LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 62

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .
1. Khái quát chung về NHTM.
1.1 KHÁI NIỆM VỀ NHTM:
Để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM,
người ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị
trường tài chính. Theo như Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 đã nêu: “
Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu
tư”... Định nghĩa như trên là căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động của
NHTM .
Một loại định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp giữa tính chất, mục
đích với đối tượng hoạt động như: Luật Ngân hàng của Đan Mạch ban hành
năm 1930 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những nhà băng thực hiện
các nghiệp vụ thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng
bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và
hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm...”.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa NHTM,
nó tuỳ thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ
nhưng khi đi sâu phân tích, người ta dễ dàng nhận thấy rằng: Tất cả các
NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không
kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các
dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng.
Từ thực tiễn đó, để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động các Ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
chung của nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá
nhân tham gia hoạt động kinh doanh. Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng
của Việt nam ban hành 02/ 1997/QH 10 đã nêu: “Ngân hàng thương mại là
doanh nghiệp, hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung là thường xuyên nhận tiền gửi và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Theo như khái niệm trên thì NHTM sẽ hoạt động kinh doanh như một
một doanh nghiệp thực thụ, có hoạch toán thu chi, có tính đến hiệu quả

nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích bảo quản
hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
 Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có
tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả
năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền
kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và
tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.
 Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục
đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị
trường tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu
hay vay có đảm bảo... Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước chủ
yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó
không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.
 Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo
vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không
thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các
Ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng
phù hợp với đối tượng các khoản vay.
 Vốn tự có của NHTM :
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Lượng vốn này chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý
bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định,
ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở
vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân
hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trong thực tế
khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh

theo cơ chế thị trường, hoạt động thu - chi hộ, chuyển tiền qua Ngân hàng
ngày càng được mở rộng và phát triển. Các Ngân hàng đã không ngừng áp
dụng những tiến bộ, thành tựu khoa học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh
doanh của ngân hàng làm cho nghiệp vụ này ngày càng được thay đổi về chất.
2. VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :
2.1. Khái niệm và đặc điểm vốn kinh doanh của NHTM:
Khi nói đến thuật ngữ “Trung gian tài chính” người ta thường hay nghĩ
tới hai loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao gồm các
Ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các trung gian
đầu tư (bao gồm các công ty tài chính, các quỹ tương trợ, các công ty bảo
hiểm....). Nhưng cho dù có được hiểu thế nào đi chăng nữa thì NHTM, xét về
khối lượng tài sản cũng như những đóng góp đối với nền kinh tế, vẫn luôn giữ
một vai trò quan trọng. Các NHTM có thể được tổ chức theo nhiều loại hình
khác nhau, chẳng hạn như Ngân hàng tư nhân, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng
quốc doanh và các ngân hàng liên doanh. Dưới bất kỳ hình thức nào, các
NHTM vẫn luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu và để làm được
điều đó, công cụ duy nhất mà các Ngân hàng phải có đó là vốn.
Các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về vốn của NHTM như sau:
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản
thân Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho
vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Theo như định nghĩa trên thì nguồn vốn mà Ngân hàng tạo lập được sẽ
là một phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất,
phân phối và tiêu dùng, được người chủ sở hữu của khoản vốn đó gửi vào
Ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cách khác, họ chuyển
quyền sử dụng khoản vốn tiền tệ đó cho Ngân hàng để rồi nhận được một
khoản thu nhập từ phía ngân hàng. Như vậy, NHTM đã thực hiện vai trò tập
trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế dưới hình thức tiền tệ, kết quả là
làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt
động sản xuất - kinh doanh phát triển. Nhưng đồng thời cũng chính các hoạt

dụ: Đối với các Ngân hàng cổ phần, vốn điều lệ là vốn do các cổ đông đóng góp
dưới hình thức mua cổ phiếu; còn đối với các Ngân hàng quốc doanh, vốn điều
lệ là vốn ban đầu do ngân sách cấp....
_ Vốn tự có bổ sung:
Vốn tự có bổ sung là một bộ phận trong nguồn vốn tự có của NHTM,
nó tồn tại dưới dạng các quỹ chuyên dụng cũng như các quỹ đặc biệt của
ngân hàng như: quỹ dự trữ bổ sung, quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ phúc lợi,
quỹ khen thưởng..., các khoản lợi nhuận chưa phân phối. Và nhờ có nguồn
vốn này mà vốn tự có của Ngân hàng không ngừng được gia tăng cả về quy
mô lẫn số lượng theo thời gian.
2.1.2 Vốn huy động.
Vốn huy động của NHTM được xem là những giá trị tiền tệ mà Ngân
hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông
qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và được dùng làm vốn kinh
doanh. Trong thực tế, ngân hàng có thể sử dụng nhiều công cụ huy động vốn
khác nhau nhưng nhìn chung vẫn tập chung chủ yếu vào các công cụ sau:
a) Nhận tiền gửi:
Tiền gửi tại NHTM bao gồm có tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ
hạn. Trong đó:
_ Tiền gửi không kỳ hạn: là tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng
bất cứ lúc nào và ngân hàng có trách nhiệm phải thoả mãn yêu cầu đó của
khách hàng. Do tính lỏng cao như vậy nên loại tiền gửi này thường được ngân
hàng trả lãi thấp hoặc không được trả laĩ và bao gồm hai loại đó là: Tiền gửi
thanh toán và tiền gửi thanh toán thuần tuý.
_ Tiền gửi có kỳ hạn: khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn là
loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và Ngân hàng về thời
gian rút tiền. Phần lớn nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về
bản chất chúng được gửi vào Ngân hàng với mục đích hưởng lãi.
b) Nhận tiền gửi tiết kiệm:
Về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận thu nhập của người lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status