TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ngân hàng: NH
Ngân hàng trung ương: NHTW
Ngân hàng nhà nước: NHNN
Ngân hàng thương mại: NHTM
Ngân hàng thương mại cổ phần: NH TMCP
NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam: Techcombank
Máy rút tiền tự động: ATM
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
1. Biểu 2.1: Quy mô huy động vốn so với các NH khác
2. Biểu 2.2: Cơ cấu huy động theo loại hình của Techcombank
3. Biểu 2.3: Cơ cấu huy động theo thị trường của Techcombank
4. Biểu 2.4: Cơ cấu huy động theo kỳ hạn của Techcombank
5. Biểu 2.5: Phân tích nguồn huy động qua tài khoản thanh toán
1
6. Biểu 2.6: Phân tích nguồn huy động qua tiền gửi tiết kiệm
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn.
Nền kinh tế hiện nay có nhiều biến động nhất là về mặt giá cả chủ
yếu là giá xăng, giá hàng hoá tiêu dùng, giá vàng và sự mất giá của đồng
Việt Nam sau khi vượt qua năm 2009 đầy biến động với biết bao sự kiện
về sự khủng hoảng kinh tế trong và ngoài nước đã ảnh hưởng không nhỏ
tới tình hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng đặc biệt là nghiệp vụ huy
động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng
nhất của mỗi ngân hàng. Nguồn vốn huy động được chính là nguyên liệu
đầu vào với ngân hàng để từ đó ngân hàng sẽ luân chuyển và điều phối để
tạo ra những sản phẩm thiết thực cho thị trường. Để đảm bảo đầu vào của
ngân hàng được đều đặn và chi phí ít nhất luôn là mục tiêu đầu tiên với
mỗi ngân hàng. Trong giai đoạn hệ thống ngân hàng trong nước đang cạnh

Trong đó luận văn còn sử dụng phương pháp mô hình trong phân
tích tình hình huy động cũng như phương pháp lượng hoá rủi ro lãi suất
trong huy động của Techcombank.
5. Những đóng góp của luận văn.
Trên cở sở thống kê và phân tích về tình hình huy động vốn tại
Techcombank có so sánh với các ngân hàng khác trong nước và các ngân
hàng nước ngoài, luận văn đã tìm hiểu được điểm tích cực và điểm hạn chế
trong chính sách của Techcombank. Từ đó đưa ra giải pháp đúng đắn nhất
để tăng cường huy động vốn nhiều hơn cho ngân hàng đó là:
- Đa dạng hoá sản phẩm.
- Nâng cao công tác chăm sóc khách hàng.
- Nâng cấp hệ thống công nghệ ngân hàng.
- Đẩy mạnh công tác Marketing.
- Có chế độ đãi ngộ nhân viên tốt nhất và phù hợp với nhu cầu thực tế.
6. Kết cấu cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan về huy động vốn trong hệ thống ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại NH TMCP Kỹ Thương
Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại NH TMCP
Kỹ Thương Việt Nam.
Tuy nhiên, do bị hạn chế về cập nhật thông tin cũng như về kiến
thức, luận văn chắc chắn sẽ có thiếu sót. Kính mong nhận được nhiều ý
kiến đóng góp của Quý thầy cô, bạn bè và độc giả để nội dung luận văn
được hoàn chỉnh hơn.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI

thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền, tăng qui mô tài sản của người
kinh doanh tiền tệ. Việc cất trữ hộ nhiều người khác là điều kiện để thực hiện
thanh toán hộ và thanh toán không dùng tiền mặt. Với những ưu điểm của
mình thanh toán không dùng tiền mặt đã thu hút các thương gia gửi tiền nhiều
hơn.
Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng), các chủ cửa
hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền. Những ngân hàng
loại này được gọi là ngân hàng của những thợ vàng.
6
Nghề ngân hàng cũng được bắt đầu từ nghề cho vay nặng lãi. Một số
người cho vay nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ và thanh
toán hộ.
Những người kinh doanh tiền tệ đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay,
nhưng điều đó đã nhanh chóng thay đổi. Từ hoạt động thực tiễn, các chủ ngân
hàng nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra,
song tất cả người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc nên đã tạo số dư
thường xuyên ở ngân hàng. Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có
thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay. Hoạt động cho
vay tạo nên lợi nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều tìm cách
mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền.
Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được
ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất cho
vay.
Tóm lại, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền
kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ
hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ các yếu tố
trên đang không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính – bao
gồm cả các công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương
hỗ và công ty bảo hiểm ngân hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ
của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh

• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
• Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
tổ chức tín dụng nước ngoài.
8
• Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước.
• Các hình thức huy động khác theo quy định của nhà nước.
■ Hoạt động tín dụng:
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới
các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo
lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước. Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và
chiếm tỷ trọng lớn nhất.
* Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
* Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực
hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác
bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh.
Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM
không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.
* Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các
thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng
khác.
* Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng
phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và

10
Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ,
theo quy định của NHNN, thông qua các hình thức mua bán các công cụ của
thị trường tiền tệ.
Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc
thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường
trong nước và thị trường quốc tế.
Uỷ thác và nhận uỷ thác: NHTM được uỷ thác và nhận uỷ thác làm
đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản
lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng
uỷ thác, đại lý.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo
hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo
hiểm theo quy định của pháp luật.
Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính,
tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty
tư vấn trực thuộc ngân hàng.
Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật
quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan
theo quy định của pháp luật.
1.2. Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại:
Trong cơ chế thị trường, vốn là một trong những yếu tố tiên quyết tác
động đến quy mô và hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Ngân hàng thương
mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, một
tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Cho nên việc tạo
lập, tổ chức và quản lý vốn của ngân hàng thương mại là một trong những vấn
đề được quan tâm hàng đầu không chỉ với riêng bản thân các ngân hàng
thương mại mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế.
11
Một cách tổng thể, vốn của ngân hàng thương mại cũng bao gồm hai bộ

để đầu tư vào tài sản cố định của ngân hàng và hùn vốn liên doanh.
Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn
điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này được trích từ lợi
nhuận ròng (là lợi nhuận sau khi đã trừ thuế), hàng năm của ngân hàng. Việc
hình thành các quỹ này nhằm làm tăng vốn tự có của Ngân hàng, đồng thời
đảm bảo an toàn trong kinh doanh.
+ Vốn coi như tự có:
Vốn coi như tự có bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân
hàng. Đây là những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chỉ tiêu
nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng, ví dụ: lợi nhuận chờ phân bổ,
tiền lương chưa đến hạn thanh toán hoặc các quỹ chuyên dùng chưa sử dụng
đến như quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao tài sản cố định...
Vốn của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ (không quá 10%) trong
tổng nguồn vốn mà ngân hàng nắm giữ nhưng lại là nguồn vốn có ý nghĩa đặc
biệt vì nó phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng, do vậy nó quyết định
qui mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh,
thu hút những nguồn vốn khác và cho vay. Nó được ví như một cái đệm để
chống đỡ sự giảm giá trị của những tài sản có của ngân hàng, sự giảm giá trị
có thể đẩy ngân hàng đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản.
1.2.2. Nguồn tiền gửi:
1.2.2.1. Tiền gửi không kỳ hạn:
13
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào (nên còn
được gọi là “tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu”.
Tiền gửi không kỳ hạn được để trong các tài khoản gọi là tài khoản
vãng lai. Người gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi tài
khoản bất cứ lúc nào. Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền
gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng
trả lãi nhưng đổi lại người gửi tiền được sử dụng các dịch vụ thanh toán qua

vốn nhằm mục đích đã định, ví dụ để đầu tư cho một dự án...
Kỳ phiếu được phát hành theo hai phương thức:
- Phát hành theo mệnh giá: Trong hình thức này người mua trả tiền mua
kỳ phiếu theo mệnh giá như ghi trên kỳ phiếu. Khi đến hạn ngân hàng sẽ hoàn
trả vốn gốc và thanh toán lãi cho người mua kỳ phiếu.
- Phát hành dưới hình thức chiết khấu: Trong hình thức này người mua
sẽ trả số tiền mua kỳ phiếu bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng.
Khi đến hạn, ngân hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng theo mệnh giá của kỳ
phiếu. Như vậy, trong trường hợp này, khách hàng đã được trả lãi trước.
1.2.2.3. Tiền gửi tiết kiệm:
Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục
đích hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi
được ngân hàng công bố sẵn. Các kỳ hạn thường là 1, 3, 6 ,9, 12 tháng hoặc
trên 1 năm (18, 24 tháng...). Hình thức phổ biến và cổ điển nhất của tiền gửi
tiết kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho
người gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và tiền rút ra.
Quyển số này đồng thời có giá trị như một chứng thư xác nhận về khoản tiền
15
đã gửi. Ngoài ra, còn có những hình thức khác như chứng chỉ tiết kiệm, trái
phiếu tiết kiệm.
Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm bao gồm ba loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm mà
người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần
báo trước cho ngân hàng. Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất
thấp. Loại tiền gửi này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn, chỉ khác là nó
luôn được hưởng lãi, nhưng đổi lại không được hưởng các dịch vụ thanh toán
qua ngân hàng. Gửi tiền dạng này nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và
dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn đồng thời được hưởng
một chút lãi dù thấp.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi

Trong quá trình hoạt động, ngân hàng còn có thể vay vốn từ NHTW
hay các tổ chức tín dụng khác, hoặc từ thị trường tài chính trong và ngoài
nước.
1.2.3.1. Vay từ NHTW:
Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được NHTW cho phép thành lập
hoặc hoạt động đều hưởng quyền vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu
hụt dự trữ hay quá thiếu tiền mặt. NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng
thương mại chủ yếu dưới hai hình thức, đó là:
- Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá.
- Cho vay thế chấp hay ứng trước.
Do vậy, tiền vay NHTW còn gọi là tiền chiết khấu hay ứng trước.
Hiện nay, NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau:
17
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
- Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ
theo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản; dự trữ vật
tư, nguyên liệu; sản xuất hàng hoá XK thuộc diện ưu tiên...
1.2.3.2. Vay ngắn hạn các khoản dự trự từ các TCTD khác:
Mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo
qui định của NHTW. Trong quá trình hoạt động, một số ngân hàng thương
mại có những ngày cho vay quá nhiều dẫn đến sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại
NHTW. Trong khi đó lại có một vài ngân hàng thương mại khác thừa dự trữ.
Để đảm bảo dự trữ theo qui định của NHTW, ngân hàng thương mại thiếu hụt
dự trữ sẽ vay của ngân hàng thương mại có dự trữ dư thừa. Thời hạn của loại
cho vay này rất ngắn, thường không quá một tuần.
1.2.3.3. Vay từ các công ty:
Ở các nước phát triển, ngân hàng thương mại còn có thể vay trực tiếp
từ các công ty bằng các hình thức:
- Vay ngắn hạn bằng các Hợp đồng mua lại: Hợp đông mua lại là hợp

1.2.3.5. Vay nước ngoài:
Các ngân hàng thương mại cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động
từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nước ngoài. Do loại tiền sử dụng
trong thanh toán quốc tế hiện nay là USD cho nên vay tiền ở nước ngoài
thường vay bằng USD. Các ngân hàng thương mại ở Mỹ là những ngân hàng
đi đầu trong việc vay tiền ngoài nước để hoạt động ( từ những năm 1940). Đó
là những khoản vay mượn đô la Châu Âu, tức là những khoản tiền gửi bằng
19
USD thuộc các ngân hàng nước ngoài hoặc những chi nhánh ở nước ngoài
của các ngân hàng Mỹ là Châu Âu nên đã phát sinh thuật ngữ đô la Châu Âu
để chỉ các khoản vay USD từ Châu Âu của các ngân hàng thương mại Mỹ.
Đến những năm 1960, các ngân hàng thương mại ở các nước Nhật, Pháp,
Đức, Anh cũng phát hành phiếu nợ để vay USD từ nước ngoài không chỉ ở
Châu Âu mà còn lan sang các thị trường giàu có USD khác như các nước xuất
khẩu dầu lửa Trung Đông, Nam Mỹ, Đông Á... Tuy nhiên thuật ngữ đô la
Châu Âu vẫn tiếp tục được sử dụng khá phổ biến ở phần lớn các ngân hàng
trên thế giới để chỉ khoản tài sản nợ này.
Loại trái phiếu đô la Châu Âu chỉ dùng để vay USD và khi đến hạn
cũng trả vốn và lãi bằng USD. Thời gian đến hạn của loại trái phiếu này
thường rất ngắn, dưới 3 tháng. Trong những thị trường tài chính lớn như New
York, London, Paris... loại trái phiếu này được xem không khác gì USD.
Ở nhiều nước (Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan...) việc phát hành loại
trái phiếu Euro Dollar chỉ được giới hạn vào một số ngân hàng đặc biệt như
Ngân hàng ngoại thương, ngân hàng xuất nhập khẩu.
Vốn vay đã trở thành một nguồn vốn quan trọng hơn của ngân hàng
trong thời gian qua.
1.2.4. Các nguồn vốn khác:
- Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư để cho vay theo
các chương trình, dự án xây dựng...
- Vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ như

Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục
đích hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi
được ngân hàng công bố sẵn. Các hình thức kỳ hạn thường là 1, 3, 6, 9, 12
21
tháng hoặc trên 1 năm. Hình thức phổ biến và cổ điển nhất của tiền gửi tiết
kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người
gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận như một chứng thư xác nhận về khoản tiền
đã gửi. Ngoài ra, còn có những hình thức khác như chứng chỉ tiết kiệm, trái
phiếu tiết kiệm.
Tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn là nguồn vốn quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định vì ngân
hàng nắm được những kỳ luân chuyển của vốn, vì vậy ngân hàng có thể dùng
để cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn đều được.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM:
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của
NHTM, mỗi loại nguồn vốn chịu ảnh hưởng khác nhau bởi các nhân tố đó.
Do vậy, NHTM cần phải nghiên cứu đặc điểm của từng nguồn vốn và các
nhân tố ảnh hưởng để có những biện pháp huy động phù hợp với mục tiêu
tăng trưởng tương ứng của ngân hàng.
1.3.2.1. Các nhân tố chủ quan:
A, Lãi suất cạnh tranh:
Lãi suất là một trong những biến số chủ chốt, cơ bản mà ngân hàng có
thể tác động vào thị trường vốn, tác động vào các đối tượng khách hàng gửi
tiền khác nhau đặc biệt trong cơ chế thả nổi lãi suất như hiện nay. Định giá
nguồn vốn huy động là tiền gửi là một việc làm quan trọng và khá phức tạp
đối với các nhà quản trị ngân hàng. Nếu ngân hàng phải trả một mức lãi suất
lớn để thu hút và duy trì sự ổn định lượng tiền gửi của khách hàng thì phải
chịu áp lực về gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận. Tuy nhiên, trước sự cạnh
tranh gay gắt giữa các ngân hàng, việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh là
điều khó tránh khỏi. Các ngân hàng cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn vốn

nhiều năm, có đội ngũ lãnh đạo và nhân viên chuyên nghiệp, năng động, nhiệt
tình, sáng tạo, thương hiệu của ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến và
tin tưởng thì việc huy động vốn sẽ rất thuận lợi.
- Chiến lược cạnh tranh khách hàng: mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực
tài chính – ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, các tổ chức tài chính phi
ngân hàng cũng được phép huy động vốn trên thị trường sẽ làm cho thị phần
của các ngân hàng giảm đi. Do vậy, các NHTM muốn thu hút được vốn cần
phải tăng cường các giải pháp và chính sách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất
nhu cầu của khách hàng về chất lượng, chủng loại, dịch vụ ngân hàng, kích
thích nhu cầu của khách hàng để đạt mức sử dụng sản phẩm của ngân hàng
cao nhất. Cần phải xác định rằng ngay khi ngân hàng tạo ra được một sản
phẩm được xã hội ưa chuộng thì trong thời gian ngắn gần như lập tức, các
ngân hàng khác cũng có thể tạo ra sản phẩm đó để cạnh tranh. Do vậy, ngân
hàng các ngân hàng phải luôn luôn cải tiến và nâng cao năng lực cạnh tranh
mới giữ vững được vị trí trong thị trường.
- Công nghệ: Trong lĩnh vực tài chính đặc biệt là ngân hàng thì công
nghệ đóng vai trò then chốt trong việc duy trì và phát triển hệ thống ngân
hàng. Một ngân hàng có được hệ thống công nghệ phát triển đồng nghĩa với
ưu thế cạnh tranh trong thị trường về tính nhanh nhạy và chính xác. Do vậy,
ưu tiên phát triển công nghệ là một trong những yêu cầu quan trọng trong
chiến lược phát triển ngân hàng.
- Chính sách đãi ngộ nhân viên: Một chính sách khuyến khích nhân
viên sẽ tạo động lực cho cả một tập thể đoàn kết và cùng nhau tiến lên. Chính
sách này không chỉ đánh giá trên tiền lương, thưởng tốt mà còn là môi trường
làm việc chuyên nghiệp và cơ hội thăng tiến cho mỗi cá nhân có khả năng.
Với sự cam kết về chính sách tốt sẽ giữ được nhân viên gắn bó lâu dài và
cống hiến hết khả năng cho ngân hàng.
24
1.3.2.2. Các nhân tố khách quan:
- Lạm phát: làm giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát tác động tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status