Biện pháp hoàn thiện xuất khẩu TOCONTAP hà nội - Pdf 22

Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
1
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY CP XNK TẠP
PHẨM TOCONTAP HANOI
Giảng viên hướng dẫn :
Họ và tên sinh viên :
Mã sinh viên :
Chuyên ngành :
Lớp :
Hệ :
Thời gian thực tập :
Hà Nội, tháng 12/2013
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
2
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
STT Tên Trang
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
3
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
1 Các bước thực hiện hợp đồng xuất khẩu 22
2 Mô hình tổ chức TOCONTAP HANOI 30
3 Danh mục các thị trường xuất khẩu chính của Công ty cổ phần

United States of Dollar
Đô la Mỹ
11 WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
12 XK Xuất khẩu
13 XNK Xuất nhập khẩu
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
5
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và thế giới là điều tất
yếu và là điều kiện bắt buộc cho sự phát triển kinh tế cũng như phát triển mọi mặt
của một quốc gia. Trong quá trình hội nhập kinh tế, hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu là hoạt động kinh tế chủ yếu có vai trò quan trọng tạo ra tiền đề cơ sở vật chất,
là động lực thúc đẩy nhanh chóng và quyết định thành công của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khi quá trình phân công lao động quốc tế đang
diễn ra hết sức sâu sắc, kinh doanh xuất nhập khẩu được xem như là một điều kiện
tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Thực tế cho thấy, không một
quốc gia nào có thể tồn tại chứ chưa nói gì đến phát triển nếu tự cô lập mình không
quan hệ kinh tế với thế giới. Kinh doanh xuất nhập khẩu đã trở thành vấn đề sống
còn vì nó cho phép thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao mức tiêu dùng cuả dân cư
một quốc gia.
Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước là đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nền kinh tế nước ta và đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp, đặc biệt là chủ trương chuyển dịch cơ cấu hướng về xuất khẩu, trong
những năm qua một số doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư, phát triển kinh doanh, sản
xuất hàng hoá xuất khẩu và đã đạt được một số thành công nhất định, trong đó có
phần đóng góp không nhỏ của công ty CP xuất nhập khẩu tạp phẩm. Tuy nhiên, tình

xuất khẩu
Chương 2: Tình hình hoạt động xuất khẩu của công ty cổ phần xuất nhập
khẩu tạp phẩm
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
7
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
Chương 3: Định hướng và một số biện pháp hoàn thiện hoạt động xuất khẩu
của công ty cổ phần xuất nhập khẩu tạp phẩm
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN XUẤT KHẨU
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM XUẤT KHẨU
1.1.1 Khái niệm
Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật (theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương
mại Việt Nam 2005). Hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền tệ ở
đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia. Hoạt động xuất khẩu là hình
thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát
triển.
Hoạt động xuất khẩu có nhiều điểm khác biệt so với hoạt động buôn bán
trong nước. Trong buôn bán nội địa, hàng hóa chỉ được vận chuyển trong phạm vi
của một quốc gia, đồng tiền thanh toán thông thường là đồng nội tệ của quốc gia đó.
Các bên chủ thể chủ yếu là có chung quốc tịch. Còn trong hoạt động xuất khẩu,
hàng hóa được vận chuyển xuyên qua biên giới quốc gia, đồng tiền thanh toán là
ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên và các đối tác kinh doanh có quốc tịch khác
nhau. Cũng có trường hợp hàng hóa được bán ra khỏi phạm vi lãnh thổ một quốc
gia cho đối tác là người cùng quốc tịch nhưng không nhiều.
Xuất khẩu hàng hóa là hệ thống các quan hệ mua bán trong nền thương mại
có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm hàng hóa sản xuất trong
nước ra ngoài thu ngoại tệ. Qua đó, có thể đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển,

khác có liên quan. Nhưng đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ đối với một trong
hai đối tác, thông thường đó là các ngoại tệ mạnh trên thế giới như USD, JPY,
EURO…
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hoá vượt ra khỏi biên giới
quốc gia nên phải sử dụng các phương tiện vận tải chuyên dụng như: vận tải đường
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
9
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
biển, đường sắt, máy bay hoặc đường bộ. Vận chuyển hàng hoá từ người bán đến
tận tay người mua thường là phải trải qua thời gian, quãng đường dài, do đó hàng
hoá phải được đóng gói trong bao bì đảm bảo an toàn, phù hợp với phương tiện vận
tải, điều kiện khí hậu, tránh hao mòn, mất mát và hư hỏng.
Để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách an toàn và
thuận lợi, mỗi doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải tiến hành theo các khâu sau của
một quy trình xuất khẩu chung. Trong quy trình gồm nhiều bước có quan hệ chặt
chẽ với nhau, bước trước là cơ sở, tiền đề để thực hiện tốt bước sau. Tranh chấp xảy
ra trong quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng thường là do lỗi yếu kém ở một khâu
nào đó. Để quy trình xuất khẩu được tiến hành thuận lợi thì làm tốt công việc ở từng
bước là hết sức cần thiết. Thông thường, một quy trình xuất khẩu hàng hóa gồm bốn
bước lớn theo trình tự sau: nghiên cứu thị trường tìm kiếm đối tác, lập phương án
kinh doanh, đàm phán và ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Một khi công ty đã được tổ chức để phục vụ xuất khẩu thì cần phải lựa chọn
một hệ thống phân phối thích hợp cho mỗi thị trường. Các hệ thống này bao gồm
các đại diện thương mại, các đại lý, các nhà phân phối, các nhà bán lẻ và những
người tiêu thụ sau cùng.
Văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của công ty ở nước ngoài: Khi công
ty đủ năng lực và muốn mở rộng thị trường ra quốc tế, việc lập văn phòng đại diện
ởnước ngoài là điều hoàn toàn có thể. Chúng giúp nghiên cứu thị trường nước sở tại
được chu đáo trước khi tiến hành triển khai các chiến lược kinh doanh phù hợp ở
đó.

Trong trường hợp xuất khẩu hàng hóa, số lượng hàng hóa vận chuyển ra
nước ngoài trong một chuyến hàng thường rất lớn để tiết kiệm chi phí vận chuyển.
Cần phải có thời gian cho công đoạn tập kết hàng hóa cho đủ số lượng. Và phương
thức vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn thường là vận tải bằng đường biển. Do đó
thời gian để lưu chuyển hàng hóa thường kéo dài. Ví dụ, khi vận chuyển hàng hóa
từ Việt Nam sang Canada thì thời gian vận chuyển thông thường là từ 28 đến 35
ngày.
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
11
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
1.2 CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ HÌNH THỨC XUẤT KHẨU
1.2.1 Các phương thức xuất khẩu
1.2.1.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một công ty cho
khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài. Các công ty có kinh nghiệm quốc
tế thường trực tiếp bán các sản phẩm của mình ra thị trường nước ngoài. Khách
hàng của công ty không chỉ đơn thuần là người tiêu dùng. Những ai có nhu cầu
mua và tiêu dùng sản phẩm của công ty đều là khách hàng của công ty. Xuất khẩu
trực tiếp có hai hình thức chủ yếu sau:
- Đại diện bán hàng: là hình thức bán hàng không mang danh nghĩa của mình
mà lấy danh nghĩa của người ủy thác nhằm nhận lương và một phần hoa hồng trên
cơ sở giá trị hàng hóa bán được. Trên thực tế, đại diện bán hàng hoạt động như nhân
viên bán hàng của công ty ở thị trường nước ngoài. Công ty sẽ kí hợp đồng trực tiếp
với khách hàng ở thị trường nước đó.
- Đại lý phân phối: là người mua hàng hóa của công ty để bán theo kênh
tiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống chế phạm vị phân phối,
kênh phân phối ở thị trường nước ngoài. Đại lý phân phối chấp nhận toàn bộ rủi
ro liên quan đến việc bán hàng hóa ở thị trường đã phân định và thu lợi nhuận qua
chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
1.2.1.2 Xuất khẩu gián tiếp

công ty xuất khẩu. Công ty kinh doanh xuất khẩu có kinh nghiệm, chuyên sâu về thị
trường nước ngoài và có các chuyên gia chuyên làm dịch vụxuất khẩu. Các công ty
kinh doanh xuất khẩu có nguồn thu cố định từ các dịch vụxuất khẩu và tự bỏ chi phí
cho hoạt động của mình. Các công ty này có thể cung cấp các chuyên gia xuất khẩu
cho các công ty xuất khẩu.
Đại lý vận tải là các công ty thực hiện các dịch vụ thuê vận chuyển và
những hoạt động có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa như khai báo hải
quan, áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhận chuyên chở và bảo hiểm. Các đại lý
vận tải này cũng thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và phát triển nhiều loại hình
dịch vụ giao nhận hàng hóa đến tận tay người nhận. Khi các công ty xuất khẩu
thông qua các đại lý vẫn tải hay các công ty xuất nhập khẩu liên quan tới hàng
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
13
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
hóa đó. Bản chất của các đại lý vận tải hoạt động như các công ty kinh doanh dịch
vụ giao nhận vận chuyển và dịch vụ xuất nhập khẩu, thậm chí cả dịch vụ bao gói
hàng hóa cho phù hợp với phương thức vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hóa cho
hoạt động của họ.
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu
1.2.2.1 Xuất khẩu ủy thác
Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh
nghiệp trong nước có nhu cầu xuất khẩu một số loại hàng hoá nhưng không đủđiều
kiện để xuất khẩu (gọi là doanh nghiệp uỷ thác xuất khẩu) đã uỷ thác cho một
doanh nghiệp khác (gọi là doanh nghiệp xuất khẩu uỷ thác) có chức năng giao dịch
ngoại thương tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài để làm thủ tục xuất khẩu
hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một khoản thù lao gọi là phí
uỷ thác, hay còn gọi là hoa hồng uỷ thác.
Trong hoạt động XK uỷ thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác không phải bỏvốn,
do không phải lo nguồn hàng mà chỉ phải đứng ra thay mặt bên uỷ thác tìm và giao
dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục XK hàng hoácũng như

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp phải thực hiện 2 hợp đồng:
- Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài
- Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác
1.2.2.4 Xuất khẩu đổi hàng
Xuất khẩu đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu
của buôn bán đối lưu, nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu, thanh toán
theo hình thức này không phải dùng tiền mà bằng hàng hoá.
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
15
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
Để thực hiện được hình thức xuất khẩu này thì hàng hóa nhập và hàng hóa
xuất phải tương đương nhau về giá trị, bạn hàng bán và mua là một.
1.2.2.5 Tạm nhập, tái xuất
Là hoạt động nhập hàng vào trong nước nhưng không phải để tiêu thụ trong
nước mà để xuất sang một nước nào đó nhằm thu lợi nhuận, những hàng nhập này
không được qua chế biến ở nước tái xuất. Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút
3 nước tham gia: nước xuất khẩu , nước tái xuất và nước nhập khẩu.
Đặc điểm: Doanh nghiệp nước tái xuất phải lập 2 hợp đồng:
- Một hợp đồng nhập khẩu
- Một hợp đồng xuất khẩu
Doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toán chi phí ghép mối bạn hàng xuất và
nhập sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt
động.Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch xuất và nhập,
doanh số tính trên giá trị hàng xuất do đó phải chịu thuế doanh thu.Hàng hoá không
nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển thẳng sang nước thứ 3,
nhưng trả tiền thì phải luôn do người tái xuất thu từ người nhập khẩu và trả cho
người xuất khẩu. Nhiều khi người tái xuất còn thu được lợi tức về tiền hàng do thu
được nhanh và trả chậm.
1.2.2.6 Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một phương thức giao dịch trong đó người đặt gia công

trường có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nghiên cứu thị trường phải trả lời một số câu hỏi sau: xuất khẩu cái gì, ở thị trường
nào, thương nhân giao dịch là ai, giao dịch theo phương thức nào, chiến lược kinh
doanh cho từng giai đoạn để đạt được mục tiêu đề ra.
Nắm vững thị trường nước ngoài: Đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu,
nghiên cứu thị trường có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trong nghiên cứu cần nắm
vững một số nội dung:những điều kiện chính trị, thương mại chung, luật pháp và
chính sách buôn bán, những điều kiện về tiền tệ và tín dụng, điều kiện vận tải và
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
17
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
tình hình giá cước. Bên cạnh đó, đơn vị kinh doanh cũng cần phải nắm vững một số
nội dung liên quan đến mặt hàng kinh doanh trên thị trường đó như dung lượng thị
trường, tập quán và thị hiếu tiêu dùng của người dân, giá thành và dự biến động giá
cả, mức độ cạnh tranh của mặt hàng đó.
Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước và lựa chọn mặt hàng kinh
doanh: Nhận biết mặt hàng kinh doanh trước tiên phải dựa vào nhu cầu của sản
xuất và tiêu dùng về quy cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng
như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó xem xét các
khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới. Về khía cạnh thương phẩm phải
hiểu rõ giá trị công dụng, các đặc tính, quy cách phẩm chất, mẫu mã… Vấn đề khá
quan trọng trong giai đoạn này là xác định sản lượng hàng hoá xuất khẩu và thời
điểm xuất khẩu để bán được giá cao nhằm đạt được lợi nhuận tối đa.Do chủ trương
phát triển nền kinh tế với nhiều thành phần tham gia nền kinh tế trên nhiều ngành
nghề và nhiều lĩnh vực khác nhau từ sản phẩm thô sản xuất bằng phương pháp thủ
công đến sản phẩm sản xuất bằng máy móc tinh vi hiện đại. Tuyến sản phẩm được
mở rộng với mặt hàng phong phú, đa dạng tạo điều kiện cho các đơn vị khinh doanh
xuất khẩu có được nguồn hàng ổn định với nhiều nhóm hàng kinh doanh khác nhau.
Tìm kiếm thương nhân giao dịch: Để có thể xuất khẩu được hàng hoá
trong quá trình nghiên cứu thị trường nước ngoài các đơn vị kinh doanh phải tìm

ty kinh doanh thực hiện các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất, nhanh nhất, có
lợi nhất cho công ty kinh doanh.
Bước 5: Đánh giá hiệu quả của việc kinh doanh. Giúp cho công ty đánh giá
hiệu quả kinh doanh sau thương vụ kinh doanh. đồng thời đánh giá được hiệu quả
những khâu công ty kinh doanh đã và làm tốt, nhữngkhâu còn yếu kém nhằm giúp
công ty hoàn thiện quy trình xuất khẩu.
1.3.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu
Đàm phán
Chúng ta đã biết rằng đàm phán thực chất là việc trao đổi, học thuật vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật để sử dụng các kĩ năng, kĩ sảo trong
giao dịch để nhằm thuyết phục đi đến việc chấp nhận những nội dung mà đôi bên
đưa ra. Muốn đàm phán thành công thì khâu chuẩn bị đàm phán đóng góp một vai
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
trò quan trọng như: chuẩn bị nội dung và xác định mục tiêu, chuẩn bị dữ liệu thông
tin, chuẩn bị nhân sự đàm phán chuẩn bị chương trình đàm phán. Chuẩn bị chi tiết
đầy đủ các nội dung cần đàm phán là việc rất quan trọng để cho cuộc đàm phán đạt
hiệu quả cao hơn và giảm được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng sau này.
Ngoài ra, việc chuẩn bị số liệu thông tin chẳng hạn như: thông tin về hàng hoá để
biết được tính thương phẩm học của hàng hoá, do các yêu cầu của thị trường về tính
thẩm mĩ, chất lượng, các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
Để đàm phán tốt cần phải chuẩn bị những thông tin về thị trường, kinh tế,
văn hoá, chính trị, pháp luật của các nước, hay như thông tin về đối tác như sự phát
triển, danh tiếng, cũng như khả năng tài chính của đối phương. Đòi hỏi các cán bộ
nghiệp vụ cần phải là những người nắm bắt thông tin về hàng hoá, thị trường, khách
hàng, chính trị, xã hội…chính xác và nhanh nhất sẽ giúp cho cuộc đàm phán kí kết
hợp đồng đạt hiệu quả tốt.
Hiện nay trong đàm phán thương mại thường sử dụng ba hình thức đàm phán
cơ bản là: đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp

đoán khả năng mở rộng thị trường của quốc gia đó. Cùng với vấn đề dân số, các
nhà nghiên cứu thị trường cần phải chú ý tới mức phân bố theo lứa tuổi, mật độ
và sự phân bố của quốc gia đó cũng như nghiên cứu đặc tính thu nhập.
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
21
Chuẩn bị
hàng hóa
Mở và
kiểm tra
L/C
Kiểm tra
hàng hóa
Thuê
phương
tiện vận
tải
Xin giấy
phép xuất
khẩu
Mua bảo
hiểm hàng
hóa
Làm thủ
tục thông
quan
Giao hàng
cho phương
tiện vận tải
Làm thủ
tục thanh

hội, nhà thờ, chính quyền, trường học.
Cùng với những giá trị cốt lõi, xã hội nào cũng chứa đựng những tiểu vănhóa
và sự chuyển biến trong các giá trị văn hóa thứ cấp. Mỗi xã hội đều chứa đựng
những tiểu văn hóa, chúng được này sinh từ khung cảnh và kinh nghiệm sống chung
của từng nhóm người. Chẳng hạn như những người theo công giáo, phật giáo,
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
22
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
những ngôn ngữ khác nhau trong cùng một quốc gia sẽ dẫn tới những bản sắc văn
hóa của từng dân tộc và những phong tục tập quán khác nhau, tất cả đều tiêu biểu
cho những nét văn hóa riêng biệt. Mặc dù các giá trị văn hóa cốt lõi là khá bền vững
nhưng những biến đổi văn hóa vẫn xảy ra và khác nhau ở mỗi nước. Trong thực tế
các nhà quản trị rất khó có khả năng nhận thức chính xác mà chỉ có thể tiên đoán
những chuyển biến để lựa chọn những tiểu văn hóa làm thị trường trọng điểm của
mình.
Việt Nam có một nền văn hóa hết sức phong phú, với 54 dân tộc khác
nhau. Điều này sẽ tạo ra cho chúng ta những thị trường hàng hóa phong phú đặc
trưng cho từng vùng nhất định. Tuy nhiên, chính sự khác nhau về phong tục tập
quán nên hàng hóa sản xuất ra muốn tiêu thụ được lại phụ thuộc rất nhiều vào
điều này.
1.4.3 Chính trị, pháp luật
Các quyết định kinh doanh chịu sự tác động mạnh mẽ của những tiến triển
trong môi trường chính trị và pháp luật. Môi trường này được tạo ra từ các luật lệ,
cơ quan chính quyền và các nhóm áp lực đã gây ảnh hưởng và ràng buộc tới mọi
tổ chức và cá nhân trong xã hội. Các nhà quản lý tiếp thị cần phải xem xét những
xu hướng chính yếu để đưa ra những quyết định có hiệu quả. Khi môi trường xấu đi
thì những điều luật mới của Chính phủ có thểthúc đẩy, ngăn cản hoạt động xã hội
hoặc tạo ra môi trường cạnh tranh trong hoạt động xuất nhập khẩu. Những biện
pháp của chính phủ nhằm kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu như: sự đòi hỏi bắt
buộc về giấy phép kinh doanh nhập khẩu, hìnhthức cực đoan hơn có thể là cấm

Mặt khác, vấn đề thông tin cho các doanh nghiệp trong kinh doanh cũng chưađược
cung cấp đầy đủ và không kịp thời đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt
hàng chủ yếu. Khi chúng ta nắm bắt được những thông tin về thị trường thì có lẽ
thông tin đó đã không còn giá trị nữa. Như vậy, yếu tố cạnh tranh là vô cùng quan
trọng đối với người làm công tác xuất nhập khẩu hàng hóa. Điều đó không chỉ phụ
thuộc vào sự nhanh nhạy, vào sự hiểu biết của doanh nghiệp mà còn cần sự hỗ trợ
từ phía chính phủ. Nhà nước thông qua nghiên cứu thị trường nước ngoài và chiến
lược phát triển kinh tế của các viện, các cơ quan quản lý đểđịnh hướng các sản
phẩm và thị trường xuất nhập khẩu chủ lực phù họp với nguồn lực trong giai đoạn
phát triển và bối cảnh quốc tế, đồng thời xây dựng hệthống chính sách, biện pháp
phục vụ việc phát triển sản phẩm chủ lực và mở rộng thị trường nước ngoài. Đến
SV: Nguyễn Thành Công Kinh tế quốc tế 52A
24
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Lê Tuấn Anh
lượt mình các nhà kinh doanh hiện đại hóa sự lựa chọn sản phẩm và thị trường. Sự
ganh đua, cạnh tranh, tìm tòi, sáng tạo để phát triển sản phẩm và thâm nhập thị
trường, đưa lại lợi nhuận cho công ty và nâng cao năng lực xuất khẩu cho đất nước.
Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia là ưu thế giữa các quốc gia về lao động,
vốn và sự thiên phú về tài nguyên, đất đai. Phải sử dụng lợi thế này để tạo ra những
sản phẩm có chi phí thấp. Một nước đông dân, ít vốn, lao động rẻ thì trước hết phải
định hướng sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao động. Vì vậy, khai thác tài
nguyên và phát triển những mặt hàng sử dụng nhiều lao động để xuất khẩu là sự lựa
chọn của hầu hết các nước Đông Á trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hóa. Tuy nhiên, lợi tế cạnh tranh của bất kỳ nước nào cũng có tính chất tương đối,
luôn luôn trong quá trình biến động và phát triển vì vậy cơ cấu xuất khẩu theo mặt
hàng cũng phải thay đổi. Tính quy luật của sự thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
là chuyển dần từ sản phẩm sử dụng nhiều lao động rẻ, không cần tay nghề cao như
sản phẩm dệt may, da giày sang các sản phẩm xuất khẩu sử dụng nhiều lao động
có tay nghề cao như hóa chất, điện tử, sắt thép, ôtô Cuối cùng là chuyển sang các
sản phẩm cần nhiều vốn và công nghệ cao như cơ khí chính xác, tự động hóa, thiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status