TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
Trương Tuấn Anh
HUY ĐỘNG VỐN
CHO CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THANH BÌNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội, Năm 2008
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
Trương Tuấn Anh
HUY ĐỘNG VỐN
CHO CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THANH BÌNH HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh công nghiệp và xây dựng
Khoá : 14
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN ĐÌNH PHAN
2
Hà Nội, Năm 2008
MỞ ĐẦU
Trong quá trình vận động lên nền kinh tế thị trường của Việt Nam, vốn
trở thành nguồn lực cơ bản, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực này
là yếu tố quyết định cho sự hưng thịnh hay suy vong của doanh nghiệp.
Những năm qua, bất động sản đang là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn, thu
hút được nhiều vốn đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tuy nhiên,
năm 2008 nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do hậu quả của
một số sai lầm trong chính sách vĩ mô những năm trước đây, dẫn đến lạm
phát tăng cao, tăng trưởng chậm lại, tín dụng thắt chặt, thị trường chứng
khoán suy thoái, thị trường bất động sản trầm lắng… điều đó tác động trực
- Nâng cao hiểu biết của người nghiên cứu trong lĩnh vực đầu tư kinh
doanh bất động sản, lĩnh vực tài chính.
- Giải quyết nhu cầu huy động và sử dụng vốn để tài trợ cho các dự án
bất động sản Công ty cổ phần Thanh Bình Hà Nội tham gia đầu tư.
- Hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn có một số ý nghĩa:
- Khi có đầy đủ vốn, Công ty sẽ cung cấp ra thị trường một số lượng
lớn các căn hộ và diện tích văn phòng cho thị trường Hà Nội nói riêng và thị
trường cả nước nói chung - góp phần giải quyết nhu cầu bức thiết của nhân
4
dân về nhà ở và của doanh nghiệp về văn phòng, gián tiếp làm tăng tính hấp
dẫn cho môi trường đầu tư toàn xã hội.
- Tạo công ăn việc làm, giúp ổn định đời sống của cán bộ công nhân
viên.
- Tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư gồm: bên vay và bên cho vay,
đồng thời đóng góp vào ngân sách thông qua các khoản thuế.
Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các hình thức huy động vốn đang được sử dụng phổ biến.
- Tình hình tài chính của Công ty.
- Nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án bất động sản của Công ty cổ phần
Thanh Bình Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu
Các báo cáo tài chính, các dự án bất động sản Công ty cổ phần Thanh
Bình Hà Nội đang tham gia đầu tư.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau: phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống, phương pháp điều
tra, tổng kết điển hình, tổng hợp, thống kê, so sánh, duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để tìm hiểu, đánh giá, phân tích và đưa ra
Các quan niệm đã nêu về vốn đều phản ánh được khía cạnh nào đó liên
quan đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên, các khái niệm đó
6
được trình bày dưới các góc nhìn khác nhau và mục tiêu nghiên cứu khác
nhau, vì vậy chưa thể hiện một cách nhìn tổng thể về vốn của doanh nghiệp.
Vốn có thể có nhiều dạng khác nhau được phân nhóm thành hai loại:
Vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền được coi là nguồn tài
chính của doanh nghiệp. Nguồn tài chính này là cơ sở để có được các điều
kiện sản xuất, tức là các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, địa điểm sản xuất
kinh doanh, thiết bị, nguyên vật liệu và các điều kiện khác.
Vốn của doanh nghiệp còn có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là số tiền
và tài sản hữu hình khác, doanh nghiệp có được nguồn tài chính của chính
mình, tức là không tính đến nguồn tài chính doanh nghiệp có được nhờ đi
vay. Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thường dùng vốn theo nghĩa rộng để chỉ
toàn bộ nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, không phân biệt nguồn huy
động.
Từ những phân tích đã nêu, thì vốn của doanh nghiệp ( theo cách hiểu
vốn tài chính) có thể coi là giá trị bằng tiền của tất cả các nguồn lực có thể
chuyển thành tiền được doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng nhằm mục đích thu
được lợi ích lớn hơn trong tương lai, không phân biệt nguồn gốc hình thành
và không phân biệt hình thái biểu hiện.
Thông thường, giá trị doanh nghiệp bao gồm cả giá trị hữu hình và giá
trị vô hình của doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế, khi đánh giá vốn của
doanh nghiệp người ta chỉ tính đến các giá trị hữu hình, chính vì vậy, vốn
cũng có thể hiểu khác với phạm trù “ giá trị doanh nghiệp”.
Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp
và biến đổi theo thời gian. Với những doanh nghiệp kinh doanh thành công,
vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng, vì sau mỗi chu kỳ kinh
doanh, vốn ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được ( lợi
nhuận dùng để tái đầu tư ). Phần bổ sung này nhiều hay ít phụ thuộc vào mức
kết quả dự tính trong các phương án kinh doanh giảm đi và doanh nghiệp gặp
khó khăn trong việc trả nợ.
1.2.2. Nguyên tắc hiệu quả
Cần lựa chọn bảo đảm hiệu quả huy động vốn cao nhất trong những
điều kiện nhất định. Như trên đã trình bày, trong điều kiện thị trường tài chính
càng phát triển thì doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn
vốn khác nhau để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do đó cần lựa chọn nguồn
vốn thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn.
Hiệu quả của việc sử dụng các hình thức huy động vốn không chỉ thể hiện ở
hiệu quả đầu tư mà nguồn vốn mang lại, mà còn thể hiện ở khả năng dễ dàng
tiếp cận và huy động các nguồn vốn, ở lợi ích của chủ doanh nghiệp khi sử
dụng nguồn vốn đó, như khả năng làm tăng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp
và lợi nhuận tích luỹ.
1.2.3. Nguyên tắc số lượng và thời gian
Việc huy động vốn cần bảo đảm đáp ứng nhu cầu về số lượng và thời
gian: một ý đồ đầu tư, kinh doanh sẽ không thể thực hiện được nếu không có
đủ một lượng vốn nhất định theo nhu cầu được tính toán, do đó, khi huy động
phải bảo đảm đủ về số lượng và tính tương thích về thời gian. Thực tế, hiện
nay một số doanh nghiệp thường phải nâng mức nhu cầu ghi trong các yêu
cầu huy động vốn để có thể có đủ số vốn cần thiết khi dự án được phê chuẩn,
điều đó làm cho các dự án không còn chặt chẽ. Ngoài ra, rất nhiều trường hợp
cách tính toán thời gian cho vay của các ngân hàng thường quá cứng nhắc nên
các doanh nghiệp không bảo đảm hạn trả tiền, phải chịu lãi suất quá hạn, chi
phí cao.
1.2.4. Nguyên tắc giảm thiểu chi phí giao dịch
9
Huy động vốn cần bảo đảm giảm thiểu chi phí giao dịch: Một nguồn
vốn với lãi suất thấp đôi khi có thể trở nên quá đắt do chi phí liên quan đến
giao dịch về vốn quá cao. Nguyên nhân chi phí giao dịch cao có thể là: thủ tục
hành chính phức tạp, quy trình giải ngân phiền toái, chi phí tư vấn cao hoặc
10
Những khác biệt chủ yếu giữa Nợ phải trả và Nguồn vốn chủ sở hữu
( trong đó chủ yếu là vốn cổ phần) được trình bày ở bảng dưới đây:
(1)
Bảng 1.1. Những đặc điểm của Nợ phải trả và Vốn cổ phần
Nợ phải trả Vốn cổ phần
1- Doanh nghiệp nhận được chúng từ
những thành phần không phải là chủ
sở hữu của nó
1- Do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp tài trợ
2- Phải trả lãi cho những khoản tiền
đã vay
2- Không trả lãi cho vốn cổ phần đã
huy động được mà sẻ chia lợi tức cổ
phần cho các chủ sở hữu nếu công ty
làm ra được lợi nhuận
3- Mức lãi suất phải trả cho các
khoản nợ vay thường theo một mức
ổn định được thỏa thuận khi vay
3- Lợi tức cổ phần chia cho các cổ
đông tuỳ thuộc vào quyết định của
Đại hội đồng cổ đông và nó thay đổi
theo mức lợi nhuận mà công ty thu
được
4- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ vay
cho chủ nợ vào một thời điểm nào đó
trong tương lai ngoại trừ trường hợp
nguồn huy động là trái phiếu tuần
hoàn
trợ dài hạn mà doanh nghiệp nhận
được
3- Lãi suất của các nguồn tài trợ ngắn
hạn thường thấp hơn nợ vay dài hạn
3- Lãi suất tài trợ dài hạn thường cao
hơn so với lãi suất của nguồn tài trợ
ngắn hạn
2.1. Huy động vốn Nợ phải trả
2.1.1. Nguồn tài trợ ngắn hạn
Nguồn tài trợ ngắn hạn là những khoản tiền mà công ty phải hoàn trả
trong vòng một năm kể từ ngày nhận được chúng. Nguồn tài trợ này bao gồm
các khoản Tín dụng thương mại mà công ty nhận được từ các nhà cung cấp
khi mua các loại hàng hóa dưới hình thức mua chịu, mua bằng tiền quỹ
(deposits).Ngoài ra, nó còn bảo gồm tiền đặt cọc của khách hàng để mua hàng
hóa hay dịch vụ theo hợp đông và những khoản tiền vay ngắn hạn do các
12
ngân hàng, công ty tài chính, công ty mua nợ, công ty bảo hiểm tài trợ. Đồng
thời, nó cũng bao gồm các khoản nợ tích lũy gồm có nợ các loại tiền lương
của công nhân mà công ty chưa trả, nợ tiền thuế những chưa trả cho Chính
phủ, và lợi tức của phần theo sổ sách mà chưa phải trả cho cổ đông. Các ngồn
tài chính ngắn hạn có thể được phân thành 3 nhóm chính: nguồn tài trợ ngắn
hạn không cho vay mượn, nguồn tài trợ ngắn hạn không có đảm bảo và nguồn
tài trợ ngắn hạn có đảm bảo.
2.1.1.1. Tín dụng thương mại
Một công ty có thể dựa vào nguồn tín dụng mở rộng do mua hàng hóa
của các nhà cung cấp dựa trên “tài khoản mở” như là một nguồn tài trợ ngắn
hạn. Hình thức tín dụng này được gọi là hình thức “tín dụng thương mại” và
hoàn toàn khác so với các hình thức tín dụng ngắn hạn khác vì nó không phải
do các định chế tài chính tài trợ.
Khi công ty quyết định tài trợ này phải luôn luôn nghĩ tới hậu quả lâu
thể dựa vào các định chế tài chính để nhận được những khoản tiền vay ngắn
hạn không bảo đảm. Những khoản cho vay này là những khoản vay do các
ngân hàng tài trợ cho công ty mà không đòi hỏi bất cứ sự bảo đảm nào. Các
hình thức cho vay ngắn hạn không có bảo đảm chủ yếu là:
a. Hạn mức tín dụng hay Thấu chi.
b. Hợp đồng tín dụng tuần hoàn.
c. Tín dụng thư.
d. Cho vay theo hợp đồng.
A. Hạn mức tín dụng hay Thấu chi (Line of credit or Overdraf)
Hạn mức tín dụng hay thấu chí ngân hàng là một thỏa thuận giữa công
ty và ngân hàng mà theo đó, ngân hàng tạo sẵn một khoản tín dụng nào đó
cho công ty. Thí dụ nếu một thỏa thuận quy định hạn mức tín dụng cho một
công ty là 500.000$, điều đó có nghĩa là công ty đo có thể mượn được số tiền
14
lên tới 500.000$ của ngân hàng. Số tiền này là tổng số tín dụng mà ngân hàng
bằng lòng tạo sẵn cho công ty. Loại tín dụng này thường được thiết lập trên
cơ sở từng năm. tại thời điểm kết thúc mỗi năm, ngân hàng sẽ xem xét lại tình
hình hoạt động tài chính của công ty, và dựa trên cơ sở xem xét này có thể gia
hạn hay điều chỉnh tổng mức tín dụng cho công ty trong năm kế tiếp. Hình
thức tín dụng thuận lợi này thường được hiểu là thấu chi ngân hành (rút vượt)
được tạo ra để cung cấp nguồn tài chính nhất định đủ bù đắp phần chênh lệch
giữa dòng lưu kim tiền thu nhập và dòng lưu kim chi phí của công ty.
Tiền lãi của hình thức cho vay này tùy thuộc vào tổng giá trị tín dụng
thấu chi của công ty đã sử dụng và công ty được phép tính khoản tiền trả lãi
này cho chi phí hàng ngày.
Nhìn chung, đây là hình thức tài trợ có chi phí thấp nhất đối với các
doanh nghiệp. Song điều bất lợi của hình thức tài trợ này là nếu công ty vay
tiền theo thỏa thuận này thì phải duy trì đảm bảo khae ăng tài chính, đề phòng
có thể phải trả lại những khoản vay này khi ngân hàng yêu cầu, tức là ngân
hàng có thể từ chối thể hiện hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
Để được chấp thuận mở tín dụng thư, thì trước đó nhà nhập khẩu phỉa
có một khoản tiền ký quỹ tại ngân hàng. Độ lớn của khoản tìên kỹ quỹ tùy
thuộc vào vị thế tín dụng của nhà nhập khẩu theo cách đánh giá của ngân
hàng và tùy theo quy định của Chính Phủ.
D. Tài trợ theo hợp đồng (Transaction Loan).
Theo hình thức thỏa thuận này, khi công ty nhận được đơn đặt hàng của
một khách hàng, họ có thể tiếp xúc với một ngân hàng và yêu cầu cho vay
một khoản tiền để tài trợ cho hợp đồng. Thí dụ, một công ty vừa nhân được
16
một hợp đồng do một công ty lớn và có tình hình tài chính lành mạnh đặt
hàng, công ty đề nghị một ngân hàng cho vay một khoản tiền theo thể thức
cấp tài trợ theo hợp đồng để mua nguyên liệu và thanh toán các khoản chi phí
khác nhằm hoàn thành hợp đồng. Ngân hàng thường rất sẵn sàng chấp thuận
tài trợ theo thể thức này, nhất là khi khoản tiền họ cho vay được sử dụng để
tài trợ cho một hợp đồng ký kết giữa công ty mượn tiền với công ty lớn và
đáng tin cậy, bởi như vậy họ được đảm bảo sẽ thu hồi nợ đúng hạn.
Theo những điều kiện của tài trợ theo hợp đồng, khoản tiền cho vay
phải được thu hồi càng sớm càng tốt như những khoản tiền thanh toán nhận
được từ hợp đồng. Tuy nhiên, nếu trong khi đang thực hiện hợp đồng mà
công ty ký tiếp một hợp đồng khác, ngân hàng có thể xem xét và chấp thuận
cho vay một khoản tiền khác dựa trên cơ sở giao dịch thứ hai.
Hình thức tài trợ theo hợp đồng thường rất hay được sử dụng để tài trợ
cho các doanh nghiệp nhỏ, nhất là các nhà thầu.
Tỷ lệ lãi suất của các khoản cho vay không có bảo đảm thường thay đổi
tùy theo từng công ty và tùy từng ngân hàng, tùy thuộc vào vị trí tín dụng của
công ty đi vay. Một công ty có uy tín tín dụng cao sẽ phải trả lãi suất vay với
tỷ lệ thấp hơn công ty không có danh tiếng. Các ngân hàng thường tiến hành
phân loại khách hàng của họ thành nhiều loại khác nhau tùy theo mức độ rủi
ro và vị thế tín dụng của họ.
2.1.1.3. Tài trợ ngắn hạn có bảo đảm
Một khi giá trị này đã được xác định, công ty đi vay sẽ gửi ngân hàng
cho vay một bản danh mục liệt kê danh sách các khoản phải thu, cùng thời
hạn trả và tổng số tiền. Sau đó công ty sẽ yêu cầu ngân hàng cho một cam kết
18
bằng văn bản để chuyển tất cả các khoản phải thu sang phần thanh toán và bù
trừ cân đối công nợ. Thông thường, một khi doanh nghiệp đã được ngân hàng
tài trợ, ngân hàng có thể tiếp tục cho vay trên cơ sở cầm cố những khoản phải
thu mới như những giao dịch đã xảy ra trước đó.
B. Mua nợ
Các định chế tài chính có thể phải mua những khoản phải thu để gia
tăng nguồn tín dụng ngắn hạn của doanh nghiệp. Các tổ chức mua nợ thường
là một ngân hàng, một công ty tài chính hay công ty mua nợ. Sau khi việc
mua bán hoàn tất bên mua nợ có trách nhiệm thu hồi các khoản nợ theo các
chứng từ đã mua và chịu mọi rủi ro khi gặp những món nợ khó đòi (mua nợ
được áp dụng cho cả bán hàng trong nước và xuất khẩu).
Bên cạnh việc có nguồn tài chính như mong muốn, mua nợ còn cho
phép một doanh nghiệp chấp nhận bán chịu cho khách hàng mà không phải
chịu nhiều rủi ro, bởi công ty mua nợ sẽ kiểm tra tài chính của khách hàng
trước khi quyết định mua chứng từ bán hàng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì
nó là một nguồn tài trợ nên chi phí huy động vốn theo hình thức thỏa thuận
mua nợ khá cao, bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí kiểm tra tư cách tín dụng
của khách hàng hay những rủi ro không thu hồi được vay nợ.
C. Vay thế chấp bằng hàng hóa
Bên cạnh các chứng từ bán hàng, các loại hàng hóa, tài sản cũng
thường được sử dụng để thế chấp cho các khoản vay ngắn hạn,. Trị giá của
khoản vay thuộc loại thế chấp này tùy thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng
chuyển đổi nhanh, và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hóa thế chấp.
Nếu những hàng hóa, tài sản này không có rủi ro, có thể bán nhanh trên thị
trường và có giá cả ổn định thì khoản tiền vay mượn sẽ chiếm một tỷ lệ khá
cao so với giá trị ghi trên chứng từ.
cộng trước khi chấp nhận cho vay.
Theo hình thức thỏa thuận cho vay này, công ty vay tiền không được
phép bán bất cứ một phần nào những hàng hóa đã được gửi vào kho công
cộng nếu không được sự chấp thuận bằng văn bản ở ngân hàng. Ngân hàng
chỉ đồng ý cấp giấy phép bán những hàng hóa thế chấp này khi họ được đảm
bảo rằng, công ty vay tiền sẽ thanh toán món nợ một cách nhanh chóng ngay
khi nhận được tiền bán những hàng hóa đó.
Vay ký thác bằng chứng từ lưu kho hàng cồng kềnh.
Loại thỏa thuận này tương tự như thỏa thuận vay có thế chấp bằng ký
hóa phiếu hàng di chuyển được, chỉ khác là những tài sản trên công ty vay
tiền được thay thế bằng một hóa đơn lưu kho nội bộ của công ty. Thông
thường ngân hàng chỉ chấp thuận loại cho vay này đối với những hàng hóa
quá cồng kềnh, không thuận tiện khi chuyển vào kho công cộng. Những loại
hàng hóa này có thể là gỗ chưa xẻ, ván ép, hay sắt thép vv...
Để đương
Theo thỏa thuận này, công ty đi vay lập một bảng danh mục tất cả các
loại tài sản thế chấp cho vay món tiền. Trên cơ sở đó, ngân hàng lựa chọn một
số tài sản trong đó làm vật thế chấp và chỉ xét cho vay dựa trên những tài sản
thuộc danh sách đã chọn trong khoảng thời gian đã định. Vật thế chấp theo
hình thức cho vay này vẫn thuộc quyền quản lý của người vay tiền và ngân
hàng chỉ giữ giấy phép của chúng.
Tuy nhiên, vì lẽ khi cho vay dưới hình thức để đương không chở thành
phổ biến và ngân hàng nhận thấy rất khó giám sát lại giao dịch tín dụng này
nên họ thường tránh tài trợ với số lượng lớn. Một lý do nữa khiến cho các
ngân hàng chỉ cho vay một số lượng nhỏ đối với hình thức này là do chi phí
21
và sự phiền phức liên quan đến việc phát mãi tái sản thế chấp khi công ty vay
tiền không trả được nợ.
2.1.2. Nguồn tài trợ dài hạn
Nguồn ngân quỹ dài hạn là những khoản tiền có thời hạn sử dụng dài
dụng đối với những tài sản được mua bằng tiền mặt. Hơn thế nữa. tỷ lệ lãi
suất thực trong các giao dịch thuê mua trả góp lên tới hơn 25%/năm, mặc dù
lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng chỉ ở mức 10 – 12%/năm và mức lãi suất
này gần như là một tỷ lệ cố định. Mặt khác, một bất lợi nữa đối với doanh
nghiệp đi thuê là nếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán, họ có nguy cơ
bị mất quyền sở hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng, vì nó đã bị phá
vỡ.
2.1.2.2. Tín dụng thuê mua (lease financing)
Thay vì mua tài sản theo hình thức thuê mua trả góp, doanh nghiệp có
thể sử dụng hình thức thuê tài chính hay thuê vận hành (finance lease or
operating lease) để thuê tài sản của công ty thuê mua hay công ty tài chính.
Khi công ty tiến hành thuê một tài sản, thì họ sẽ được quyền sử dụng tài sản
đó (như máy photo copy, máy vi tính, xe ô tô) như thỏa thuận và phải thanh
toán tiền thuê theo định kỳ cho người chủ tài sản. Hợp đồng được thiết lập
giữa công ty và chủ tài sản có thể quy định rằng, công ty không được quyền
trả lại tài sản và cũng không được từ chối thanh toán tiền thuê trong thời hạn
thuê mướn cơ bản. Đồng thời, nó cũng có thể cho phép công ty được quyền
lựa chọn trả lại tài sản sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thông báo trước với chủ
sở hữu theo quy định trong hợp đồng.
Những đặc điểm căn bản của thỏa thuận thuê mua được trình bày trong
hình như sau:
23
Bảng 1.3. Những đặc điểm căn bản của thoả thuận thuê mua
Người cho thuê
- Có tài sản, thiết bị sẵn sàng để cho
thuê
- Nhận tiền thuê do người thuê trả
- Được hưởng giá trị còn lại của tài
sản
làm giảm thuế lợi tức, do đó nếu thuế
suất của công ty cao hơn thuế suất
của người cho thuê, thì sẽ thu được
lợi nhuận.
4. Công ty không được những khoản
tiền khấu hao trên mức thuế suất của
người cho thuê.
24
Người cho thuê
(chủ sở hữu)
Người thuê (người
sử dụng)
5. Thuê mua giúp công ty tránh được
sự lạc hậu về công nghệ, vì thông qua
nó công ty có thể thay thế những thiết
bị lạc hậu bằng những thiết bị hiện
đại.
Do đó, bằng việc chấp thuận một thỏa thuận thuê tài chính, công ty có
thể có được tài sản để sử dụng mà không phải mua nó. Đây là một hình thức
tài trợ rất hay được sử dụng để có tài sản, bởi nếu nguồn này không có sẵn,
công ty sẽ phải tìm nguồn tài trợ bằng hình thức khác để mua thiết bị.
Ngoài ra, bên cạnh việc công ty sẵn sàng để sở hữu một thiết bị đắt tiền
bằng cách thuê mua một tài sản, thì công ty còn có thể nhận được nguồn tài
trợ bằng cách bán tài sản của họ cho một định chế tài chính để lấy tiền mặt, để
rồi sau đó thuê mua lại chính tài sản đó từ định chế tài chính vừa mua của họ.
Hình thức tăng vốn này được gọi là hình thức bán và tái thuê và nó là một
hình thức huy động vốn trung hạn rất thông dụng.
2.1.2.3. Các khoản vay có định kỳ hay có kỳ hạn.
Một doanh nghiệp có thể tăng ngân sách thông qua hình thức đi vay với
thời gian đáo hạn hơn một năm, bằng cách thế chấp một số tài sản của họ như