I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUỸ TÀI CHÍNH CÔNG NGOÀI
NSNN:
1. Đặc điểm quỹ tài chính công ngoài NSNN:
Quỹ tài chính công được thiết lập nhằm mục đích là để cho các địa
phương, các ngành, các đơn vị, các doanh nghiệp Nhà nước chủ động chủ
động thu, chi, quản lý các loại quỹ này theo quy định của pháp luật nhằm
thực hiện một số mục tiêu mà nhà nước đặt ra. Quỹ quỹ tài chính công
ngoài NSNN có những đặc điểm cơ bản sau:
- Cho dù các quỹ được thiết lập với các mục đích cụ thể khác nhau
nhưng đều nhằm thực hiện sự can thiệp của Nhà nước một cách
hữu hiệu vào nền kinh tế thị trường. Mọi quyết định tạo lập và sử
dụng đều là Nhà nước.
- Nhà nước có toàn quyền chi phối và sử dụng, chịu sự quản lý của
chính quyền các cấp, điều hành hoạt động của các quỹ theo chính
sách chế độ của Nhà nước.
- Khác với quỹ NSNN, các quỹ tài chính công ngoài NSNN chịu
sự điều chỉnh, kiểm tra ít hơn từ phía các tổ chức chính quyền nhà
nước. Cơ chế hoạt động của loại Quỹ này được thực hiện một cách
linh hoạt. Chính sách chế độ điều chỉnh các quỹ ngoài NSNN
thường được quy định bằng các văn bản dưới luật, tính bắt buộc
thấp hơn Quỹ NSNN.
- Quỹ NSNN phuc vụ chủ yếu cho các mục tiêu ổn định lâu dài,
thường xuyên, lâu dài của Nhà nước, trong khi đó quỹ tài chính
công ngoài NSNN có tính ổn định thấp hơn quỹ NSNN.
2. Phân loại quỹ tài chính công ngoài NSNN:
Để thực hiện tốt sự phân cấp quản lý kinh tế xã hội của Nhà
nước cũng như đảm bảo phát huy tính chủ động sáng tạo của các địa
phương, các ngành, các đơn vị, trong giai đoạn hiện nay cũng như về
mặt xu thế phát triển, số lượng các quỹ ngoài Tài chính công ngoài
ngân sách Nhà nước ngày càng nhiều, lượng vốn ngày càng lớn. Vì
vậy, việc phân loại các quỹ Tài chính công ngoài ngân sách Nhà nước
đến các vấn đề quản lý vĩ mô ở phạm vi hẹp hơn so với các quỹ do chính
quyền Trung ương quản lý.
Các quỹ do chính quyền địa phương quản lý ví dụ như: quỹ dự trữ tài
chính thuộc ngân sách tỉnh, quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị, quỹ đầu tư phát
triển nông thôn v.v…
II. QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM:
1. Khái niệm, nhiệm vụ của quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam:
2
- Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam được tạo lập từ nguồn vốn ngân sách
Nhà nước và huy động từ các nguồn vốn khác nhằm hỗ trợ tài chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Về tổ chức: Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính Nhà
nước, quỹ có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán
riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và các ngân
hàng trong và ngoài nước. Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam hoạt động
không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải đảm bảo hoàn vốn điều lệ và bù
đắp chi phí quản lý.
- Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư bảo vệ môi
trường.
+ Hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các hoạt động phòng, chống,
khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên
ngành, liên vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng phạm
vi ảnh hưởng lớn.
+ Tiếp nhận và quản lý nguồn vốn uỷ thác từ các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước để hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, hoạt động và
nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
+ Tổ chức hướng dẫn xây dựng, thẩm định và xét chọn các chương trình,
dự án, hoạt động và nhiệm vụ bảo vệ môi trường được đề nghị tài trợ hoặc
hỗ trợ tài chính theo đúng quy định của pháp luật. Sử dụng vốn nhàn rỗi
thải, chất thải rắn, khai thác khoáng sản và các loại phí bảo vệ môi trường
khác theo quy định của pháp luật; Các khoản tiền đền bù thiệt hại về môi
trường của các tổ chức, cá nhân nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định
của pháp luật; Tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường theo quy định của pháp luật; Lệ phí bán CERs (CERs là tên viết tắt
của chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận); Các khoản tài
trợ, hỗ trợ, đóng góp, ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước; Các nguồn vốn bổ sung khác theo quy định của pháp luật.
+ Thu nhập tự hoạt động tài chính như: Thu lãi từ hoạt động mua, bán trái
phiếu Chính phủ; thu từ hoạt động cho thuê tài sản; các khoản thu phạt; thu
thanh lý, nhượng bán tài sản của quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; thu
chênh lệch do đánh giá lại tài sản thế chấp khi chủ đầu tư không trả được nợ,
tài sản hình thành từ vốn vay của quỹ; thu nợ đã xoá nay thu hồi được.
Việc tiếp nhận các nguồn vốn bổ sung hàng năm được thực hiện theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính.
3. Sử dụng quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam
Về nguyên tắc vốn của quỹ phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu
quả, đảm bảo an toàn và cho các mục tiêu sau:
- Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi các dự án bảo vệ môi trường theo cơ chế
sau:
4
+ Mức cho vay không vượt quá 70% tổng chi phí của chương trình, dự án
đầu tư bảo vệ môi trường.
+ Lãi suất do hội đồng quản lý quỹ quy định cho từng nhóm đối tượng
nhưng không vượt quá 50% mức lãi suất cho vay thương mại.
- Hỗ trợ lãi suất vay vốn và tài trợ cho hoạt động bảo vệ môi trường theo quy
định.
- Đầu tư, mua sắm vài sản cố định phục vụ cho hoạt động của quỹ bảo vệ
môi trường Việt Nam không vượt quá 7% vốn điều lệ của quỹ. Toàn bộ
công tác đầu tư, mua sắm tài sản cố định của quỹ bảo vệ môi trường Việt
Nhằm thực hiện có hiệu quả công tác kiểm soát ô nhiễm công nghiệp ngay
tại nguồn và tăng cường năng lực thể chế trong triển khai các biện pháp
chính sách về bảo vệ môi trường công nghiệp, Chính phủ Việt Nam đã phê
duyệt Dự án "Quản lý ô nhiễm các khu công nghiệp thuộc lưu vực sông
Đồng Nai, sông Nhuệ - Đáy (sau đây viết tắt là Dự án VIPM) do Ngân hàng
Thế giới tài trợ. Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là đơn vị được giao thực
hiện Hợp phần 2 - "Thí điểm cho vay đầu tư xây dựng các trạm xử lý nước
thải tập trung tại các khu công nghiệp" của Dự án VIPM với số vốn nhận ủy
thác cho vay ưu đãi là 20,473 triệu USD. Dự kiến sẽ có khoảng 10 khu công
nghiệp thuộc 4 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu
đáp ứng các tiêu chí của Dự án được vay vốn để đầu tư xây dựng nhà máy
xử lý nước thải tập trung và mở rộng nhà máy xử lý thải hiện có đạt quy
chuẩn quốc gia về môi trường.
b. Cho vay lãi suất ưu đãi:
Đối tượng cho vay
- Đối tượng được cho vay ưu đãi từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ
chức, cá nhân có các dự án đầu tư thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường;
dự án đầu tư thực hiện việc phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự
cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải quyết các
vấn đề môi trường cục bộ nhưng có phạm vi ảnh hưởng lớn.
Tiêu chí xét duyệt dự án
- Tiêu chí 1: Tính cấp thiết và hiệu quả bảo vệ môi trường.
- Tiêu chí 2: Quy mô và đặc thù.
- Tiêu chí 3: Tính kinh tế và khả năng trả nợ.
- Tiêu chí 4: Tính nhân rộng, bền vững.
- Tiêu chí 5: Ưu thế áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp, đặc biệt là công nghệ
trong nước.
- Tiêu chí 6: Phục vụ trực tiếp các chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi
trường.
Các Lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ tài chính năm 2013
Xử lý ô nhiễm làng nghề (nước,
không khí, chất thải rắn);
32 15.637.500.000
5 Xử lý chất thải sinh hoạt; 4 73.490.500.000
6
Xử lý khói bụi xi măng và các
loại bụi khác;
3 8.500.000.000
7
Triển khai các công nghệ sạch,
thân thiện môi trường, tiết kiệm
năng lượng;
19 33.299.900.000
8
Sản xuất các sản phẩm bảo vệ môi
trường;
8 96.800.000.000
9 Xã hội hóa thu gom rác thải. 13 41.962.200.000
Tổng 156 950.312.420.000
c. Hỗ trợ lãi suất vay
Đối tượng hỗ trợ lãi suất vay
7
Các tổ chức, cá nhân có đi vay vốn của các tổ chức tín dụng ngoài Quỹ được
phép hoạt động tại Việt Nam để thực hiện các chương trình, dự án, hoạt
động và nhiệm vụ bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên
vùng hoặc giải quyết các vấn đề môi trường cục bộ nhưng phạm vi ảnh
hưởng lớn thuộc các lĩnh vực phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và
sự cố môi trường.
Kết quả hỗ trợ lãi suất vay
dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch, giải ngân đợt 1 số tiền 18 tỷ
đồng/38,3 tỷ đồng trợ giá được phê duyệt.
- Ký quỹ phục hồi khai thác KS:
Tiếp nhận số tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường trong khai thác khoáng
sản 64,3 tỷ đồng của 111 doanh nghiệp khai thác khoáng sản.
- Hợp tác các tổ chức trong lĩnh vực môi trường và biến đổi khí hậu:
Hoạt động hợp tác phát triển của Quỹ ngày càng được mở rộng với nhiều tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm tăng vị thế, đồng thời hỗ trợ các
hoạt động nghiệp vụ của Quỹ.
Các tổ chức đã có những hoạt động hợp tác với Quỹ:
- Ngân hàng Thế giới (WB);
- Tổ chức phát triển Thế giới (DWW), Quỹ Môi trường quốc gia Cộng hòa
Séc (SEF); Cơ quan hợp tác phát triển Cộng hòa Séc, Đại sứ quán Cộng
hòa Séc;
- Cơ quan môi trường Hàn Quốc (KECO), Viện Công nghệ và Kỹ thuật
Môi trường Hàn Quốc (KEITI);
- Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA);
- Cơ quan Phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA);
- Công ty cổ phần hàng không Jetstar Pacific Airlines;
- Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
… và nhiều tổ chức khác có hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Có thể thấy năm 2012 là năm hoạt động hết sức khó khăn đối với các doanh
nghiệp Việt Nam, nhưng lại là một năm có nhiều sự kiện và bước ngoặt lớn
đối với Quỹ. Quỹ đã sử dụng nguồn vốn của mình vào đúng việc, đạt được
những kết quả to lớn trong nhiệm vụ Bảo vệ môi trường mà chính phủ đặt
ra.
9
10