biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp ở trường thpt huyện vĩnh bảo thành phố hải phòng - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cùng với sự bùng nổ của công nghệ
thông tin thì sự phát triển toàn diện của đất nước không chỉ dựa vào tài nguyên,
vốn kỹ thuật mà yếu tố ngày càng trở nên quyết định chính là nguồn lực con
người, tiềm năng và năng lực sáng tạo của con người. Với mục tiêu đến năm
2020, cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đã chọn
Giáo dục - Đào tạo(GD-ĐT), khoa học công nghệ (KH-CN) là khâu đột phá,
phát huy yếu tố con người, coi con người “vừa là mục tiêu vừa là động lực phát
triển”. Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “ Phát triển
GD-ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH
là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã
hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”[16,tr 19].
Trong thời gian qua, ngành GD-ĐT cả nước nói chung và huyện Vĩnh
Bảo thành phố Hải Phòng nói riêng bên cạnh những thành tích đã đạt được,
vẫn còn có một số hạn chế nhất định, trong đó chất lượng và hiệu quả giáo
dục vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất
nước. Một trong những nguyên nhân của sự yếu kém đó đã được chỉ ra từ
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII là: “công tác quản lý giáo dục - đào tạo
còn những mặt yếu kém, bất cập”. Đến Hội nghị Trung ương 6 khoá IX đánh
giá: “Năng lực quản lý Nhà nước về GD còn bộc lộ nhiều yếu kém, lúng túng
trước yêu cầu mới, thiếu tầm nhìn và giải pháp chiến lược, nặng về đối phó vụ
việc… đội ngũ cán bộ quản lý GD còn nhiều bất cập, tư duy và phương thức
quản lý GD còn chịu ảnh hưởng của cơ chế hành chính bao cấp”. Để khắc
phục những hạn chế đó thì một trong những biện pháp chủ yếu là: “Đổi mới
mạnh mẽ quản lý Nhà nước về giáo dục, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục một cách toàn diện”. Vì vậy hơn lúc nào hết, những người
làm công tác quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay cần thường xuyên
1
nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, nâng cao trình độ và nghiệp vụ quản lý, cải tiến
các biện pháp quản lý, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ

giả, một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ, khoa học về công tác quản lý của Hiệu
trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thực
trạng hoạt động quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT huyện Vĩnh Bảo nhằm đề ra các biện pháp quản lý đồng bộ có
tính khả thi cao, phù hợp với sự phát triển của giáo dục trong thời kì đổi mới
là vấn đề cấp thiết sớm được nghiên cứu và làm sáng tỏ.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp
ở trường THPT huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu
trưởng các trường THPT huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng nhằm nâng
cao chất lượng quản lý và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các
trường trung học phổ thông.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý của Hiệu trưởng trường THPT đối với công tác chủ
nhiệm lớp của giáo viên trường THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường
THPT Huyện Vĩnh Bảo
4.Giả thuyết khoa học
Hoạt động quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường
THPT Huyện Vĩnh Bảo những năm qua đã được tiến hành có kế hoạch và đã
mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên việc vận dụng các thành tựu khoa học
3
hiện đại vào công tác quản lí, cũng như các biện pháp nhằm kích thích tính
tích cực và trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm còn hạn chế, chỉ đạo hoạt
động chủ nhiệm lớp chủ yếu bằng các biện pháp hành chính. Nếu Hiệu trưởng
trường THPT tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp của

7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu chúng tôi
tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống tài liệu liên quan đến công tác chủ
nhiệm lớp, quản lý trường THPT, quản lý công tác chủ nhiệm lớp của người
Hiệu trưởng.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát các hình thức biểu hiện hoạt động quản lý của Hiệu trưởng và
hoạt động chủ nhiệm lớp của đội ngũ giáo viên ở trường THPT.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng ở
trường THPT. Chúng tôi sử dụng các bảng hỏi sau:
- Bảng hỏi dành cho giáo viên. Mục đích: Tìm hiểu thực trạng của giáo viên
về lĩnh vực hoạt động chủ nhiệm lớp: Nội dung, hình thức, hiệu quả, thuận
lợi, khó khăn của hoạt động chủ nhiệm lớp. Tìm hiểu đánh giá của giáo viên
về công tác quản lý của Hiệu trưởng.
- Bảng hỏi dành cho cán bộ quản lý nhà trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu
trưởng, chủ tịch công đoàn, bí thư Đoàn trường). Mục đích: Tìm hiểu đánh
giá của các nhà quản lý về hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp. Tìm hiểu
đánh giá của cán bộ quản lí về các biện pháp quản lí hoạt động chủ nhiệm lớp
của Hiệu trưởng
7.2.3. Phương pháp khảo nghiệm
5
Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất để khẳng định tính
khoa học, cần thiết, khả thi của các biện pháp đó.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các Giáo sư, Phó Giáo sư, các chuyên gia đầu
ngành về giáo dục, các nhà quản lý … để có thêm thông tin tin cậy đảm bảo
tính khách quan cho các kết quả nghiên cứu. Đặc biệt xin ý kiến đóng góp cho
những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu hoạt động chủ

lưu trong cuộc sống nhằm giúp cho người được giáo dục tự giác, tích cực, độc
lập chuyển hoá những yêu cầu và những chuẩn mực của xã hội thành hành vi
và thói quen tương ứng. Hoạt động chủ nhiệm lớp là một trong những hình
thức tổ chức của nhà giáo dục góp phần hình thành và phát triển nhân cách
toàn diện của học sinh.
Tuy không đúng hoàn toàn nhưng hoạt động của giáo viên chủ nhiệm
gần như người trồng cây, chăm sóc, vun trồng cây giống. Người làm vườn
không thể cầm ngọn cây kéo lên mà phải tạo điều kiện cho hạt giống nảy
mầm. Người giáo viên chủ nhiệm cũng vậy. Công tác chủ nhiệm lớp được
đánh giá là một công tác hết sức quan trọng ở các trường học trong công tác
dạy học và giáo dục. Giáo viên chủ nhiệm cũng là cầu nối các mối quan hệ
giáo dục trong nhà trường để nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng giáo
dục toàn diện cho học sinh. Đó chính là quan điểm chủ đạo được thể hiện
trong nhiều công trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu tham khảo trong lĩnh
vực giáo dục học trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Có thể kể đến những
học giả nước ngoài nghiên cứu sâu về lĩnh vực này như: Macarenko,
7
Usinxki Các học giả trong nước như: PGS.TS Hà Thế Ngữ, PGS.TS Hà
Nhật Thăng, PGS.TS Nguyễn Dục Quang
Và trong lĩnh vực quản lý công tác chủ nhiệm lớp thì trên thế giới cũng
như Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục quan tâm. Các
vấn đề về lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp đã
được đề cập ở cả góc độ quản lý vĩ mô và vi mô. Nhiều hội thảo khoa học về
hoạt động chủ nhiệm lớp đã được tổ chức: Ngày 24/10/2009 tại trường Đại
học Tây Bắc; Ngày 14/10/2010 tại trường Đại học Hải Phòng ; Ngày 11-
12/8/2010 tại Đồ Sơn thành phố Hải Phòng ; Ngày 26-27/8/2010 tại thành
phố Hồ Chí Minh; Ngày 23/10/2010 Tại trường THPT Vĩnh Định - Quảng
Trị; Gần đây, tại Thừa Thiên Huế, ngày 6/11/2010 vừa qua, một cuộc hội thảo
về công tác chủ nhiệm lớp trong các trường trung học phổ thông đã thu hút sự
tham gia của hơn 100 Hiệu trưởng trung học phổ thông trên địa bàn Các hội

luôn lao động để duy trì và phát triển nòi giống. Trong khi lao động cần sự hợp
tác của một nhóm người để tạo ra thành quả cao. Do sự hợp tác này mà xã hội
xuất hiện một loại hình lao động mới mang tính đặc thù, đó là hoạt động quản
lý với chức năng tổ chức điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất
định.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây
dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó
thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người.
Theo Frederich Wiliam Taylor ( Mỹ - 1856-1915) : “Quản lý là nghệ
thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương
pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”[10,tr89].
Hoặc theo nhà lý luận quản lý quốc tế Henri Fayol (1841-1925) người
Pháp cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng tốt nhất
các nguồn lực của nó”[13,tr25]
9
Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”
là: quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý,
nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác
để đạt mục tiêu của tổ chức”[4, tr46].
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định”[26,tr28].
Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc
biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết
bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các
khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu
quả”[14,tr15]
Quan điểm của Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội khoa
học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích
hợp nhằm đạt các mục tiêu đặt ra cho hệ và từng thành tố của hệ” [21,tr 5]

Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mục tiêu và quyết định
những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Như vậy, thực chất của kế
hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hoá, với
mục đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các điều
kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
11
Mục tiêu quản lý
Môi trường quản

Chủ thể quản lý Khách thể quản lý
Nhiều lý thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên của
mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác. Họ ví kế hoạch như một chiếc
đầu tầu kéo theo các toa “tổ chức”, “chỉ đạo”, “kiểm tra”. Như vậy, người
quản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các
nguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí họ còn không rõ phải tổ chức cái
gì nữa. Không có kế hoạch, người quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người
thuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kết
quả mong đạt tới. Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác định được
tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mục
tiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ.
Trong QLGD, quản lý nhà trường, kế hoạch hoá là một chức năng quan
trọng vì trên cơ sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm
năng đã có và những khả năng sẽ có mà xác định rõ hệ thống mục tiêu, nội
dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của
nhà trường khi kết thúc các hoạt động. Kế hoạch hoá có vai trò to lớn như vậy
bởi bản thân nó có những chức năng cơ bản cụ thể sau:
- Chức năng chẩn đoán
Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và những phân tích về trạng
thái đó. Đối với nhà trường đó là trạng thái về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo
viên, về các kết quả về hoạt động sư phạm của các năm học trước đó, những

giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó
để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu.
- Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để
đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiện
hoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xét
13
việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần
thiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định.
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý
như đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi mới
cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
quản lý.
Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý đã
hình thành nên các chức năng quản lý, đó là chức năng kế hoạch hoá, tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra. Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như
minh hoạ ở sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
1.2.2. Quản lý giáo dục
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
Theo M.I.Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt
xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành
nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật
chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát
triển thể lực và tâm lý trẻ em [21, tr.124].
Kế hoạch hoá
Tổ chứcChỉ đạo
Kiểm tra
14

thiết chế chủ yếu để thực hiện quá trình sư phạm.
Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một
thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành
những công dân có ích cho tương lai. Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ
chức chặt chẽ, được cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức
năng của mình mà không một thiết chế nào có thể thay thế được. Những
nhiệm vụ của nhà trường cũng được đề cập đến từ nhiều khía cạnh khác nhau.
Việc quản lý nhà trường cũng có nhiều cách để tiếp cận. Bản chất giai cấp của
nhà trường được khẳng định bởi tính mục đích cũng như cách thức vận hành
của nó và một điều được khẳng định là: Khi nhà trường thực hiện chức năng
giáo dục trong một xã hội cụ thể, bản sắc văn hoá dân tộc in dấu sâu đậm
trong toàn bộ hoạt động của nhà trường.
Ta có thể thấy rõ các dấu hiệu phân biệt nhà trường với các thiết chế
khác là: Tính mục đích tập trung hay mục đích hẹp, mục đích được “chiết
xuất”; Tính tổ chức và tính kế hoạch cao; Tính hiệu quả giáo dục - đào tạo
cao nhờ quá trình truyền thụ có ý thức; Tính biệt lập tương đối hay tính lý
tưởng hoá các giá trị xã hội; Tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính
chất phân biệt đối xử theo phát triển tâm lý và thể chất [13].
Theo Luật Giáo dục năm 2005 thì nhà trường trung học bao gồm: tiểu
học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. “Giáo dục trung học phổ thông
được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến lớp 12. Học sinh vào lớp 10
phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là 15 tuổi” (Điều 26 - Luật
Giáo dục 2005). Trường trung học (bao gồm trung học cơ sở, trung học phổ
thông, trung học có nhiều cấp học) là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống
giáo dục quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng.
1.2.3.2. Khái niệm quản lý nhà trường trung học phổ thông
16
Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy – học,
tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần
dần tiến tới mục tiêu giáo dục [15, tr72].

quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác
định, đó là nhà trường (đơn vị giáo dục). Quản lý nhà trường là một hoạt động
được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có
những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Do đó quản lý nhà trường
cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt
động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang
có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát
triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo
dục. Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả
để đào tạo lớp trẻ thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn
đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội [13, tr20].
Tóm lại: Nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên
quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD. Thực chất
của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong
nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu, tính chất của nhà trường XHCN ở
Việt Nam.
1.2.3.3. Mục đích của quản lý nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo, đưa nhà trường từ trạng thái hiện có tiến lên một trạng thái mới có
chất lượng hơn. Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình
giáo dục có hiệu quả để đào tạo một lớp thanh niên thông minh, sáng tạo,
năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội
18
Mục đích quản lý giáo dục còn là xây dựng và phát triển mạnh mữ các
nguồn lực giáo dục, hướng các nguồn lực đó phục vụ cho việc tăng cường hệ
thống giáo dục và chất lượng giáo dục
1.2.3.4. Nguyên tắc quản lý trường học
Để đảm bảo sự thành công trong mọi hoạt động của nhà trường, công

+ Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy và học
+ Quản lý hoạt động giáo dục nhằm hoàn thiện và phát triển nhân
cách cho học sinh: quản lý các hoạt động giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất,
giáo dục môi trường…
+ Quản lý các hoạt động khác trong nhà trường
- Quản lý chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục là kết quả của quá
trình giáo dục, là sự phản ánh trình độ, năng lực của người được giáo dục so
với mục tiêu giáo dục đã đề ra, có đảm bảo được yêu cầu của xã hội đã đặt ra
hay không
- Quản lý việc thanh tra, kiểm tra trong nhà trường nhằm đánh giá các
hoạt động của các đơn vị trong nhà trường, có sự động viên, biểu dương,
khuyến khích những cái tích cực, có biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời các
sai phạm để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường
1.3. Một số vấn đề liên quan đến quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp của
Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
1.3.1. Giáo viên chủ nhiệm trung học phổ thông
1.3.1.1. Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp
Tại trường trung học phổ thông, công tác dạy học – giáo dục học sinh
được tiến hành với nội dung ngày càng toàn diện hơn, phong phú hơn, sâu sắc
hơn, hệ thống hơn và nhiều hình thức hoạt động đa dạng ở trong và ngoài
trường. Trong đó, các môn học đã được đưa vào quá trình dạy học với sự
20
phân hoá ngày càng sâu. Do vậy, toàn bộ công tác dạy học – giáo dục học
sinh không thể chỉ do một giáo viên đảm đương; trái lại phải do một tập thể
sư phạm bao gồm nhiều giáo viên phụ trách: các giáo viên bộ môn và giáo
viên chủ nhiệm.
Các giáo viên bộ môn có trách nhiệm tổ chức việc dạy và học các môn
mà mình phụ trách, và qua đó, góp phần tích cực nhất vào việc giáo dục cho
học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và những
phẩm chất đạo đức của con người lao động mới làm chủ tập thể. Song do tính

năng cơ bản của họ là chức năng quản lý – giáo dục. Người giáo viên chủ
nhiệm lớp thực hiện một số chức quản lý như sau:
- Quản lý toàn diện hoạt động của học sinh trong một lớp học
- Xây dựng tập thể và giáo dục toàn diện học sinh trong lớp
- Phối hợp và thống nhất các tác động để giáo dục học sinh lớp
mình chủ nhiệm
- Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục toàn diện của học sinh lớp
mình chủ nhiệm
1.3.2. Quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường trung
học phổ thông
1.3.2.1. Hiệu trưởng và vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của
người Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
Bộ máy quản lý trường phổ thông bao gồm: ban giám hiệu, các bộ
phận chức năng và các đoàn thể. Ban Giám hiệu gồm từ 1 đến 3 người. Hiệu
trưởng là người phụ trách cao nhất của trường, chịu trách nhiệm trước Nhà
nước, trước nhân dân và trước cấp trên trực tiếp về mọi hoạt động giáo dục
của trường.
Trách nhiệm của Hiệu trưởng được quy định tại điều 54 của Luật Giáo
dục năm 2005 như sau:
22
1. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà
trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận
2. Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được
đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học
3. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng; thủ tục bổ nhiệm,
công nhận hiệu trưởng trường Đại học do Thủ tướng chính phủ quy định; đối
với các trường ở các cấp học khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; đối
với các cơ sở dạy nghề do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước sẽ dạy nghề
quy định
Điều lệ trường trung học phổ thông ban hành theo quyết định số

Hoạt động quản lý là một chuỗi công việc kế tiếp nhau, đã được tách
riêng thành từng việc trên cơ sở chuyên môn hoá. Đó là các chức năng quản
lý. Đối với bất kỳ đối tượng quản lý nào, ở cấp độ quản lý nào cũng phải thực
hiện những chức năng quản lý chung. Do đó, chức năng quản lý là tất yếu
khách quan của quản lý giáo dục hay quản lý bất kỳ đối tượng nào. Khi quản
lý trường học hiệu trưởng phải thực hiện chức năng cơ bản đó. Hệ thống chức
năng bao gồm: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, thông tin.
Đối với việc quản lý con người, người Hiệu trưởng phải căn cứ vào kế
hoạch tuyển sinh, môi trường thực tế, căn cứ vào đội ngũ để lựa chọn đội ngũ
giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp phù hợp với điều kiện của trường sao
có hiệu quả nhất. Việc lựa chọn giáo viên làm chủ nhiệm lớp thường thông
qua phỏng vấn, trao đổi để hiểu thêm về đội ngũ và dựa vào các tiêu chí sau:
- Về tri thức: Bên cạch những kiến thức sâu rộng về chuyên môn, mà
mình phụ trách giáo viên chủ nhiệm cần có những hiểu biết đầy đủ về các
hoạt động quản lý và giáo dục học sinh, những quy định vê sự phối hợp giữa
24
nhà trường với gia đình và xã hội . Đó là những hiểu biết về quy chế, quy
định về công tác quản lý giáo dục học sinh, những hiểu biết về nội dung ,
phương pháp giáo dục học sinh và tập thể học sinh. Giáo viên chủ nhiệm cũng
cần nắm được những quy định và cách thức tiến hành các nội dung phối hợp
giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm với tổ
chức Đoàn đội, giáo viên chủ nhiệm với các tổ chức xã hội, hội phụ huynh và
gia đình học sinh. Đặc biệt giáo viên chủ nhiệm cần phải có những tri thức về
công tác giáo dục tập thể học sinh, giáo dục học sinh cá biệt, học sinh chậm
tiến về học tập, đạo đức; những tri thức về đặc điểm tâm sinh lý học sinh, về
nội dung ,phương pháp giáo dục các em…Những hiểu biết này là cơ sở hình
thành kĩ năng quản lý giáo dục học sinh, giúp giáo viên chủ nhiệm lớp làm
tốt vai trò và trách nhiệm của mình.
Để có được hiểu biết sâu rộng về nghề nghiệp, về đối tượng và phương
pháp giáo dục, giáo viên chủ nhiệm phải không ngừng cố gắng vươn lên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status