HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THANH BÌNH HÀ NỘI - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
Trương Tuấn Anh
HUY ĐỘNG VỐN
CHO CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THANH BÌNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội, Năm 2008
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
Trương Tuấn Anh
HUY ĐỘNG VỐN
CHO CÁC DỰ ÁN BẤT ĐỘNG SẢN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN THANH BÌNH HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh công nghiệp và xây dựng
Khoá : 14
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN ĐÌNH PHAN
Hà Nội, Năm 2008
MỞ ĐẦU
Trong quá trình vận động lên nền kinh tế thị trường của Việt Nam, vốn
trở thành nguồn lực cơ bản, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực này
là yếu tố quyết định cho sự hưng thịnh hay suy vong của doanh nghiệp.
Những năm qua, bất động sản đang là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn, thu
hút được nhiều vốn đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tuy nhiên,
năm 2008 nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do hậu quả của
một số sai lầm trong chính sách vĩ mô những năm trước đây, dẫn đến lạm
phát tăng cao, tăng trưởng chậm lại, tín dụng thắt chặt, thị trường chứng
khoán suy thoái, thị trường bất động sản trầm lắng… điều đó tác động trực
tiếp đến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, đặc biệt là

- Giải quyết nhu cầu huy động và sử dụng vốn để tài trợ cho các dự án
bất động sản Công ty cổ phần Thanh Bình Hà Nội tham gia đầu tư.
- Hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn có một số ý nghĩa:
- Khi có đầy đủ vốn, Công ty sẽ cung cấp ra thị trường một số lượng
lớn các căn hộ và diện tích văn phòng cho thị trường Hà Nội nói riêng và thị
trường cả nước nói chung - góp phần giải quyết nhu cầu bức thiết của nhân
dân về nhà ở và của doanh nghiệp về văn phòng, gián tiếp làm tăng tính hấp
dẫn cho môi trường đầu tư toàn xã hội.
- Tạo công ăn việc làm, giúp ổn định đời sống của cán bộ công nhân
viên.
- Tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư gồm: bên vay và bên cho vay,
đồng thời đóng góp vào ngân sách thông qua các khoản thuế.
Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các hình thức huy động vốn đang được sử dụng phổ biến.
- Tình hình tài chính của Công ty.
- Nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án bất động sản của Công ty cổ phần
Thanh Bình Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu
Các báo cáo tài chính, các dự án bất động sản Công ty cổ phần Thanh
Bình Hà Nội đang tham gia đầu tư.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau: phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống, phương pháp điều
tra, tổng kết điển hình, tổng hợp, thống kê, so sánh, duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để tìm hiểu, đánh giá, phân tích và đưa ra
một số ý kiến của mình, nhưng với hiểu biết còn chưa hoàn thiện, bản Luận
văn tốt nghiệp này chưa thể phản ánh đầy đủ và giải quyết triệt để vấn đề nêu
ra. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn đọc

Vốn có thể có nhiều dạng khác nhau được phân nhóm thành hai loại:
Vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền được coi là nguồn tài
chính của doanh nghiệp. Nguồn tài chính này là cơ sở để có được các điều
kiện sản xuất, tức là các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, địa điểm sản xuất
kinh doanh, thiết bị, nguyên vật liệu và các điều kiện khác.
Vốn của doanh nghiệp còn có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là số tiền
và tài sản hữu hình khác, doanh nghiệp có được nguồn tài chính của chính
mình, tức là không tính đến nguồn tài chính doanh nghiệp có được nhờ đi
vay. Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thường dùng vốn theo nghĩa rộng để chỉ
toàn bộ nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, không phân biệt nguồn huy
động.
Từ những phân tích đã nêu, thì vốn của doanh nghiệp ( theo cách hiểu
vốn tài chính) có thể coi là giá trị bằng tiền của tất cả các nguồn lực có thể
chuyển thành tiền được doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng nhằm mục đích thu
được lợi ích lớn hơn trong tương lai, không phân biệt nguồn gốc hình thành
và không phân biệt hình thái biểu hiện.
Thông thường, giá trị doanh nghiệp bao gồm cả giá trị hữu hình và giá
trị vô hình của doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế, khi đánh giá vốn của
doanh nghiệp người ta chỉ tính đến các giá trị hữu hình, chính vì vậy, vốn
cũng có thể hiểu khác với phạm trù “ giá trị doanh nghiệp”.
Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp
và biến đổi theo thời gian. Với những doanh nghiệp kinh doanh thành công,
vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng, vì sau mỗi chu kỳ kinh
doanh, vốn ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được ( lợi
nhuận dùng để tái đầu tư ). Phần bổ sung này nhiều hay ít phụ thuộc vào mức
độ sinh lợi trong kinh doanh và chính sách tăng trưởng của doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp có chiến lược phát triển dài hạn thường rất chú ý dùng
lợi nhuận để tái đầu tư, vì nếu không tăng cường tái đầu tư thì sớm hay muộn,
doanh nghiệp đó sẽ thất bại. Ngoài ra, do nhu cầu của đầu tư, của quá trình
sản xuất kinh doanh, vốn có thể được huy động bổ sung từ các nguồn khác

vốn thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn.
Hiệu quả của việc sử dụng các hình thức huy động vốn không chỉ thể hiện ở
hiệu quả đầu tư mà nguồn vốn mang lại, mà còn thể hiện ở khả năng dễ dàng
tiếp cận và huy động các nguồn vốn, ở lợi ích của chủ doanh nghiệp khi sử
dụng nguồn vốn đó, như khả năng làm tăng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp
và lợi nhuận tích luỹ.
1.2.3. Nguyên tắc số lượng và thời gian
Việc huy động vốn cần bảo đảm đáp ứng nhu cầu về số lượng và thời
gian: một ý đồ đầu tư, kinh doanh sẽ không thể thực hiện được nếu không có
đủ một lượng vốn nhất định theo nhu cầu được tính toán, do đó, khi huy động
phải bảo đảm đủ về số lượng và tính tương thích về thời gian. Thực tế, hiện
nay một số doanh nghiệp thường phải nâng mức nhu cầu ghi trong các yêu
cầu huy động vốn để có thể có đủ số vốn cần thiết khi dự án được phê chuẩn,
điều đó làm cho các dự án không còn chặt chẽ. Ngoài ra, rất nhiều trường hợp
cách tính toán thời gian cho vay của các ngân hàng thường quá cứng nhắc nên
các doanh nghiệp không bảo đảm hạn trả tiền, phải chịu lãi suất quá hạn, chi
phí cao.
1.2.4. Nguyên tắc giảm thiểu chi phí giao dịch
Huy động vốn cần bảo đảm giảm thiểu chi phí giao dịch: Một nguồn
vốn với lãi suất thấp đôi khi có thể trở nên quá đắt do chi phí liên quan đến
giao dịch về vốn quá cao. Nguyên nhân chi phí giao dịch cao có thể là: thủ tục
hành chính phức tạp, quy trình giải ngân phiền toái, chi phí tư vấn cao hoặc
đôi khi do quy mô không thích hợp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần tùy theo
lượng vốn cần vay để chọn nguồn vốn phù hợp, vì những nguồn vốn phức tạp
sẽ làm cho chi phí giao dịch trên một đồng vốn huy động cao hơn nếu lượng
vốn huy động nhỏ. Ngược lại, những dự án lớn có thể có lợi về chi phí cho
vốn nếu tìm đến những nguồn vốn có thủ tục phức tạp hơn nhưng lại phải
chịu lãi suất thấp hơn.
2. CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG PHỔ BIẾN
(1)

1- Do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp tài trợ
2- Phải trả lãi cho những khoản tiền
đã vay
2- Không trả lãi cho vốn cổ phần đã
huy động được mà sẻ chia lợi tức cổ
phần cho các chủ sở hữu nếu công ty
làm ra được lợi nhuận
3- Mức lãi suất phải trả cho các
khoản nợ vay thường theo một mức
ổn định được thỏa thuận khi vay
3- Lợi tức cổ phần chia cho các cổ
đông tuỳ thuộc vào quyết định của
Đại hội đồng cổ đông và nó thay đổi
theo mức lợi nhuận mà công ty thu
được
4- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ vay
cho chủ nợ vào một thời điểm nào đó
trong tương lai ngoại trừ trường hợp
nguồn huy động là trái phiếu tuần
hoàn
4- Doanh nghiệp không phải trả
những khoản tiền vốn đã nhận được
cho chủ sở hữu trừ khi doanh nghiệp
đóng cửa và các loại tài sản được chia
cho chủ sở hữu. Trường hợp này
không áp dụng đối với cổ phần ưu đãi
có thời hạn đáo hạn cố định
5- Công ty có thể phải thế chấp bằng
các loại tài sản như hàng hóa các loại

trong vòng một năm kể từ ngày nhận được chúng. Nguồn tài trợ này bao gồm
các khoản Tín dụng thương mại mà công ty nhận được từ các nhà cung cấp
khi mua các loại hàng hóa dưới hình thức mua chịu, mua bằng tiền quỹ
(deposits).Ngoài ra, nó còn bảo gồm tiền đặt cọc của khách hàng để mua hàng
hóa hay dịch vụ theo hợp đông và những khoản tiền vay ngắn hạn do các
ngân hàng, công ty tài chính, công ty mua nợ, công ty bảo hiểm tài trợ. Đồng
thời, nó cũng bao gồm các khoản nợ tích lũy gồm có nợ các loại tiền lương
của công nhân mà công ty chưa trả, nợ tiền thuế những chưa trả cho Chính
phủ, và lợi tức của phần theo sổ sách mà chưa phải trả cho cổ đông. Các ngồn
tài chính ngắn hạn có thể được phân thành 3 nhóm chính: nguồn tài trợ ngắn
hạn không cho vay mượn, nguồn tài trợ ngắn hạn không có đảm bảo và nguồn
tài trợ ngắn hạn có đảm bảo.
2.1.1.1. Tín dụng thương mại
Một công ty có thể dựa vào nguồn tín dụng mở rộng do mua hàng hóa
của các nhà cung cấp dựa trên “tài khoản mở” như là một nguồn tài trợ ngắn
hạn. Hình thức tín dụng này được gọi là hình thức “tín dụng thương mại” và
hoàn toàn khác so với các hình thức tín dụng ngắn hạn khác vì nó không phải
do các định chế tài chính tài trợ.
Khi công ty quyết định tài trợ này phải luôn luôn nghĩ tới hậu quả lâu
dài của tín dụng thương mại. Bởi nếu công ty trì hoãn thanh toán các hóa đơn
mua hàng, thường dẫn đến hậu quả là các nhà cung cấp sẽ không sẵn sàng tiếp
tục cung cấp hàng hóa của họ, hoặc nếu tiếp tục thì sẽ bán với giá cao hơn.
Tuy nhiên, có một yếu tố mà các công ty có dự định sử dụng thương
mại sẽ thu được nguồn lợi là phần chiết khấu (nếu có) dành cho nó. Sở dĩ có
khoản chiết khấu này là do các nhà cung cấp nhân thấy người sử dụng tín
dụng thương mại phải chịu phí tổn rất cao nên họ áp dụng chiết khấu nhằm
hấp dẫn khách mua hàng.
Thí dụ, một công ty mua một món hàng với điều kiện chiết khấu 2/10
(chiết khấu 2%, thời hạn 10 ngày), trong thời gian 30 ngày và giá trị hóa đơn
là 100$. Nếu công ty thanh toán sau thời hạn 10 ngày đó. Điều này có nghĩa

công ty là 500.000$, điều đó có nghĩa là công ty đo có thể mượn được số tiền
lên tới 500.000$ của ngân hàng. Số tiền này là tổng số tín dụng mà ngân hàng
bằng lòng tạo sẵn cho công ty. Loại tín dụng này thường được thiết lập trên
cơ sở từng năm. tại thời điểm kết thúc mỗi năm, ngân hàng sẽ xem xét lại tình
hình hoạt động tài chính của công ty, và dựa trên cơ sở xem xét này có thể gia
hạn hay điều chỉnh tổng mức tín dụng cho công ty trong năm kế tiếp. Hình
thức tín dụng thuận lợi này thường được hiểu là thấu chi ngân hành (rút vượt)
được tạo ra để cung cấp nguồn tài chính nhất định đủ bù đắp phần chênh lệch
giữa dòng lưu kim tiền thu nhập và dòng lưu kim chi phí của công ty.
Tiền lãi của hình thức cho vay này tùy thuộc vào tổng giá trị tín dụng
thấu chi của công ty đã sử dụng và công ty được phép tính khoản tiền trả lãi
này cho chi phí hàng ngày.
Nhìn chung, đây là hình thức tài trợ có chi phí thấp nhất đối với các
doanh nghiệp. Song điều bất lợi của hình thức tài trợ này là nếu công ty vay
tiền theo thỏa thuận này thì phải duy trì đảm bảo khae ăng tài chính, đề phòng
có thể phải trả lại những khoản vay này khi ngân hàng yêu cầu, tức là ngân
hàng có thể từ chối thể hiện hạn mức tín dụng đã thỏa thuận.
B. Thỏa thuận tín dụng tuần hoàn ( Revolving credit agreement)
Thỏa thuận tín dụng tuần hòan cũng là một công cụ tín dụng do ngân
hàng thượng mại sáng tạo ra để phục vụ các doanh nghiệp. Nó cũng tương tự
như hạn mức tín dụng, ngoại trừ những cam kết chính thức và mang tính pháp
lý do ngân hàng đưa ra để tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp theo tổng mức tín
dụng tối đa đã thỏa thuận.
Theo hình thức thỏa thuận này, công ty có nghĩa vụ trả cho ngân hàng
một khoản phí sử dụng nguồn ngân quỹ trên toàn bộ hạn mức tín dụng đã thỏa
thuận, đổi lại ngân hàng dành cho công tu đặc quyền sử dụng tín dụng phảo
trả có thể được thanh toán một lần, hoặc thanh toán theo tỷ lệ phần trăm của
giá trị trung bình trên phần chênh lệch tín dụng đã không sử dụng tới tùy theo
sự thương lượng giữa doanh nghiệp và ngân hàng.
C. Tín dụng thư (Letter of credit)

đáng tin cậy, bởi như vậy họ được đảm bảo sẽ thu hồi nợ đúng hạn.
Theo những điều kiện của tài trợ theo hợp đồng, khoản tiền cho vay
phải được thu hồi càng sớm càng tốt như những khoản tiền thanh toán nhận
được từ hợp đồng. Tuy nhiên, nếu trong khi đang thực hiện hợp đồng mà
công ty ký tiếp một hợp đồng khác, ngân hàng có thể xem xét và chấp thuận
cho vay một khoản tiền khác dựa trên cơ sở giao dịch thứ hai.
Hình thức tài trợ theo hợp đồng thường rất hay được sử dụng để tài trợ
cho các doanh nghiệp nhỏ, nhất là các nhà thầu.
Tỷ lệ lãi suất của các khoản cho vay không có bảo đảm thường thay đổi
tùy theo từng công ty và tùy từng ngân hàng, tùy thuộc vào vị trí tín dụng của
công ty đi vay. Một công ty có uy tín tín dụng cao sẽ phải trả lãi suất vay với
tỷ lệ thấp hơn công ty không có danh tiếng. Các ngân hàng thường tiến hành
phân loại khách hàng của họ thành nhiều loại khác nhau tùy theo mức độ rủi
ro và vị thế tín dụng của họ.
2.1.1.3. Tài trợ ngắn hạn có bảo đảm
Một công ty không dễ dàng gì nhận được nguồn tài trợ ngắn hạn của
một ngân hàng hay các nguồn khác khi không có bảo đảm, vì các hình thức
tài trợ đó đem lại rất nhiều rủi ro cho người cho vay. Tuy nhiên, nếu doanh
nghiệp cung cấp đủ sự bảo đảm đối với khoản tiền vay theo yêu cầu, thì họ sẽ
dễ dàng nhận được khoản tín dụng cần thiết từ một nhà tài trợ nào đó.
Việc bảo đảm an toàn nhằm đảm bảo thanh toán cả tiền vốn gốc và lãi
của khoản cho vay là hình thức “thế chấp” (collateral). Tài sản thế chấp để
bảo đảm cho các hình thức vay ngắn hạn thường bao gồm khỏan phải thu,
giấy hẹn nợ, các loại hàng hóa, các loại chứng khoán. Chúng có thể là các loại
cổ phần, những giấy tờ có giá có khả năng chuyển đổi nhanh, những khoản ký
quỹ đình kỳ, quyền sở hữu máy móc, thiết bị, hoặc chỉ là sự bảo lãnh của cá
nhân cá cổ đông chính của doanh nghiệp.
Những khoản vay ngắn hạn được thế chấp bằng những khoản phải thu
như các loại thương phiếu, hối phiếu được gọi là vay có thể chấp bằng khoản
phải thu. Đồng thời công ty cũng có thể đem bán lại các chứng từ này thay vì

chịu nhiều rủi ro, bởi công ty mua nợ sẽ kiểm tra tài chính của khách hàng
trước khi quyết định mua chứng từ bán hàng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì
nó là một nguồn tài trợ nên chi phí huy động vốn theo hình thức thỏa thuận
mua nợ khá cao, bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí kiểm tra tư cách tín dụng
của khách hàng hay những rủi ro không thu hồi được vay nợ.
C. Vay thế chấp bằng hàng hóa
Bên cạnh các chứng từ bán hàng, các loại hàng hóa, tài sản cũng
thường được sử dụng để thế chấp cho các khoản vay ngắn hạn,. Trị giá của
khoản vay thuộc loại thế chấp này tùy thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng
chuyển đổi nhanh, và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hóa thế chấp.
Nếu những hàng hóa, tài sản này không có rủi ro, có thể bán nhanh trên thị
trường và có giá cả ổn định thì khoản tiền vay mượn sẽ chiếm một tỷ lệ khá
cao so với giá trị ghi trên chứng từ.
Những công ty có hàng hóa, tài sản mà cần một số vốn ngắn hạn có thể
dựa vào nguồn tài trợ này. Vay thế chấp bằng hàng hóa gồm có các hình thức
sau:
* Vay ký thác.
* Vay thế chấp bằng ký hóa phiếu hàng di chuyển được.
* Vay thế chấp bằng ký hóa phiếu hàng hóa cồng kềnh.
* Để đương.
Vay ký thác bằng hàng hóa (Trust Receipt Loan)
Vay ký thác là khoản vay do ngân hàng tài trợ trên cơ sở những hàng
hóa đặc biệt đang thuộc quyền sở hữu của công ty nó còn được gọi là vay bắc
cầu ( Brirging Loan) Hay tiền cho vay trên hàng hóa. đặc trưng của vay ký
thác là nó chỉ được chấp nhận khi công ty đi vay có những hàng hóa thuộc
loại có thể dẽ dàng nhận diện và mỗi món hàng này phải có giá trị lớn trên thị
trường. Ví dụ như xe hơi các loại, máy truyền hình, và các thiết bị âm thanh
nổi.
Theo thỏa thuận cho vay ký thác, người đi vay phải ký nộ văn bản ủy
thác chỉ rõ những hàng hóa đang thuộc quyền sở hữ của họ được giao cho

hình thức cho vay này vẫn thuộc quyền quản lý của người vay tiền và ngân
hàng chỉ giữ giấy phép của chúng.
Tuy nhiên, vì lẽ khi cho vay dưới hình thức để đương không chở thành
phổ biến và ngân hàng nhận thấy rất khó giám sát lại giao dịch tín dụng này
nên họ thường tránh tài trợ với số lượng lớn. Một lý do nữa khiến cho các
ngân hàng chỉ cho vay một số lượng nhỏ đối với hình thức này là do chi phí
và sự phiền phức liên quan đến việc phát mãi tái sản thế chấp khi công ty vay
tiền không trả được nợ.
2.1.2. Nguồn tài trợ dài hạn
Nguồn ngân quỹ dài hạn là những khoản tiền có thời hạn sử dụng dài
hơn một năm kể từ ngày đầu tiên khi nhận chúng. Nguồn ngân quỹ này
thường được công ty sử dụng để tài trợ cho việc mua máy móc, thiết bị hay
xây dựng nhà xưởng và một phần nguyên vật liệu v.v ...
Công ty có thể huy động tín dụng dài hạn từ nhiều nguồng khác nhau.
Các nguồn này bao gồm : Thuê mua trả góp, tín dụng thuê mua; Vay dài hạn
định kỳ hay vay có kỳ hạn, phát hành trái phiếu và ký phiếu.
2.1.2.1. Thuê mua trả góp ( Hire - Purehase Financing)
Một doanh nghiệp cần tiền để mua máy móc, thiết bị có thể sử dụng
phương pháp huy động nguồn tín dụng trực tiếp bằng cách mua các loại tài
sản đó dưới hình thức thuê mua trả góp. Khi mua tài sản theo hình thức này,
công ty tiến hành thiết lập một hợp đồng với chủ tài sản theo hình thức này,
công ty thiết lập một hợp đồng với chủ tài sản hay một định chế tài chính.
Thoả thuận này cho phép công ty trả ngay một phần giá trị tài sản và phần còn
lại được thanh toán trong nhiều kỳ, vào những thời điểm được ấn định trước
và mỗi lần trả một phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi, nếu công ty đồng ý
tuân theo những điều khoản và điều kiện của hợp đồng thuê mua trả góp.
Trong thời gian thi hành hợp đồng, quyền sở hữu tài sản do người bán - người
cho thuê vào thời điểm hết hạn hợp đồng nếu người thuê hoàn thành tốt các
nghĩa vụ theo quy định.
Do đó, bằng hình thức này công ty có thế nhân được tài sản ngay lập

Bảng 1.3. Những đặc điểm căn bản của thoả thuận thuê mua

Người cho thuê
- Có tài sản, thiết bị sẵn sàng để cho
thuê
- Nhận tiền thuê do người thuê trả
- Được hưởng giá trị còn lại của tài
sản
Người thuê
- Trả tiền thuê cho người thuê
- Có quyền sử dụng tài sản
- Có trách nhiệm bảo quản, bảo trì tài
sản
Một số điểm thuận lợi và bất lợi thường hay được để cập nhật của giao
dịch thuê mua đối với công ty thuê tài sản.
Thuê mua thuần
Thuận lợi Bất lợi
1. Thuê mua là một hình thức tăng
vốn mà công ty có thể sử dụng dễ
dàng
1. Chi phí thuê mua thường cao hơn
chi phí vay vốn để công ty từ đầu tư,
vì công ty thuê mua thu lợi nhuận của
họ trên các giao dịch thuê mua.
2. Thuê mua cho phép công ty biến
những nguồn tiền riêng thành tài sản
có tỷ lệ hoàn vốn cao
2. Công ty phải chịu tất cả mọi rủi ro
liên quan đến hợp đồng và tài sản
thuê.

trợ bằng cách bán tài sản của họ cho một định chế tài chính để lấy tiền mặt, để
rồi sau đó thuê mua lại chính tài sản đó từ định chế tài chính vừa mua của họ.
Hình thức tăng vốn này được gọi là hình thức bán và tái thuê và nó là một
hình thức huy động vốn trung hạn rất thông dụng.
2.1.2.3. Các khoản vay có định kỳ hay có kỳ hạn.
Một doanh nghiệp có thể tăng ngân sách thông qua hình thức đi vay với
thời gian đáo hạn hơn một năm, bằng cách thế chấp một số tài sản của họ như
một hình thức bảo đảm cho khoản tiền vay. Các ngân hàng thương mại và
công ty tài chính thường chấp nhận những loại tài sản sau là tài sản thế chấp
như: quyền sử dụng đất đai, các loại máy móc, các loại bất động sản, những
khoản ký quỹ có thời hạn, ngoại tệ các loại, các loại chứng khoán và cổ phiếu
của các công ty cổ phần đại chung, khoản vay này thường được gọi là vay
định kỳ hay vay có kỳ hạn.
Đặc điểm riêng của vay định kỳ (hay vay có kỳ hạn) là trong mỗi kỳ
hạn - hàng tháng, quý hay năm - người vay phải trả cho chủ nợ một khoảng
tiền nhất đinh bao gồm một phần vốn gốc và lãi. Nó khác với hình thức thấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status