1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG LỰC, VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN - Pdf 22

Môn: QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ XÃ HỘI
GVHD: Trần Trọng Đức
CHUYÊN ĐỀ 2: NHÀ NƯỚC – CHỦ THỂ QUẢN LÍ XÃ HỘI
NHÓM 2:
- Huỳnh Thị Ái Hậu
- Đinh Xuân Hiến
- Nguyễn Trung Hiếu
- Lê Quang Hoàng
- Nguyễn Thị Trúc Hoài
- Đặng Thị Thanh Huyền
- Ngư Thanh Huyện
- Nguyễn Ngọc Khánh
- Nguyễn Thị Mỹ Lệ
- Ngô Thị Trúc Ly
- Nguyễn Hữu Mạnh
- Bùi Thị Trúc My
- Nguyễn Thị Lệ My
- Nguyễn Văn Nam
- Lê Tư Nghĩa
- Lê Thị Thu Ngờ
- Lô Thị Ngọc
1.
2. Câu 2: Mối quan hệ giữa năng lực và vai trò của Nhà nước trong
sự phát triển. Những nguyên tắc cơ bản cho sự can thiệp của Nhà
nước vào đời sống xã hội?
1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG LỰC, VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN:
1.1. Khái niệm:
- Năng lực: là khả năng thực tế để giải quyết những vấn đề cụ
thể nảy sinh trong đời sống.
- Vai trò:

- Lí thuyết kinh tế của John Maynard Keynes (bàn tay hữu hình)
6. Cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933 đã làm tan rã tư
tưởng tự do kinh tế. Cuộc khủng hoảng này đã bao trùm toàn thế giới,
tình trạng thất nghiệp trở nên nghiêm trọng, báo hiệu sự không còn phù
hợp của lí thuyết cổ điển.
7. Mặt khác, vào đầu thế kỷ XX, lực lượng sản xuất và sự xã hội hóa
sản xuất phát triển, độc quyền ra đời và bắt đầu bành trướng thế lực.
 Trước tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết của Nhà nước đối với sự
phát triển kinh tế, đồng thời phải có lý thuyết đáp ứng nhu cầu thực
tiễn mới đang thay đổi này. Đó là lý thuyết kinh tế “Bàn tay hữu hình”.
 Đặc điểm:
8. Khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào
nền kinh tế, với sự điều tiết của mình Nhà nước có thể ngăn chặn hoặc hạn
chế tối đa nguy cơ khủng khoảng kinh tế. Thậm chí, khi nền kinh tế đã rơi
vào khủng hoảng, Nhà nước vẫn có khả năng đưa ra các chính sách giúp
nền kinh tế tăng trưởng trở lại.
 Trong những năm từ năm 1930 đến1989, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô
Viết, Đông Âu, Trung Quốc, cả Việt Nam trong thời gian dài đã áp dụng
cứng nhắc lý thuyết này, với nhà nước can thiệp mọi mặt vào nền kinh tế,
cụ thể là cơ chế bao cấp ở Việt Nam. Đến những năm 80-90 thế kỷ XX,
những nước áp dụng theo lí thuyết này rơi vào khủng hoảng, cho thấy
cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, vai trò của Nhà nước cũng
cần phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
- Lý thuyết Nhà nước phúc lợi chung:
9. Là mô hình nhà nước lý tưởng, trong đó nhà nước đóng vai trò
chịu trách nhiệm chính cho toàn bộ phúc lợi của các công dân. Trách
nhiệm ở đây mang tính toàn diện vì tất cả mọi mặt của phúc lợi xã hội
đều được cân nhắc; một "mạng lưới an sinh xã hội" không thôi là chưa
đủ hay chỉ có các tiêu chuẩn tối thiểu cũng là chưa đủ. Đây là vấn đề phổ
quát vì phúc lợi bao trùm mọi đối tượng như là một quyền thiết yếu.Ở

hiện trên các lĩnh vực:
- Vai trò của Nhà nước với nền kinh tế
11. Ở nước ta, trước năm 1986 thì Nhà nước hầu như làm thay thị
trường. Nhưng hiện nay thì không để thị trường tự phát triển mà có sự
can thiệp - của Nhà nước. Nhà nước can thiệp vào thị trường bằng việc
: ban hành khuôn khổ pháp lý và các công cụ để thị trường hoạt động.
Cụ thể là 4 nhóm công cụ thể hiện rõ nét vai trò của Nhà nước là: chính
sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tiêu dùng và chính sách
ngoại thương. Bên cạnh đó, Nhà nước xây dựng và thực hiện các quy
hoạch và kế hoạch phát triển KT - XH để định hướng cho thị trường.
12. Vai trò của Nhà nước ta đối với kinh tế càng bộc lộ rõ nét. Nhà
nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách, Nhà nước đã góp phần tích
cực vào việc kiềm chế lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng không ngừng
giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10 giảm 0,19%, tháng 11 giảm
0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách
được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm,
tăng 26,3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD,
vượt kế hoạch đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80,4 tỉ USD, tăng 28%
so với năm 2007. Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ
vững ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.
- Vai trò, năng lực Nhà nước trong mối quan hệ với sự phát triển xã hội.
13. Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi
xã hội và công bằng xã hội.
14. Công bằng xã hội là động lực của phát triển xã hội, và đảm bảo
tăng trưởng kinh tế bền vững. Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội
trên lĩnh vực kinh tế được biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang
nhau thì được hưởng thụ ngang nhau, mà còn ở chỗ cống hiến – đóng
góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quá khứ cũng như trong hiện tại
– ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì được hưởng ngang nhau.
- Vai trò của Nhà nước với sự phát triển của giáo dục

triển:
1.2.3.1. Điều kiện để Nhà nước có tác động hiệu quả:
- Điều kiện cần:
 Định hướng nhất quán đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
cầm quyền.
 Kiện toàn hệ thống thể chế pháp luật của nhà nước, là công cụ đặc
biệt quan trọng trong việc Nhà nước đảm bảo cho sự ổn định và
phát triển của xã hội
 Đảm bảo tính dân chủ toàn diện của xã hội.
- Điều kiện đủ:
 Sự phát triển ổn định và tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế
quốc gia. Nhà nươc điều tiết nền kinh tế bằng hệ thống các chính
sách, hạn chế những mặt trái của nền kinh tế thị trường. Tạo hành
lang pháp lý bảo đảm an toàn cho các chủ thẻ kinh doanh. Nhà
nước quản lý bằng các chính sách vĩ mô…
 Đảm bảo lưu giữ toàn vẹn và phát triển các giá trị truyền thống của
d6n tộc và nhân loại. Vì Nhà nước quản lý xã hội, bên cạnh pháp
luật, kết hợp với đạo đức, phát huy những giá trị nhân văn tốt đẹp
của dân tộc.
 Sự ủng hộ và ý thức tích cực của mọi công dân trong toàn xã hội và
bè bạn quốc tế.
 Hội nhập khu vực và quốc tế là xu hướng tất yéu khách quan và là
vai trò quan trọng của Nhà nước trong thời kỳ mới.
1.2.3.2. Sự tác động của vai trò, năng lực Nhà nước đến sự phát triển:
- Tùy theo trình độ phát triển, mỗi Nhà nước điều chỉnh vai trò sao cho
phù hợp với năng lực thực tế mà Nhà nước đang có.
 Ví dụ: CHDCND Triều Tiên là một ví dụ điển hình cho việc nhà nước
xác định vai trò, năng lực của mình đối với sự phát triển của đất
nước có phần chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn. Trong khi nền
kinh tế nước Triều Tiên phát triển chậm, đời sống nhân dân còn gặp

điểm của các quan hệ này là các mối quan hệ về lợi ích. Do đó cần
phải đảm bảo lợi ích chung. Không thiên về lợi ích nhóm gây nên
mâu thuận trong sự phát triển xã hội.
- Lợi ích là một trong những động lực quan trọng trực tiếp thúc đẩy
hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu cá nhân, gia
đình, tập thể, giai cấp, dân tộc và xã hội. Lợi ích chia thành: lợi ích
chung và lợi ích riêng.
- Trong xã hội có giai cấp, lợi ích gia đình và lợi ích cá nhân phụ
thuộc vào lợi ích giai cấp, vai trò hàng đầu thuộc về lợi ích giai cấp.
Tính đối kháng giữa các lợi ích giai cấp là nguyên nhân của đấu
tranh giai cấp. Giai cấp thống trị nêu lợi ích của giai cấp mình thành
lợi ích chung của toàn xã hội. Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu của chính
đảng của giai cấp bị trị là làm cho giai cấp bị trị giác ngộ về lợi ích
giai cấp của mình.
- Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích cơ bản của các giai cấp, của
tầng lớp trong xã hội, của cá nhân là thống nhất; lợi ích của tiến bộ
xã hội trở thành lợi ích chung của toàn xã hội – đó là tiền đề để kết
hợp hài hoà các loại lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.
- Nhà nước vừa phải bảo đảm lợi ích toàn dân có tính chất chủ đạo,
đồng thời coi trọng lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân người lao động,
vì đó là động lực trực tiếp, thúc đẩy hoạt động kinh tế, cơ sở tạo
điều kiện để thực hiện đầy đủ lợi ích xã hội và lợi ích tập thể.
2.2. Nguyên tắc công bằng (Nguyên tắc bình đẳng):
- Nhà nước đảm bảo sự công bằng thông qua hệ thông luật pháp, can
thiệp vào xã hội bằng công cụ pháp luật. Do đó pháp luật phải hài
hòa phù hợp với từng đối tượng. Đảm bảo tính công băng cho xã hội
để kích thích sự phát triển xã hội.
- Đây là nguyên tắc hàng đầu trong mỗi tổ chức nhà nước. Đảm bảo
dung hòa các lợi ích của xã hội. Thể hiện trong các lĩnh vực:
 Trong kinh tế: Nhà nước phải đảm bảo công bằng trong phân

cũng đặt ra những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện trong việc đảm
bảo những điều kiện cơ bản để công dân được thực hiện quyền cơ bản của
mình.
22.
23. 2.4. Ngoài ra, có thể kể đến những nguyên tắc:
24. 2.4.1. Khách quan
25. Nguyên tắc khách quan trong sự can thiệp của nhà nước vào đời
sống xã hội thể hiện ở việc các quyết định này được xây dựng, đúc kết trên
cơ sở đáp ứng thực tiễn cuộc sống. Nguyên tắc này được biểu hiện thông
qua các nội dung trọng tâm sau :
- Khách quan tuân theo những quy luật quy luật vận động phát triển của
đời sống xã hội: Trong thực tế theo quy luật vận động khách quan, một xã
hội luôn phát sinh và tồn tại những vấn đề khác nhau. Những vấn đề này
ở một chừng mực nào đó có thể tự chuyển hóa theo chiều hướng tích cực
hoặc tiêu vong ở một giai đoạn nào đó của sự phát triển. Tuy nhiên không
phải mọi vấn đề nảy sinh đều có thể tiến hóa theo chiều hướng êm đẹp,
chúng có thể tồn tại qua nhiều thời kì và đến một thời cơ thích hợp sẽ
chuyển hóa thành vấn đề xã hội, gây tác động lớn đến đời sống xã hội,
phá vỡ những mục tiêu vĩ mô mà nhà nước đề ra, chúng có thể là : kinh tế
lâm vào tình trạng khủng hoảng; sự đối kháng, mâu thuẫn giữa những
giai cấp; các tệ nạn gia tăng ; các dịch bệnh mới phát sinh … mà nếu
không có quyết định can thiệp của nhà nước, chúng sẽ từng bước phá vỡ
cơ sở hạ tầng, làm thay đổi hình thái kinh tế xã hội, dẫn đến sự tiêu vong
của Nhà nước. do đó nhà nước chỉ thực hiện sự can thiệp của mình khi
bản thân xã hội xuất hiện những vấn đề mang tính nổi trội.
- Khách quan hướng đến mục tiêu phục vụ cộng đồng xã hội : với tư cách
là chủ thể thực hiện chức năng quản lý đời sống xã hội, các quyết định
của Nhà nước mang tính cưỡng bức có thể gây tác động lớn đến xã hội
nên việc đưa ra các quyết định luôn cần phải có sự cân nhắc, nên có thể
nói chúng không thể dựa trên bất kì sự kì vọng chủ quan của một cá nhân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status