
kỹ năng tư duy toàn cục, kỹ năng truyền thông…. Việc đào tạo và bồi dưỡng
kỹ năng chuyên môn giúp người lao động trau dồi những kỹ năng cần thiết để
đạt hiệu quả cao trong công việc.
- Đào tạo và bồi dưỡng chính trị, lý luận bao gồm: các nghị quyết,
chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước; các văn bản có liên quan đến hoạt
động kinh doanh khách sạn; các học thuyết về kinh tế, quản trị, kinh doanh
khách sạn; các quy luật kinh tế, tự nhiên, xã hội… Đào tạo và bồi dưỡng
chính trị, lý luận giúp người lao động có tư tưởng chính trị vững vàng, có
quan điểm quản trị kinh doanh đúng đắn, trong sáng về đạo đức, trung thực
trong kinh doanh, thực hiện tốt các trách nhiệm xã hội.
- Đào tạo và bồi dưỡng văn hóa doanh nghiệp giúp người lao động
hiểu và nhận thức đúng đắn về tổ chức mình, từ đó thích ứng với môi trường
làm việc, tạo sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanh nghiệp và sự gắn bó
giữa người lao động với khách sạn. Đào tạo và bồi dưỡng văn hóa doanh
nghiệp tập trung vào các giá trị, quan điểm chung, lối ứng xử, truyền thống,
thói quen, cách ứng xử, giải quyết các mối quan hệ, các quy định, quy tắc nội
bộ…
- Đào tạo và bồi dưỡng phương pháp công tác như phương pháp tiến
hành công việc, phương pháp sắp xếp, bố trí thời gian hợp lý, phương pháp
phối hợp công việc với các bộ phận và cá nhân có liên quan nhằm tạo sự
thông suốt trong quá trình làm việc cho người lao động.
- Đào tạo và bồi dưỡng các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp ứng
xử, ngoại ngữ, tin học…
- Ngoài các nội dung đào tạo và bồi dưỡng trên thì người lao động
trực tiếp người lao động
Đào tạo từ xa: Là hình thức đào tạo được thực hiện trên các phương
tiện thông tin như vô tuyến, đài phát thanh, ấn phẩm báo, tạp chí…
Đào tạo qua mạng Internet: là hình thức đào tạo mà các khóa học
được thực hiện qua mạng Internet, nội dung được các chuyên gia đưa lên
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
16
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
website của khách sạn để người tham gia đào tạo và bồi dưỡng nghiên cứu,
học hỏi.
Ngoài ra còn rất nhiều các hình thức đào tạo khác, tuỳ thuộc vào các
mức độ khác nhau về nhận thức hay tuỳ thuộc vào địa lý từng vùng mà có
phương pháp đào tạo trực tiếp hay gián tiếp.
1.3.4.3. Phương pháp đào tạo
∗ Đào tạo trong công việc
Đào tạo trong công việc là phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm
việc, trong đó người học sẽ học được những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho
công việc thông qua thực tế công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của
những người lao động lành nghề hơn.
Nhóm này bao gồm những phương pháp như:
- Đào tạo theo chỉ dẫn công việc
Đây là phương pháp phổ biến dùng để dạy các kĩ năng thực hiện
công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả 1 số công việc quản lý.
Quá trình đào tạo bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải thích của người dạy về cái
mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước về cách quan sát, trao
đổi, học tập và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng dẫn và chỉ dẫn
chặt chẽ của người dạy.
- Đào tạo theo kiểu học nghề
Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bắt đầu bằng việc học
lý thuyết trên lớp sau đó các học viên được đưa đến làm việc dưới sự hướng
nghiệp tương lai của họ và bắt chước những hành vi lao động của những
người đồng nghiệp.
Nhược điểm của phương pháp đào tạo trong công việc.
o Lý thuyết trang bị không có hệ thống.
o Học viên có thể bắt chước những kinh nghiệm, thao tác không tiên
tiến của người dạy.
Các điều kiện để đào tạo trong công việc có hiệu quả là:
o Các giáo viên dạy nghề phải được lựa chọn cẩn thận và phải đáo ứng
những yêu cầu chương trình đào tạo về trình độ chuyên môn, mức độ thành
thạo công việc và khả năng truyền thụ.
o Quá trình đào tạo phải được tổ chức chặt chẽ và có kế hoạch.
∗ Đào tạo ngoài công việc
Đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học
được tách khỏi công việc thực tế.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
18
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Đào tạo ngoài công việc có 5 phương pháp:
- Mở các lớp học cạnh doanh nghiệp
Là việc doanh nghiệp mở các lớp học đào tạo với các phương tiện và
thiết bị dành riêng cho học tập
Ưu điểm: đào tạo có hệ thống, đáp ứng được yêu cầu cụ thể của doanh
nghiệp.
Nhược điểm: chi phí lớn do phải có những trang thiết bị riêng cho học
tập.
- Gửi đi học ở các trường chính quy
Là việc doanh nghiệp cử NLĐ đến học tập trung ở các trường dạy nghề
hoặc quản lý do các Bộ, Ngành, hoặc Trung ương tổ chức. NLĐ được học các
chuyên ngành cụ thể, được trang bị kiến thức, lý thuyết, vấn đề thực tiễn. Kết
thúc khóa học họ sẽ được nhận bằng, chứng chỉ.
sẵn.
- Phương pháp học từ xa
Là phương pháp mà người học và người dạy không trược tiếp gặp nhau
tại một địa điểm, cùng một thời gian mà thông qua nhưng tài liệu trung gian
có thể là internet, phần mềm đào tạo…
Ưu điểm:
Cung cấp cho học viên một lượng lớn thông tin trong nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
20
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
Các thông tin cung cấp cập nhật và lớn về mặt số lượng.
Người học chủ động trong bố trí kế hoạch học tập.
Đáp ứng được nhu cầu học tập của các học viên ở xa trung tâm đào
tạo.
Nhược điểm:
Chi phí cao.
Đầu tư cho việc chuẩn bị bài giảng rất lớn.
Thiếu sự trao đổi trực tiếp giữa học viên cà giáo viên
1.3.4.4. Thời gian đào tạo
- Đào tạo ngắn hạn: Là đào tạo trong một thời gian ngắn về một
nghiệp vụ nào đó, thông thường chương trình đào tạo đơn giản, ngắn, đi sâu
vào các thao tác, kỹ năng, kỹ xảo về một nghiệp vụ nào đó. Mục đích của
chương trình đào tạo này nhằm có thể sử dụng ngay nguồn nhân lực, đáp ứng
ngay được nhu cầu về nhân lực của khách sạn.
- Đào tạo dài hạn: Là đào tạo trong một thời gian dài, thông thường từ
2 năm trở lên, học viên được học theo một chương trình cơ bản. Chương trình
đào tạo này đa phần là giành cho các nhà quản lý hay nhân viên kỹ thuật cao,
làm việc trong những bộ phận cần có trình độ cao.
1.3.5. Ý nghĩa của đào tạo nhân lực
một chiến lược lâu dài của khách sạn, ngay từ khi ra đời khách sạn cần phải
chú trọng đến việc này, việc đào tạo này góp phần làm tăng hiệu quả kinh
doanh của khách sạn. Đưa các nhân viên đi học các khoá chuyên sâu về
nghiệp vụ của mình tuy tốn kém trước mắt nhưng về lâu dài là rất có lợi, đây
là nguồn đầu tư lâu dài của khách sạn. Công tác đào tạo và phát triển đội ngũ
lao động là một hình thức khuyến khích nhân viên, kích thích nhân viên nỗ
lực cho công việc và đó là cơ hội cho mọi người có thể được đề bạt lên những
chức vụ cao hơn.
Về hình thức thì đối với các phòng ban khác nhau thì khách sạn tổ chức
những loại hình khác nhau: về nghiệp vụ chuyên môn đối với những cán bộ
quản lý thì khách sạn cho những người này theo học các lớp như học tại chức
buổi tối, học các khoá nghiệp vụ ngắn ngày do Sở du lịch tại địa phương tổ chức
hoặc Tỉnh tổ chức để huấn luyện nâng cao kiến thức. Về ngoại ngữ khách sạn
cần thường xuyên mời giáo viên về giảng dạy cho toàn bộ nhân viên trong khách
sạn, mọi người đều phải đi học. Về nghiệp vụ cho các bộ phận lao động trực tiếp
thì khách sạn mời các chuyên gia, những người có tay nghề cao hoặc có các
khoá học do các thầy cô giáo của các trường dạy nghề về để giảng cho nhân viên
những kỹ thuật cơ bản hay bổ sung những kiến thức mới cho nhân viên.
Để thúc đẩy mọi người theo học thì sau mỗi khoá học thì việc bình chọn
những người xuất sắc nâng lương cho họ, đề bạt lên những vị trí cao hơn.
Nguyễn Hải Ngọc Thanh Lớp: QTKD Tổng hợp 53B
23
Đề án môn học GVHD: TS. Vũ Trọng Nghĩa
2.2. Nghiên cứu thực tếvề đào tạo nhân lực trong các
khách sạn tại Việt Nam
2.2.1. Khách sạn Mường Thanh – Linh Đàm, Hà Nội
Khách sạn Mường Thanh có diện tích 4300m
2
gồm một toà nhà cao 20
tầng với 168 phòng nghỉ rộng rãi và thanh lịch ,phòng tổ chức họp báo và dạ